1
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA LỊCH SỬ ĐẢNG
-----------
TẬP BÀI GIẢNG
Học phần I, Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
SỰ RA ĐỜI
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
(1920-1930)
Cơ quan chủ trì: Khoa lịch sử Đảng
Chủ nhiệm đề tài :
Hà Nội 4-2007
2
KHOA LỊCH SỬ ĐẢNG
-------CHỦ BIÊN
TS. PHẠM XUÂN MỸ
TẬP BÀI GIẢNG
Học phần I, Chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
SỰ RA ĐỜI
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
(1920-1930)
Triết học, Kinh tế Chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Ngoài phần mở đầu, cuốn sách này có 11 chương, trang bị một cách có hệ
thống cơ bản về cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp cho sinh
viên hiểu biết một cách hệ thống và tương đối toàn diện về hoàn cảnh lịch sử, quá
trình hoạt động tích cực của Nguyễn Ái Quốc; quy luật sự ra đời và sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân Việt Nam. Qua đó nhận rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là đội
tiên phong, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và của cả dân tộc Việt Nam.
Để khuyến khích sinh viên đọc trực tiếp vào tác phẩm kinh điển và Văn kiện
Đảng, một số câu trích hoặc tư liệu… chúng tôi chỉ nêu tư tưởng chủ yếu mà không
trích nguyên văn và chú dẫn nguồn.
Mặc dù tập thể tác giả đã có cố gắng nhất định nhưng không tránh khỏi
những hạn chế. Chúng tôi rất mong nhận được những đóng góp của bạn đọc để
giúp cho Tập bài giảng được hoàn thiện hơn.
TẬP THỂ TÁC GIẢ
4
MỤC LỤC
5
CHƯƠNG I
QUY LUẬT CHUNG VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
Đảng là một tổ chức chính trị, xã hội tự nguyện, liên minh của những người
có cùng tư tưởng, theo đuổi những mục đích chính trị nhất định. Đảng gồm một bộ
phận ích cực nhất và có tổ chức của một giai cấp, làm công cụ đấu tranh cho lợi ích
của giai cấp mình. Đảng sản phẩm lịch sử tự nhiên của cuộc đấu tranh giai cấp
trong xã hội có giai cấp. Cơ sở của Đảng chính trị chính là lợi ích của giai cấp.
Đảng chính trị hoạt động bằng giáo dục thuyết phục, truyền bá các quan điểm tư
Các cuộc khởi nghĩa tự phát quy mô lớn của công nhân dệt thành phố Ly ông
(Pháp, 1831-1834), phong trào Hiến chương của công nhân Anh (1838 - 1848),
cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt thành phố Xi - lê - di ở Đức (1844)... đánh dấu
mốc mở đầu thời kỳ đấu tranh có tính chất độc lập của giai cấp công nhân. Thất bại
2
3
4
C.Mác và Ph.ăng ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.4, tr.610
C.Mác và Ph.ăng ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.4, tr. 646
C.Mác và Ph.ăng ghen: Toàn tập, Sđd, t.18, tr.203.
7
của các cuộc đấu tranh ấy cấp thiết đặt ra những yêu cầu giải đáp về mặt lý luận.
Chính những điều kiện kinh tế - xã hội tư bản và sự phát triển của phong trào công
nhân là “mảnh đất hiện thực” cho sự hình thành lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học.
Được lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học soi sáng, giai cấp công nhân thấy rõ
bản chất của chủ nghĩa tư bản và sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Họ ý thức
được việc cần phải tự tổ chức ra chính đảng độc lập của mình để lãnh đạo cuộc đấu
tranh đi đến thắng lợi. Có học thuyết lý luận soi sáng, có chính đảng lãnh đạo, giai
cấp công nhân từ đó mới chuyển thành tự giác, đi tiên phong trong cuộc đấu tranh
chống chế độ áp bức và bóc lột tư bản.
Sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào công nhân là một
quá trình đấu tranh tư tưởng gay gắt chống chủ nghĩa cơ hội, vô chính phủ và các
biểu hiện lệch lạc của mình. Vì vậy, ngay từ khi ra đời, Đảng của giai cấp công
nhân, đã mang bản chất cách mạng và khoa học.
3. Về tính chất của đảng cách mạng của giai cấp công nhân
Mác và Ăngghen coi Đảng Cộng sản là sự thống nhất tất cả những người gắn
sản đã ghi rõ: "Mục đích của Đồng minh là đánh đổ giai cấp tư sản, xây dựng nền
thống trị của giai cấp vô sản, tiêu diệt xã hội tư sản cũ xây dựng trên mâu thuẫn đối
kháng giai cấp và thiết lập một xã hội mới, không có giai cấp, không có chế độ tư
hữu”.
4. Về cách tổ chức xây dựng Đảng cộng sản
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen đã nêu rõ mục
đích, nhiệm vụ của Đảng, những cơ sở lý luận chung của xây dựng Đảng về chính
trị, tư tưởng. Xây dựng Đảng về mặt tư tưởng là theo lý luận chủ nghĩa xã hội khoa
học và đấu tranh chống quan điểm sai trái của giai cấp tư sản, phong kiến, tiểu tư
sản, tôn giáo và những tư tưởng phản động khác.
Xây dựng Đảng về tổ chức là theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Hoạt động
thực tiễn của các tổ chức Đồng minh những người cộng sản và Quốc tế I (18631876) đã nói lên điều đó. "Quốc tế I không thể bị lãng quên được, nó sống mãi
trong lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm tự giải phóng. Nó đã xây nền
đắp móng cho lâu đài cộng hoà xã hội chủ nghĩa thế giới mà ngày nay chúng ta
đương được vinh hạnh xây dựng" 6 . Sau khi Các Mác mất, năm 1889, Ph. Ăngghen
thành lập Quốc tế II, mở đầu thời kỳ tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác, làm cho
phong trào công nhân quốc tế phát triển khắp các nước trên thế giới.
Mác và Ăngghen đã nêu rõ mọi thành viên của Đồng minh đều tham gia vào
việc bầu cử các cơ quan lãnh đạo, dự thảo và thông qua cương lĩnh và điều lệ. Các
cơ quan cấp dưới phải phục tùng các cơ quan cấp trên, thiểu số phục tùng đa số.
Việc phát huy dân chủ được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với việc tôn trọng
kỷ luật của Đảng, một kỷ luật bắt buộc đối với tất cả mọi đảng viên. Việc chấp
hành đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ là điều kiện vô cùng quan trọng để đảm
bảo Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình.
Để củng cố sự thống nhất các đội ngũ của các tổ chức vô sản, Mác và
Ăngghen đã luôn kiên quyết chống lại bọn cơ hội, xét lại và những bọn phản xã hội
chủ nghĩa và cơ hội khác. Hai ông cho rằng, phong trào vô sản nhất định phải trải
qua những bước phát triển khác nhau, trong mỗi bước sẽ có một số người dừng lại.
Vì vậy, củng cố hàng ngũ của Đảng, đuổi ra khỏi Đảng những phần tử thù địch và
cơ hội, duy trì kỷ luật của Đảng là quy luật phát triển của Đảng.
đảng kiểu mới như vậy, Lênin đã có quá trình chuẩn bị kỹ về công tác tư tưởng- lý
luận. Đảng xã hội dân chủ Nga, do Người sáng lập đã ra đời năm 1903, chính là
đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Nga.
