đề cương nội dung sách giáo trình an toàn và
bảo hộ lao động trong ngành xây dựng
Lời nói đầu
Phần thứ nhất : các văn bản chủ yếu của nhà nước và
ngành xây dựng về bảo hộ lao động
Chương I . Những vấn đề chung về bảo hộ lao động
1. Khái niệm, mục đích , ý nghĩa về bảo hộ lao động
2. Nội dung bảo hộ lao động
3. Hệ thống pháp luật và các qui định về bảo hộ lao động
4. Nội dung kế hoạch bảo hộ lao động
5. Công tác thanh tra, kiểm tra bảo hộ lao động.
Chương II . Hệ thống tổ chức và quản lý công tác bảo hộ
lao động
1. Hệ thống tổ chức về bảo hộ lao động
2. Trách nhiệm các cấp các ngành và tổ chức Công đoàn trong công
tác bảo hộ lao động
3. Công tác bảo hộ lao động trong các doanh nghiệp
1
Phần thứ hai : An toàn lao động trong ngành xây
dựng
Chương I . Điều kiện lao động và tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp trong ngành Xây dựng
1. Điều kiện lao động trong ngành xây dựng
Đặc điểm của sản phẩm xây dựng
giao thông.
Các yếu tố địa chất công trình, địa chất thuỷ văn khu vực xây dựng
ảnh hưởng nhiều đến sản xuất xây dựng do sản phẩm xây dựng gắn liền với
mặt đất, mặt nước. Việc sử lý nền móng, chống các sự cố lún, sụt, nước
3
ngầm, cát chảy là những khó khăn cần được dự liệu trước trong quá trình thi
công và có biện pháp để ngăn ngừa.
Ngoài ra còn những yếu tố con người và xã hội gây ra các tác động
tiêu cực do đặc điểm sản phẩm xây dựng chiếm không gian lớn, chiếm diện
rộng gây ra: sự bảo vệ chống phá hoại, chống mất cắp tài sản, chống vi phạm
địa giới xây dựng, chống phá hoại vô hình ...
Thời gian chế tạo sản phẩm xây dựng dài:
So với sản xuất nhiều sản phẩm công nghiệp khác, thời gian chế tạo
sản phẩm xây dựng dài nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Thời gian chế
tạo dài qua nhiều mùa khí hậu nên những yếu tố thiên nhiên tác động mạnh
mẽ đến quá trình sản xuất xây dựng. Do đặc điểm của mỗi mùa khí hậu, khi
sản xuất xây dựng cần tính toán, dự liệu để tránh những bị động khi có tình
huống bất thường do khí hậu sinh ra.
Khi thời gian chế tạo dài còn những ảnh hưởng của con người, của xã
hội tác động như những biến động do thay đổi tổ chức, thay đổi chủ trương
sản xuất, đầu tư, xây dựng công trình. Những tác động tiêu cực đến quá trình
tạo sản phẩm xây dựng cũng như dễ gây ra tai nạn lao động do thời gian thi
công dài là điều tất nhiên.
Thời gian chế tạo dài làm tăng chi phí bảo quản vật tư, bảo quản công
trình. Ngoài ra, vật tư, bán thành phẩm còn bị giảm thấp chất lượng do phải
bảo quản lâu. Thời gian thi công dài làm cho người lao động sản xuất phải
qua nhiều thời kỳ thay đổi thời tiết trong một năm. Các yếu tố khí tượng, khí
hậu tác động làm cho sức khỏe người lao động bị ảnh hưởng.
hai xe tải đi ngược chiều nhau va nhau, xe bị quay húc ngang thân xe thày
đang nép mép đường làm xe thày bẹp rúm. Ngẫu nhiên đã phá chuyến đi của
thày. Hầu hết các nghiên cứu khả thi của các dự án khách sạn tại nhiều thành
5
phố lớn nước ta đã làm mấy năm qua đều không tính toán đến cuộc khủng
hoảng tài chính châu á bắt đầu từ 1997 dẫn đến tính trạng khách khứa vắng
teo. Báo chí nêu một số công trình đang xây dựng rồi ngưng để gạch đá trơ
gan cùng tuế nguyệt. Ngẫu nhiên đã bóp chết công trình ngay từ quá trình
đang xuất hiện. Nhà đầu tư không thể tính toán được khả năng này khi lập dự
án. Ngẫu nhiên đã giết công trình. Người nông dân hăm hở trồng mía theo
khuyến nghị của nhà quản lý địa phương. Bỗng nhiên nhà máy đường
chuyển đi nơi khác. Thế là lao đao. Nhiều người phải nêu câu hỏi nghiêm túc
rằng phải chăng ngẫu nhiên là tồn tại khách quan. Đúng thế , không phải
ngẫu nhiên chỉ là các tác động tiêu cực mà còn có nhiều ngẫu nhiên tác động
tích cực nữa. Khi ấy người ta thường cho là do sự khôn khéo mà tạo nên
thành tích.
