Truyền thống pháp điển hóa qua các triều đại phong kiến việt nam - Pdf 32

Truyền thống pháp điển hóa qua các triều đại phong kiến Việt Nam
Hiện nay, khi Chương trình xây dựng pháp luật của mỗi nhiệm kỳ Quốc hội đã là
con số gồm 3 chữ số...
Hiện nay, khi Chương trình xây dựng pháp luật của mỗi nhiệm kỳ Quốc hội đã
là con số gồm 3 chữ số, vấn đề bảo đảm tính đồng bộ giữa số lượng và chất lượng
văn bản luật được ban hành phải được đặt ra nghiêm túc. Một trong những hướng
nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp, nâng cao hiệu quả của từng văn bản luật
được ban hành là tăng số lượng các bộ luật có tính chuyên ngành về từng lĩnh vực
của đời sống xã hội, từng bước đưa các bộ luật này trở thành hình thức văn bản
chủ yếu của hệ thống pháp luật nước nhà. Với tinh thần đó, điều quan trọng là
phải thấy được quá trình ra đời, phát triển, trở thành truyền thống của hoạt động
pháp điển hóa pháp luật trong lịch sử xã hội Việt Nam.
1. Hình thư đời Lý - Bộ luật pháp điển hóa đầu tiên của Việt Nam
1.1. Xã hội Việt Nam trong suốt một giai đoạn dài hơn mười thế kỷ đã rơi vào
nạn Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc từ Hán đến Đường lần lượt
chiếm đoạt, nô dịch đất nước và con người Việt Nam. Năm 938, khi Ngô Quyền
đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt Nam mới bắt đầu thời
kỳ độc lập lâu dài.
Ngô, Đinh, Lê là ba triều đại độc lập, tự chủ đầu tiên, nhưng chỉ tồn tại được
trong thời gian rất ngắn: nhà Ngô 5 năm (939-944); nhà Đinh 12 năm (968-980);
còn nhà Tiền Lê là 19 năm (981-1009). Tuy về công việc lập pháp chưa làm được
gì nhiều, nhưng chắc chắn trong việc điều hành, quản lý xã hội, các triều đại này
cũng đã dùng đến pháp luật, nhưng đó chủ yếu chỉ là những quy định có tính nhất
thời, tình thế.


1.2. Hình thư đời Lý - Bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam, đã mở ra thời
kỳ trở thành truyền thống pháp điển hóa pháp luật Việt Nam.
Năm 1009, Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra triều Lý (1009-1225). “Sang đời
Lý, nhất là trong khoảng thế kỷ XI, công việc xây dựng đất nước bước vào quy mô
lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc

những chế định pháp luật có tính phổ biến, phù hợp. Đây là hiện tượng mang tính
quy luật trong mối quan hệ giữa các quốc gia, xã hội.
Nhưng nhà Đường cũng đô hộ Âu Lạc đến 300 năm và đương nhiên, khi xem
“An Nam đô hộ phủ” là thuộc quốc của mình thì với dã tâm đồng hóa cả dân tộc
Việt, nhà Đường nhất định mở rộng phạm vi áp dụng pháp luật của triều đại mình
đến cả xứ “man di” này. Vấn đề đặt ra ở đây là pháp luật của nhà Đường và của
các triều đại trước đó, tiêu biểu là Hán, Tùy đã bám được vào đời sống của dân tộc
Việt đến mức nào và các triều đại tự chủ đầu tiên có thái độ như thế nào đối với
các hệ thống pháp luật đô hộ này.
Các nhà Ngô - Đinh - Lê với thời gian tồn tại rất ngắn, lại trong buổi đầu tự
chủ, có thể thấy ảnh hưởng của pháp luật nhà Đường nói chung, của cả thời Bắc
thuộc đối với pháp luật các triều đại trên là điều không thể tránh khỏi, nhưng
không có gì đáng kể.
Đến triều đại nhà Lý, cũng phải ở năm thứ 33 của bản triều, tức năm 1042 và
đến đời vua thứ hai - Lý Thái Tông mới sai Trung thư xây dựng Hình thư - bộ luật
thành văn đầu tiên mà lịch sử biết đến của nước ta. Trong khi xây dựng bộ luật,
việc tham khảo, tiếp thu các chế định pháp luật ra đời trước đó nhiều thế kỷ (ban
bố năm 653 của nhà Đường[4]) và vẫn đang có ảnh hưởng lớn đối với các triều đại
về sau ở ngay Trung Quốc, là điều dễ hiểu và cần thiết. Điều đó không phụ thuộc
vào việc trước đó luật nhà Đường đã có ảnh hưởng ở Việt Nam như thế nào.