Người coi sức mạnh của giai cấp công nhân đó là tổ chức. Không có tổ
chức, giai cấp công nhân sẽ không là cái gì hết. Giai cấp công nhân trở thành và tất
nhiên sẽ trở thành lực lượng vô địch là vì một lý do duy nhất là sự thống nhất tư
tưởng dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác và được củng cố bằng sự thống nhất
của tổ chức. Không có một tổ chức vững vàng gồm những người lãnh đạo để bảo
đảm cho sự liên tục công tác thì không thể có phong trào cách mạng vững chắc
được
2. Những nguyên tắc tổ chức Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân
V.I. Lênin đã hoàn chỉnh lý luận xây dựng Đảng đảng kiểu mới của giai cấp
công nhân. Trong tác phẩm Một bước tiến hai bước lùi (1904), Lênin đã nêu những
nguyên tắc về tổ chức của một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân:
a- Đảng Cộng sản là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có tổ
chức chặt chẽ nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân.
Đảng là đội tiên phong chính trị và là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ, có giác
ngộ cách mạng nhất của giai cấp, Đảng là người đưa yếu tố tự giác nhất vào phong
trào công nhân, là người định hướng chính trị và là người giáo dục, động viên, tổ
chức cho quần chúng hành động cách mạng. Không được lẫn lộn Đảng, đội tiên
phong của giai cấp công nhân với toàn bộ giai cấp.
Đảng tiên phong thể hiện trước hết trên lĩnh vực lý luận. Chỉ đảng nào được
một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò người chiến
sĩ tiên phong. Tư cách người đảng viên phải là giác ngộ lý tưởng xã hội chủ nghĩa,
có trình độ lý luận, nắm được thực tiễn phong trào cách mạng của quần chúng.
8
V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, T.6, tr.30-32.
nhân, là quy luật trưởng thành của Đảng. Đội ngũ của Đảng gồm những đại biểu ưu
tú cùng lý tưởng, mục đích và lợi ích của giai cấp công nhân tự nguyện xin gia
nhập Đảng. Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, Đảng phải có một sự thống nhất ý
chí hết sức chặt chẽ. Đó là nguồn gốc sức mạnh chủ yếu, vô địch và vô tận của
Đảng, là điều kiện để đoàn kết giai cấp và xã hội. Nếu để xảy ra chia rẽ trong Đảng
9
10
V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.33, tr.33.
V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd. t.31, tr.453.
12
thì "không phải chỉ là nguy hiểm mà còn là cực kỳ nguy hiểm, nhất là nếu trong
nước đó, giai cấp vô sản lại chỉ là thiểu số nhỏ bé trong dân cư"11
Để bảo đảm sự thống nhất và phát triển, Đảng cần thường xuyên và nghiêm
chỉnh tự phê bình và phê bình. “Thái độ của một chính đảng trước những sai lầm
của mình là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất và chắc chắn nhất để xem
xét đảng ấy có nghiêm túc không và có thực sự làm tròn nghĩa vụ của mình đối với
giai cấp mình và đối với quần chúng lao động không. Công khai thừa nhận sai lầm,
tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm, nghiên cứu cẩn
thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy, đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng
nghiêm túc, đó là đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình, đó là giáo dục và huấn
luyện giai cấp, rồi đến quần chúng..."12.
e. Đảng luôn luôn liên hệ chặt chẽ và gắn bó với quần chúng
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đảng đấu tranh vì sự nghiệp giải
phóng quần chúng khỏi ách áp bức và bóc lột. Quần chúng cần Đảng với tư cách là
người lãnh đạo họ trong cuộc đấu tranh ấy nên họ đồng tình và ủng hộ. Đảng tổ
chức và phát huy được tính sáng tạo cách mạng của quần chúng. Những người
cộng sản chỉ như những giọt nước trong đại dương nhân dân mênh mông. Riêng
chương của công nhân Anh (1838- 1848), cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt thành
phố Xilêdi ở Đức (1844)... Các cuộc khởi nghĩa đó hoàn toàn tự phát, bộc lộ nhiều
hạn chế lớn và tất cả đều thất bại. Những điều kiện kinh tế - xã hội trong lòng xã
hội tư bản, sự phát triển của phong trào công nhân là “mảnh đất hiện thực” cho sự
hình thành lý luận của Mác - Ăngghen.