Hãy chấp nhận sự tồn tại của rủi ro, tai nạn và sống chung với nó
Số lượng cũng như mức độ của các rủi ro về kinh tế, các rủi ro trong quá
trình đầu tư của dự án ngày càng tăng dẫn tới việc phải đưa vào quản lý dự
án những vấn đề để có thể chung sống với rủi ro. Muốn vậy , phải đặt ra vấn
đề là làm sao thấu hiểu các rủi ro, tai nạn lao động hay nói cách khác là phải
quản lý được rủi ro với việc sử dụng các mô hình xác xuất thống kê cho phép
tính đến độ bất định của các sự kiện (ngẫu nhiên). Tại Hoa kỳ , Anh quốc ,
và các nước phát triển khác đã có nhiều hãng bảo hiểm lớn nhận bảo hiểm
công việc có nhiều rủi ro, bảo hiểm tai nạn.Với sự ra đời và phát triển nhanh
chóng của công nghệ thông tin (máy tính, các phần mềm,...) người ta có điều
hợp đồng và cả những hành động trong toàn bộ thời gian thực hiện hợp đồng
khi dự án đang được thực hiện.
Kế hoạch quản lý rủi ro:
Lập kế hoạch quản lý rủi ro, tai nạn bắt đầu cùng với việc xác định các rủi
ro, tai nạn có thể xảy ra. Để chủ động đối phó với rủi ro, trước hết cần biết
những khả năng có những rủi ro loại nào. Rủi ro ở đây cần được hiểu là
7
những rủi ro có thể điều chỉnh và kiểm soát được trong dự án. Bất cứ một rủi
ro nào không phải là một mối đe doạ cụ thể đến sự thành công của dự án
hoặc không phải là một vấn đề mà nhóm dự án khống chế một cách hữu hiệu
sẽ được loại ra khỏi sự xem xét. Cần lập được danh mục rủi ro độc lập liên
quan đến lĩnh vực mà họ phụ trách. Sau đó cần rà soát lại các danh sách đó
để chắc chắn rằng những rủi ro đó đe doạ đến sự thành công của dự án. Bước
này được thực hiện thông qua việc sử dụng công cụ cấu trúc chia nhỏ công
việc như là một khung các nội dung để xác định rủi ro cụ thể. Người quản lý
dự án hoặc người quản lý rủi ro (cho dự án lớn) sẽ phỏng vấn những người
lãnh đạo của dự án những vấn đề có khả năng xẩy ra cho toàn bộ phận công
việc sẽ xảy ra trong quá trình thực hiện dự án. Danh mục tổng hợp các khả
năng rủi ro, tai nạn sẽ được đưa ra để đánh giá.
Đánh giá rủi ro, tai nạn
Là bước xác định khả năng và mức độ ảnh hưởng của mỗi rủi ro, tai nạn.
ảnh hưởng của rủi ro, tai nạn là một thước đo xem dự án sẽ bị ảnh hưởng
như thế nào nếu rủi ro xẩy ra. ảnh hưởng sẽ được dự đoán theo các tác động
về chi phí và/hoặc kế hoạch và kỹ thuật . Để đánh giá các rủi ro, tai nạn, hầu
hết các phương pháp là trực tiếp ước đoán khả năng và ảnh hưởng của mỗi
rủi ro đã được xác định thông qua việc sử dụng các kinh nghiệm và điều
chỉnh trong quá trình thi công hoặc quản lý. Những thông tin giới hạn thu
nghị trong hoàn cảnh thông thường và phụ thuộc vào điều chỉnh thi công,
quản lý trong bước xác định rủi ro, khả năng gây tai nạn.
Kế hoạch rủi ro, chống tai nạn dự phòng
Xác định những gì phải làm để làm giảm thiểu ảnh hưởng của mọi rủi ro,
nguyên nhân gây tai nạn xẩy ra. Ngoài ra cần nghiên cứu các điều kiện bắt
đầu/kết thúc cho các hành động đó được đưa ra. Không có cách thức cụ thể
nào được khuyến nghị theo nghĩa thông thường mà phụ thuộc vào việc điều
chỉnh trong quá trình thi công và quản lý. Việc này được thể hiện trong một
kế hoạch dự phòng do mỗi rủi ro được lựa chọn để quản lý và định nghĩa các
9
điều kiện xẩy ra để bắt đầu và kết thúc các kế hoạch dự phòng rủi ro, đề
phòng tai nạn đó.