Trong chỉ dụ của mình, Lý Thái Tông chỉ ra một cách khái quát về nguồn pháp
luật cần được xem xét, san định là “luật lệnh” và trước hết phải là “luật lệnh” của
bản thân triều Lý. Đó chỉ là những luật lệnh có tính đơn hành. Chính vì những
luật, lệnh ấy chỉ ở dạng đơn hành nên mới cần san định, châm chước cho thích
dụng với thời thế, chia ra loại bài, biến thành điều khoản để ban hành thành sách
(bộ luật). Đúng như Phan Huy Chú đã chỉ rõ: “Nước Việt ta, các triều dựng nước
đều định hình chương, nhà Lý có ban Hình thư, nhà Trần có định hình luật đều đã
tham chước xưa nay, để nêu thành phép tắc lâu dài”[5].

chỉ dụ thật đặc sắc về pháp điển hóa. Nhìn bằng con mắt đời nay cũng thấy khó mà
bổ sung, thêm bớt gì vào đây, từ phương diện đạo lý đến từng bước đi, quy trình
phải thực hiện và kết quả phải đạt tới[9].
Theo quan điểm này, việc làm đầu tiên là phải san định luật lệ. “San định luật
lệ” là “sửa chữa cho gọn và quy định cho nhất trí”[10]. Một định nghĩa khác coi
“san định là sửa sang lại một văn bản cổ bằng cách bỏ đi những đoạn cho là không
hợp, xác định lại những chỗ còn nghi ngờ, sắp xếp lại”[11]. Riêng từ “san” được
Đào Duy Anh định nghĩa: “dọn bớt đi cho gọn”[12]. Tìm thuật ngữ tương đồng
trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (được sửa đổi, bổ
sung năm 2002) thì đó là “rà soát”, “chỉnh lý”... (các điều 8, 26, 45a). Một công
việc quan trọng được tiến hành song song với việc “san định” luật lệnh là “tham
chước xưa nay”, nghĩa là “thêm bớt cho vừa”[13]. Trên cơ sở xem xét, tham khảo,
so sánh, tra cứu các thông tin đủ loại cần thiết nhằm làm sao cho “thích dụng” với
thời thế. Thuật ngữ “thích dụng” ở đây được dùng thật “đắc địa”, tức phải phù
hợp, đáp ứng được yêu cầu của công việc thực tại, thi hành, áp dụng pháp luật.
Từng thuật ngữ, từng từ được dùng, được đặt rất đúng chỗ với sự diễn đạt cô đọng,
súc tích, chứng tỏ nhận thức về pháp điển hóa của nhà vua, của triều đình nhà Lý


thật sâu sắc, chuẩn xác, theo một lô gíc chặt chẽ. Mục tiêu rất rõ, nhưng hoàn toàn
không dễ dàng. Sự thích dụng với thời thế cũng phải “để cho người xem dễ hiểu”.
Yêu cầu này tưởng như là bình thường, giản đơn, thật ra lại chính là biểu hiện
của một thuộc tính, của một nhân cách mang đậm tính nhân văn, nhân bản, cũng
có thể nói là tính đại chúng của người đứng đầu một nước trong xã hội phong
kiến, vương quyền. ở La Mã trước đây có nguyên tắc: một người không được lấy
lý do không biết pháp luật để vi phạm, làm trái pháp luật. Pháp luật do nhà vua
ban hành, người dân có nghĩa vụ phải biết và nghiêm chỉnh chấp hành; nếu làm
trái pháp luật, họ phải bị trừng phạt. Các vua nhà Lý về mặt này có thái độ hoàn
toàn khác, Lý Thánh Tông đã chỉ ra điều đơn giản nhưng thật cơ bản: dân vì
không hiểu luật mà mắc vào tội. Cũng vì vậy, vua lấy làm thương và chỉ đạo cho