Đầu thế kỷ XIX ở châu Âu đã xuất hiện những đỉnh cao tư tưởng và lý luận
của thế giới. Các nhà khoa học ở Đức, Anh, Pháp… đã kế thừa và phát triển những
tinh hoa văn hoá nhân loại, hình thành những học thuyết. Tiêu biểu là triết học cổ
điển Đức với các thuyết biện chứng của Hêghen, chủ nghĩa duy vật của Phơbách;
các học thuyết kinh tế Anh với các đại biểu ưu tú như Ađam Xmít, Đavít Ricácđô;
tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp như H.C Xanhximông (1760 -1825),
C.Phuri-e (1772-1837), R.ÔOen (1771-1859)...
Thế kỷ XIX ra đời hàng loạt các học thuyết khoa học mới. Tiêu biểu là học
thuyết về sự tiến hoá các loài của Đácuyn; định luật bảo toàn và chuyển hoá năng
lượng của Lômôlôxốp; học thuyết về sự phát triển của tế bào của Svác và Slayđen;
các học thuyết về vũ trụ và các thành tựu khoa học khác về hoá học, cơ học...
C. Mác và Ph. Ăngghen là những con người có kiến thức thiên tài trên nhiều
lĩnh vực. Đặc biệt các ông là những người hoạt động và hiểu biết sâu sắc phong
trào công nhân và nhân dân lao động. Họ đều có điểm giống nhau là tìm thấy sức
mạnh to lớn của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động. Nắm bắt các
15
thành tựu khoa học, kế thừa và phát triển đỉnh cao tư tưởng lý luận, hai ông đã viết
nhiều tác phẩm "Lời tựa cuốn phê phán triết học pháp luật của Hêghen", "Bản thảo
kinh tế-triết học1844",” Tình cảnh giai cấp công nhân Anh", "Gia đình thần thánh",
“Hệ tư tưởng Đức”, “Sự khốn cùng của triết học”…
Từ 1836, tổ chức Đồng minh những người chính nghĩa gồm những người vô
sản tiên tiến thuộc nhiều dân tộc ra đời nhưng còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa
không tưởng. Hè năm 1847, Đại hội I của Đồng minh họp ở Luân Đôn.
16
đặc điểm nổi bật là đối kháng giai cấp tập trung vào hai giai cấp lớn tư sản và vô
sản và đấu tranh giai cấp trở nên vô cùng gay gắt. Nguồn gốc ra đời, quá trình phát
triển, thái độ, xu hướng của các giai cấp quy định nội dung, phương hướng của
cuộc đấu tranh giai cấp. Giai cấp tư sản ra đời là sản phẩm và phù hợp với tiến hoá
của lịch sử. Những nông nô thời trung đại đã sinh ra những thị dân của các thành
thị đầu tiên; từ đó sinh ra những phần tử đầu tiên của giai cấp tư sản. Giai cấp tư
sản tiến hành cách mạng tư sản, xoá bỏ những quan hệ phong kiến kìm hãm nó và
thay bằng những quan hệ tư sản. Giai cấp tư sản là giai cấp tiến bộ và cách mạng.
Trong quá trình chưa đầy một thế kỷ, nó đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều
hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại.
Tuy thế, vai trò tiến bộ, cách mạng của giai cấp tư sản bị hạn chế vì nó là
giai cấp bóc lột. Tính chất phản động của nó cũng dần dần bộc lộ công khai, những
tệ nạn xã hội do nó gây ra ngày càng phổ biến. Nó giống như một tay phù thuỷ
không còn đủ sức trị những âm binh mà y đã triệu lên. Những lực lượng sản xuất
mà xã hội sẵn có đã tạo ra những nhân tố phủ định bản thân giai cấp tư sản. Giai
cấp tư sản trở thành một giai cấp lỗi thời bảo thủ giống như giai cấp địa chủ phong
kiến mà trước đây nó đã lật đổ. Một giai cấp tiên tiến, cách mạng mới xuất hiện là
giai cấp vô sản tất yếu sẽ thay thế địa vị lịch sử của nó. Giai cấp vô sản là con đẻ
của chính nền đại công nghiệp- người đại biểu của lực lượng sản xuất hiện đại.