Tổ chức quản lý rủi ro, đề phòng tai nạn
Tiến hành thiết lập ra các tổ chức quản lý rủi ro và giao nhiệm vụ. Nhiệm vụ
của người quản lý dự án là phải xác định được tổ chức quản lý rủi ro, đề
phòng tai nạn và giao nhiệm vụ cho mỗi cá nhân. Kết quả của bước này là
đưa ra một bảng tổ chức quản lý rủi ro và biểu phân công nhiệm vụ.
Xây dựng cơ sở dữ liệu.
Đầu ra chủ yếu của lập kế hoạch quản lý rủi ro, đề phòng tai nạn là một bản
kế hoạch để giúp đỡ các thành viên trong nhóm quản lý dự án có được một
sự hiểu biết rõ ràng và tổng quát về cách thức mà rủi ro và tai nạn được quản
lý trong dự án cũng như vai trò của họ trong kế hoạch, ví dụ, nhiệm vụ cá
nhân. Một cơ sở dữ liệu về quản lý rủi ro, phòng ngừa tai nạn sẽ được chuẩn
bị thu thập và báo cáo tất cả các dữ liệu quản lý rủi ro, phòng ngừa tai nạn.
Lở xụt mái đất
Đất có lực dính và ma sát giữa những hạt tạo nên đất. Mái dốc tự nhiên được
tạo ra tư thế ổn định nhờ lực dính và ma sát giữa các hạt đất. Lực dính và ma
sát phụ thuộc kích thước của hạt đất và độ ngậm nước của đất. Đào đất
không tạo mái dốc thường hay xảy ra hiện tượng lở xụt mái dốc. Khi mưa,
nước ngấm vào đất làm giảm lực dính và lực ma sát trong đất, gây ra hiện
tượng xụt, lở. Xụt, lở đất có thể vùi lấp người đang lao động ở chân dốc,
đồng thời làm người đang lao động ở trên cao bị ngã xuống thấp. Xụt lở đất
còn làm nghẽn giao thông đi lại cũng như gây tai nạn giao thông. Nhà ở ven
sông, ven biển bị nghiêng, đổ vì xụt lở đất. Vào mùa lũ, mùa mưa , dòng
11
chảy ở sông, suối mạnh và dâng cao làm xói lở bờ sông, làm cho nhà cửa,
công trình lăn xuống sông, suối và trôi theo dòng chảy.
Tụt, lăn từ trên cao:
Vật nặng như vật liệu, cấu kiện chất ở bờ hố sâu hoặc tại mép sàn trên cao
nếu xếp , đặt không ổn định hoặc không chèn, chắn cho cân bằng có thể bị
lăn hoặc bị tụt xuống hố sâu. Khi vật nặng rơi sẽ va đập vào kết cấu, gây
nguy hiểm cho người lao động hoặc làm hư hỏng kết cấu hoặc các vật khác
nằm bên dưới.
Điện giật
Điện là nguồn năng lượng để vận hành máy móc xây dựng , để chiếu sáng
nơi lao động. Dây dẫn điện phải được cách ly với các bộ phận kim loại cũng
như phải cách ly với các bộ phận của cơ thể người lao động tránh gây sự
truyền điện làm nguy hiểm đến sức khoẻ và tính mạng con người. Hiện
tượng điện giật đã xảy ra nhiều làm bỏng và chết người. Điện cũng là nguồn
phát sinh nhiều vụ cháy do chập điện, do dây điện không đủ sức tải, dòng
điện làm nóng dây dẫn quá nhiệt độ cho phép , gây nóng và bắt cháy. An
toàn sử dụng điện là yêu cầu khá bức bách của ngành xây dựng. Tai nạn điện
cho cơ quan hô hấp của người công nhân. Bụi amiăng, bụi thuỷ tinh là nguồn
gây ra ung thư phổi và viêm phổi. Tiếp xúc với không khí có nhiều hơi axit,
hơi của các hoá chất khác là nguồn gây bệnh phổi và các bệnh dị ứng da.
Trong những công trường có xử lý ngâm tẩm gỗ phải dùng crêôzôt hay các
loại thuốc diệt mối mọt và các côn trùng có hại khác thì các loại thuốc hoá
chất này đều là chất độc. Cần có biện pháp hạn chế chất độc lan toả ra không
khí cũng như tiếp xúc với các bộ phận của cơ thể.