Địa vị của người lao động làm thuê bị áp bức, bóc lột nhất trong xã hội tư
bản, tạo nên cho giai cấp vô sản tinh thần triệt để cách mạng. Để thiết lập quyền
thống trị, giai cấp tư sản đã từng kêu gọi, lôi cuốn giai cấp vô sản tham gia và buộc
phải cung cấp cho giai cáp vô sản những tri thức của mình. Những tri thức đó trong
tay giai cấp vô sản, giờ đây trở thành vũ khí chống lại chính giai cấp tư sản. Giai
cấp tư sản không những đã rèn vũ khí để giết nó, nó còn sinh ra những người sử
dụng vũ khí ấy đó là giai cấp vô sản. Mâu thuẫn trong xã hội tư bản chỉ có một
phương thức duy nhát để giải quyết là cách mạng xã hội chủ nghĩa, thủ tiêu chế độ
biện pháp phù hợp, luôn quan tâm đáp ứng lợi ích trước mắt và lâu dài của họ, đưa
ra những khẩu hiệu phù hợp, nâng dần giác ngộ của họ từ thấp đến cao.
2. Chương II - Những người vô sản và những người cộng sản
Trong chương này, Mác và Ăngghen bác bỏ những lời vu khống, xuyên tạc
của giai cấp tư sản đối với những người cộng sản, phân tích mối quan hệ giữa giai
cấp vô sản và Đảng cộng sản; vạch rõ tính chất, nhiệm vụ trước mắt, mục đích cuối
cùng của Đảng cộng sản, những phương hướng và giải pháp để thực hiện những
nhiệm vụ và mục đích ấy.
Mác và Ăngghen chỉ ra rằng mục đích và lợi ích của giai cấp vô sản và của
Đảng cộng sản là thống nhất. Về cả lý luận và thực tiễn, Đảng cộng sản luôn luôn
đại biểu cho lợi ích của giai cấp vô sản, cũng như của toàn thể nhân dân lao động.
Hơn nữa, Đảng cộng sản đại biểu cho lợi ích chung của toàn bộ phong trào cộng
sản, của toàn bộ giai cấp vô sản quốc tế không phân biệt nghề nghiệp, địa phương,
dân tộc. Vậy Đảng cộng sản không những mang tính giai cấp của giai cấp vô sản
mà còn mang tính quốc tế vô sản.
Điều đó không có nghĩa là Đảng cộng sản và giai cấp vô sản là một. Sự khác
nhau giữa Đảng cộng sản và giai cấp vô sản là "Về mặt thực tiễn những người cộng
sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các Đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ
phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên, về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại
18
của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình là kết quả chung
của phong trào vô sản". Trong nhận thức cũng như trong thực tiễn, tách Đảng cộng
sản ra khỏi giai cấp vô sản và ngược lại hoà lẫn Đảng cộng sản và giai cấp vô sản
đều là sai lầm, đều có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại của Đảng cộng sản.
Mục đích cuối cùng của những người cộng sản là xây dựng thành công chủ
nghĩa cộng sản. Để đi tới mục đích đó phải trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn giai
cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản thành giai cấp thống trị giành lấy
dân chủ, giành chính quyền bằng cách dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản. Giai
19
vô sản sẽ sống và xác lập vai trò lãnh đạo đối với dân tộc, lấy được sức mạnh của
dân tộc để chiến thắng kẻ thù nước mình, góp phần thắng kẻ thù trên thế giới.
Xã hội cộng sản được Mác và Ăngghen phác hoạ: Giai cấp vô sản thông qua
cách mạng trở thành giai cấp thống trị; với tư cách là giai cấp thống trị, dùng bạo
lực xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, đồng thời tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại
của sự đối kháng giai cấp, tiêu diệt các giai cấp nói chung và tiêu diệt cả sự thống
trị của chính nó với tư cách là một giai cấp. Thay cho xã hội cũ sẽ xuất hiện một
liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người. Xã hội cộng sản tương lai mà loài người nhất định sẽ đi
tới sẽ không còn giai cấp và đấu tranh giai cấp, do đó, nhà nước với cái nghĩa là
một bộ máy thống trị giai cấp cũng sẽ không còn nữa. Một hình thức liên hiệp của
những người lao động sẽ xuất hiện, trong đó con người có điều kiện để phát triển
toàn diện, lợi ích cá nhân và lợi ích toàn xã hội sẽ được kết hợp hài hoà.
3. Chương III- Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Trong chương này Mác và Ăngghen phê phán các trào lưu tư tưởng phản
động và bảo thủ, nhằm làm rõ sự khác biệt căn bản và khẳng định quan điểm của
những người cộng sản.
Tính chất phản động của các trào lưu tư tưởng chủ nghĩa xã hội phong kiến,
tiểu tư sản là ở chỗ nó lên án giai cấp tư sản đã để cho giai cấp vô sản phát triển,
muốn duy trì chế độ sản xuất và chế độ sở hữu nhỏ và phủ nhận đấu tranh giai cấp
vì lợi ích của giai cấp vô sản, phản đối cuộc vận động cho tự do, bình đẳng tư sản
đang chín muồi ở Đức. Khi đó Mác và Ăngghen chưa coi chủ nghĩa xã hội tư sản là
trào lưu tư tưởng phản động mà coi nó như một thứ văn học xã hội chủ nghĩa bảo
thủ về lịch sử, muốn duy trì, bào chữa cho chế độ tư bản chứ không nhằm kéo lùi
lịch sử trở lại như các trào lưu tư tưởng phong kiến, tiểu tư sản.
Mác và Ăngghen đã nêu, khi đấu tranh giai cấp càng trở nên gay gắt thì cuộc
đấu tranh tư tưởng chống trào lưu tư tưởng phản động, bảo thủ càng cần thiết. Quan
điểm của những người cộng sản tuyệt nhiên không dựa trên những ý niệm, những
nguyên lý do một nhà cải cách thế giới nào phát minh hay phát hiện ra. Nó chỉ là
có tổ chức và đang chiến đấu trong thế giới văn minh" 13
Gần 160 năm qua, những nguyên lý của Tuyên ngôn của đảng cộng sản vẫn
còn giá trị và đòi hỏi vận dụng sáng tạo. Giai cấp tư sản đã từng đóng vai trò là giai
cấp tiến bộ, cách mạng, giờ đây, sự thống trị của họ không còn thích hợp. Chủ
nghĩa tư bản có những thành tựu đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng
bản chất bóc lột, mâu thuẫn nội tại của nó căn bản không hề mất đi.
Nhận thức về giai cấp công nhân hiện nay có nhiều nét mới. Năm 2000 tổng
số công nhân thế giới đã lên tới 800 triệu (1885, mới có 10 triệu). Tổng số công
nhân qua một thế kỷ tăng 80 lần (dân số thế giới tăng 3 lần). Cơ cấu giai cấp công
nhân cũng có sự biến đổi. Công nhân các ngành nghề mới, hiện đại, sự lành nghề,
có trình độ học vấn, khoa học kỹ thuật tăng nhanh. Công nhân đã có sở hữu tài sản
nhất định, mức sống, trí tuệ cao hơn. Trong các nước xã hội chủ nghĩa họ là giai
cấp nắm quyền, là chủ nước nhà. Trong các nước tư bản, công nhân có cổ phần,
được tham gia quản lý. Về tiêu chí nghề nghiệp, công nhân luôn là người lao động
không có tư liệu sản xuất chủ yếu. Họ vẫn là người làm thuê, bán sức lao động. Tỷ
số bị bóc lột giá trị thặng dư và lao động vẫn ngày càng tăng. Đại đa số công nhân
(9/10) trong các nước tư bản vẫn là đối lập của tư hữu tư bản xã hội chủ nghĩa và
13
Lênin, Toàn tập. NXB Tiến bộ, Mátxcơva. 1981, tập 2. tr. 10.