13
Bỏng
Bỏng là tai nạn làm cho cháy da của người lao động. Nguồn gây tai nạn bỏng
do tiếp súc với lửa, với nhiệt độ cao. Có nhiều người bị tai nạn do bị nước sôi
làm bỏng da thịt. Có nhiều tai nạn bị bỏng do cháy thuốc nổ. Khi cháy thuốc
nổ, đám cháy gây nhiệt độ cao tức thời làm huỷ hoại cơ thể .
Nước ngập
Đã có tai nạn do làm lều lán ven suối nghỉ đêm. Trời không mưa nhưng lũ
thượng nguồn về nhanh làm trôi lán và chết người. Thi công trong hầm sâu,
giếng sâu, nước tràn ngập do ống dẫn nước vỡ đột ngột, máy bơm thoát nước
hỏng , không thoát được nước làm ngập úng , nguy hiểm tính mạng người lao
động. Lao động trong các buồng kín của con tàu hay thuyền đang chìm có
thể bị nước ngập bất ngờ.
Nổ, cháy
Nổ, cháy là tai nạn hay xảy ra với công tác xây dựng. Trong thi công các
công tác đất có thể sử dụng dạng cơ giới phá nổ. An toàn với công tác phá nổ
cần thực hiện hết sức nghiêm ngặt. Quá trình làm sạch các bồn chứa xăng,
dầu hoặc tiến hành sửa chữa dùng hàn với các bồn trước đây chứa xăng, dầu
rất hay gây tai nạn cháy nổ. Cần có biện pháp thông gió để hơi cacbua hydro
thấp đến mức không đủ gây cháy mới đủ an toàn.
Cháy vỏ bào, vật liệu rắn như rẻ lau , mùn cưa có thể dẫn đến cháy lan toả.
hay hồng ngoại làm phá huỷ tế bào mắt.
Lao động xây dựng có khi phải thường xuyên diễn ra trong điều kiện nhiệt
độ cao như tại các phân xưởng rèn, đúc luyện kim. Cần có trang bị thích hợp
cũng như giờ giấc lao động thích hợp nhằm tránh gây hại sức khoẻ công
15
nhân, có chế độ bồi dưỡng thoả đáng nhằm nhanh phục hồi sức lao động sau
mỗi ca làm việc.
2. Những nguyên nhân gây ra bệnh nghề nghiệp trong ngành xây
dựng
Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện có hại của nghề nghiệp tác
động vào người lao động. Bệnh xảy ra từ từ hoặc cấp tính. Một số bệnh nghề
nghiệp không chữa khỏi được mà để lại di chứng. Bệnh nghề nghiệp có thể
phòng tránh được.
Nhà nước quy định có 21 loại bệnh nghề nghiệp nằm trong các nhóm như
sau đây
Các bệnh bụi phổi và phế quản do silic, do atbet, do bông
Nhiễm độc : do chì, do thuỷ ngân, do mănggan, do TNT, do asen, do
nicotin, do các loại thuốc sâu. Nhiễm độc benzen và các chất đồng
đẳng của benzen.
Do các yếu tố vật lý như ồn, phóng xạ, rung, giảm áp.
Các bệnh da nghề nghiệp như sạm da, loét da
Nhiễm khuẩn nghề nghiệp như lao, viêm gan, xoắn khuẩn.
Chi tiết hoá về các loại bệnh nghề nghiệp có thể khái quát như sau :
(1) Với bệnh nhiễm độc do chì và các hợp chất của chì :
Công việc gây ra bệnh khi tiếp súc với chì :
+ Chế biến chì và các phế liệu có chì
+ Thu hồi chì cũ
+ Dùng benzen hút nước trong rượu hoặc cồn.
Bệnh lý :
+ Tai biến cấp tính : hôn mê, co giật
+ Rối loạn tiêu hoá
+ Giảm bạch cầu ở mạch máu ngoại vi kèm giảm bạch cầu đa nhân trung
tính.
+ Ban xuất huyết
+ Hội chứng xuất huyết có thể tái phát trong năm, hoặc tái phát xuất huyết
mà hồng cầu dưới 2,5 triệu một năm.
+ Thiếu máu kiểu thiểu năng tuỷ hoặc suy tuỷ
+ Trạng thái giả bạch cầu
+ Bệnh bạch cầu.