21
tiếp tục bị bần cùng hoá tương đối và tuyệt đối. Giai cấp công nhân vẫn là chủ thể
chân chính, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến nhất nhất.
Từ những bài học thành công và thất bại gần thế kỷ qua, từ khát vọng và sự
thức tỉnh của các dân tộc, chủ nghĩa xã hội trên thế giới có điều kiện và khả năng
tạo ra bước phát triển mới. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định
sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Tuyên ngôn đòi hỏi vận dụng sáng tạo những nguyên lý để giải quyết những
22
Từ thế kỷ XVIII đến khi cuối thế kỷ XIX là thời kỳ xác lập và phát triển
tương đối hoà bình của chủ nghĩa tư bản. Đầu thế kỷ XX, các nước tư bản ở Tây
Âu, Mỹ và Nhật bản chuyển dần sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
Từ khi Tuyên ngôn Đảng cộng sản ra đời (2-1848) đến Công xã Pari (1871)
là thời kỳ chủ nghĩa Mác truyền bá sâu rộng vào phong trào công nhân các nước.
Sau khi Quốc tế thứ nhất (1864-1876) giải tán, Ph.Ăngghen đã đứng ra thành lập
Quốc tế II (1889). Phong trào công nhân phát triển theo bề rộng, các Đảng công
nhân, xã hội dân chủ ở nhiều nước lần lượt ra đời và thừa nhận chủ nghĩa Mác là vũ
khí tư tưởng và nền tảng lý luận của mình. Quốc tế II, sau khi Ph. Ăngghen mất
(1895) ngày càng sa vào chủ nghĩa cơ hội, từ bỏ đấu tranh chính trị và chuyên
chính vô sản ( điển hình là lãnh tụ Bestanh, Cauxky...).
Đến những năm 60 của thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản ở nước Nga mới bắt
đầu phát triển, chậm hơn các nước khác ở Tây Âu. Dưới chế độ Nga Hoàng, nông
nghiệp rất lạc hậu, những tàn tích phong kiến còn rất nặng nề. Nga hoàng thủ tiêu
tất cả mọi quyền tự do chính trị và dân chủ của mọi người dân. Đến đầu thế kỷ XX,
trung tâm cách mạng thế giới chuyển sang nước Nga, nơi chứa đựng tất cả các mâu
thuẫn cơ bản của thời đại và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn ấy.
Giai cấp công nhân Nga phát triển rất nhanh đuổi kịp và vượt Anh, Mỹ.
Trong 25 năm (1865 - 1890) số công nhân Nga ở các nhà máy và đường xe lửa tăng
từ 7 vạn đến 1 triệu 50 vạn người. Các cuộc đấu tranh tự phát phá máy, phá cửa
kính, bãi công đang lan rộng. Các tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân Nga đã
xuất hiện. Năm 1875 tại Ô-đéc-xa Hội liên hiệp công nhân miền Nam Nga và năm
1878 tại Pê-téc-bua Hội liên hiệp công nhân Nga Miền Bắc được thành lập nhưng
bị Nga Hoàng tập trung đàn áp nên sớm bị tan vỡ. Dù vậy phong trào bãi công của
công nhân vẫn tiếp tục tăng nhanh. Trong 5 năm 1881-1886 đã có 48 cuộc bãi công
thu hút 8 vạn công nhân tham gia. Cùng thời gian này những sách báo mác xít từ
nước ngoài đã được bí mật đưa vào Nga.
Các tổ chức mác xít Nga đầu tiên đã được thành lập. Nhóm Mác xít Nga đầu
tiên ra đời năm 1883 là nhóm Giải phóng lao động do Pơlêkhanốp tổ chức ở
Cuốn sách được Lênin viết xong tháng giêng năm 1902, viết lời tựa tháng Hai và
ngày 10 tháng 3 tờ Tia lửa số 18 ra thông báo là cuốn sách đã xuất bản.
Cuốn Làm gì? được V.I. Lênin cho tái bản thành tập Trong12 năm (xuất bản
1907). Lần này, Lê-nin chỉnh lý, rút ngắn, bớt phần luận chiến. Tác phẩm "Làm
gì?" mà ta nghiên cứu là bản xuất bản năm 1902, có đối chiếu bản 1907.
II. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA TÁC PHẨM "LÀM GÌ ?"
1- Tính tự phát và tính tự giác trong phong trào công nhân
Giai cấp công nhân là con đẻ của nền đại công nghiệp, nó ra đời và lớn lên
cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp. Tính tự phát của phong trào công
nhân là yếu tố chủ quan, yếu tố nhận thức lý luận, công tác tổ chức và tư tưởng là
yếu tố khách quan của phong trào.
Phái Kinh tế phê phán những người dân chủ-xã hội theo Lê-nin là đánh giá
thấp ý nghĩa của yếu tố khách quan hoặc yếu tố tự phát. Họ viện câu nói của Mác là
một bước tiến của thực tiễn còn hơn một tá cương lĩnh để nhấn mạnh, với công
nhân làm thêm một đồng rúp còn hơn thân thiết và quý hơn là theo đuổi mục đích
chính trị. Đây là quan điểm duy vật kinh tế, phủ nhận vai trò tích cực tác động trở
lại của ý thức và hoạt động tự giác của con người. Trong điều kiện bị Nga Hoàng
đàn áp dã man, luận điểm trên rất nguy hiểm, ru ngủ công nhân vào nhiệm vụ
trước mắt mà quên mất nhiệm vụ lâu dài. Họ sùng bái tính tự phát của phong trào
công nhân, thực chất là họ theo đuổi và ủng hộ tư tưởng cơ hội của Bextanh
"Phong trào là tất cả, mục đích cuối cùng chẳng là cái gì cả".
V.I. Lê-nin đã chỉ rõ sùng bái tính tự phát mà hạ thấp yếu tố chủ quan, vai
trò của lý luận là sai lầm cơ hội chủ nghĩa. Kinh tế không phải là yếu tố duy nhất và
thường xuyên quyết định. Chính trị, tư tưởng, ý thức có vai trò tác động trở lại rất
quan trọng. Phủ nhận vai trò tác động trở lại của ý thức là rơi vào chủ nghĩa duy vật
tầm thường. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chế độ bóc lột tư bản chủ
nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản không thể tự phát
theo xu thế khách quan mà phải hoạt động, tự mình trở thành lực lượng chính trị
độc lập, có đường lối lãnh đạo của đội tiên phong của mình là Đảng cộng sản .
học khi đã thâm nhập vào quần chúng thì sẽ biến thành sức mạnh vật chất. V.I. Lênin đã chỉ rõ, những người dân chủ - xã hội Nga đang đứng trước nhiệm vụ hết sức
nặng nề. Một cuộc cách mạng lật đổ Nga Hoàng đang đến gần. Người đã xác định
rõ chỉ có giai cấp vô sản Nga là người đầu tiên và phong trào cộng sản công nhân
quôc tế đấu tranh lật đổ Nga Hoàng, thế lực phản động nhất ở Châu Âu và châu Á
lúc đó.
Nhưng để làm tròn sứ mệnh cao cả ấy thì giai cấp vô sản Nga phải có đảng
tiên phong được vũ trang lý luận cách mạng và khoa học là chủ nghĩa Mác. Không
có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng. Không bao giờ