(3) Bệnh nhiễm độc thuỷ ngân và các hợp chất của thuỷ ngân
Công việc có thể nhiễm độc thuỷ ngân
+ Chưng cất thuỷ ngân, thu hồi thuỷ ngân
+ Sửa chữa các nhiệt kế thuỷ ngân
+ Dùng thuỷ ngân trong các công việc về điện
+ Sản xuất axit acêtic, axetôn
+ Chế biến da dùng muối thuỷ ngân
+ Các bệnh lý khi nhiễm độc thuỷ ngân
+ Tẩy da bằng axit thuỷ ngân
+ Mạ vàng, mạ thiếc, mạ đồng, khảm vàng bạc dùng thuỷ ngân hoặc muối
thuỷ ngân
+ Làm ngòi nổ mìn bằng Eluminate thuỷ ngân
18
+ Kỹ thuật làm đồ sứ, in hình, làm hoa nhân tạo.
Bệnh lý :
+ Chải sợi, kéo sợi và dệt vải amiăng
+ Làm cách nhiệt bằng amiăng
+ áp dụng amiăng vào súng bắn nhiệt
+ Thao tác khô với amiăng khi chế tạo xi măng amiăng
+ Tạo gioăng bằng amiăng và cao su
+ Chế tạo má phanh bằng cao su amiăng
+ Chế tạo các tông có amiăng
Bệnh lý khi bị nhiễm độc bụi phổi amiăng
+ Xơ phổi và phế quản do hít phải bụi amiăng
+ Xơ phổi nhưng chưa đến mức rối loạn hô hấp hoặc đã đến rối loạn hô hấp
+ Ung thư phổi
+ Biến chứng vào tim như thiểu năng tim, suy tim không hồi phục.
(6) Bệnh nhiễm độc mănggan và các hợp chất của măng gan
Công việc có thể gây ra bệnh nhiễm độc mănggan
+ Khai thác, nghiền , sàng, đóng bao và trộn khô bioxytmangan ( MnO2)
nhất là trong việc chế tạo pin điện, que hàn.
+ Dùng bioxytmangan trong việc làm già ngói, chế tạo thuỷ tinh, thuốc màu.
20
+ Nghiền và đóng bao xỉ ở lò luyện kim có bioxytmangan
Bệnh lý khi bị nhiễm độc mănggan
+ Hội chứng thần kinh kiểu Parkinson thể hiện ở triệu chứng run tay nhẹ, run
tay nặng đến mức không tự phục vụ mình được.
(7) Bệnh nghề nghiệp gây ra do quang tuyến X và các tia phóng xạ
Công việc có thể gây ra bệnh do các dạng tia
+ Khi lao động có tiếp xúc với các dạng tia
+ Khai thác và chế biến quặng có chất phóng xạ
+ Điều chế và sử dụng các chất phóng xạ, các sản phẩm hoá học và dược có
chất phóng xạ
(9) Bệnh nghề nghiệp gây ra cho da
Công việc có thể gây ra bệnh cho da
22
+ Chế tạo accuy, sản xuất xi măng, đồ gốm, bột màu pha sơn hay pha vôi
màu, men sứ, thuỷ tinh, cao su, bản kẽm, gạch chịu lửa, hợp kim nhôm, nghề
nề và phụ nề, mạ điện, mạ crôm.
Bệnh lý về da
+ Loét da và niêm mạc
+ Loét vách ngăn mũi
+ Viêm da tiếp xúc, chàm tiếp súc.
+ Xạm da do tiếp xúc với dầu hoả, than cốc, nhựa đường, bitum, luu huỳnh.
(10)
Bệnh nghề nghiệp gây ra do làm việc trong môi trường bị rung
Công việc gây bệnh
+ Thao tác với các dụng cụ hơi nén cầm tay như đục, búa dùi, búa tán rivê,
chày đục phá khuôn, máy khoan đá, máy đầm.
+ Sử dụng các máy động cơ nổ như máy cưa cầm tay, máy cắt cỏ, máy mài
cầm tay.
+ Tiếp xúc với vật gây rung như tời khoan, máy mài.
Bệnh lý
+ Hư khớp khuỷu, khớp cổ tay
+ Hoại tử xương bán nguyệt
+ Gia hư khớp xương thuyền
+ Lao màng hoạt dịch
+ Lao xương khớp
+ Lao màng phổi
+ Lao phổi
(13)
Bệnh viêm gan virut nghề nghiệp
Công việc gây bệnh
+ Phải tiếp xúc với người đang mắc bệnh viên gan virut , vật phẩm ô nhiễm
Bệnh lý
+ Viêm gan
+ Xơ gan
(14)
Bệnh do leptospira nghề nghiệp
Công việc gây bệnh
+ Làm việc trong hầm, hào, hố sâu, cống rãnh.
+ Đào kênh, mương, hố sâu.
+ Làm việc ở đầm lầy, suối, ruộng, ao , hồ.
Bệnh lý
+ Sốt do leptospira
25