700 năm (1226 -1945). Mỗi triều đại trong những điều kiện lịch sử cụ thể theo
cách của mình đều tiến hành pháp điển hóa và ban bố các các văn bản pháp điển
hóa: nhà Trần có Hình luật, nhà Lê có Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng ĐứcB),
nhà Nguyễn có Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long).
Cũng với những văn bản pháp điển hoá, “theo Phan Huy Chú trong sách Lịch
triều hiến chương loại chí, năm 1230, vua Trần định thể lệ làm ra các sách chép về
việc hình. Năm 1244, lại định hình luật một lần nữa. Năm 1341, vua Trần Dụ
Tông giao cho Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu cùng soạn ra “Hình thư”
để ban hành”[16]. Nhưng pháp luật triều Trần bị đương thời và cả hậu thế chê
trách. Theo sách “Cố tự sao” của Trần Cương Trung mà Phan Huy Chú đã chép lại
thì luật hình đời nhà Trần rất nghiêm. Kẻ trộm cắp và nô tỳ trốn đi khi bị bắt đều
phải chặt ngón chân và giao cho chủ cũ được toàn quyền định đoạt về định mệnh
hoặc cho voi giày[17]. Về mặt đó, pháp luật nhà Trần thua kém pháp luật nhà Lý.
Thêm nữa, “nhà Trần được nước là do cướp ngôi vua nhà Lý, về hình pháp không


lập ra kỷ cương phép tắc gì, chỉ tuỳ ý định mà buộc tội nặng nhẹ, hình phạt thảm
khốc đến là cùng”[18].
Pháp luật nhà Lê, tiêu biểu là Bộ luật Hồng Đức, pháp luật nhà Nguyễn, tiêu
biểu là Bộ luật Gia Long vốn thuộc hai triều đại, hai dòng họ trị vì đất nước gần
như tiếp liền nhau và đều là kết quả của những công trình pháp điển hoá công phu
với kỹ thuật lập pháp đạt trình độ cao. Tuy nhiên, người ta tranh luận nhiều về tên
gọi, niên đại của Bộ luật Hồng Đức còn vấn đề này không đặt ra đối với Bộ luật
Gia Long vì tính quá rõ ràng của nó.
2.1. Niên đại của Bộ luật nhà Lê
Một trong những vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau, đó là vấn đề niên đại của
Quốc triều hình luật. Điều này có vẻ như thuần tuý kỹ thuật, nhưng thực ra có tầm
quan trọng hàng đầu, vì nó có quan hệ trực tiếp với chủ đề đang được xem xét:
tính pháp điển hoá sâu sắc của nó thuộc truyền thống đặc biệt quý báu của quá
trình hình thành, phát triển, hoàn thiện pháp luật với tính cách là một bộ phận cấu

ngôi có 5 năm. 5 năm để bắt tay vào xây dựng triều đình mới và tổ chức nhân dân
xây dựng lại xã hội Đại Việt mới, khi mọi việc vẫn còn lạ lẫm, mới mẻ thì thật khó
có thể xây dựng, ban hành được cả bộ luật lớn, bảo đảm như Quốc triều hình luật.
Tất nhiên, trong 5 năm trị vì đất nước, Lê Thái Tổ đã ban hành nhiều văn bản pháp
luật và thông tin, theo ngôn ngữ ngày nay, đó là những văn bản đơn hành về từng
lĩnh vực, từng loại sự việc.
Tất nhiên, chúng ta không được lẫn lộn: với bề dày chiến đấu, với tư cách thủ
lĩnh phong trào, sau ngày chiến thắng, Lê Lợi trở thành Lê Thái Tổ với niên hiệu
Thuận Thiên, nhân danh trời đất, Lê Thái Tổ có thể có nhiều ý tưởng về xây dựng
triều đại họ Lê, xây dựng đất nước. Lê Lợi có thể và trên thực tế, vạch ra nhiều ý
tưởng cả về mặt lập pháp là lĩnh vực mới mẻ, còn rất ít kinh nghiệm. Có lần, Lê


Thái Tổ đã chỉ ra cho triều đình, bá quan: “từ xưa đến nay, việc cai trị trong nước
tất phải có phép, nếu không sẽ loạn. Bởi thế, nên bắt chước đời xưa mà dựng phép,
để dạy tướng tá, quan quân và thứ dân, khiến cho đều biết đâu là điều thiện, điều
ác. Điều thiện thì làm, điều ác thì tránh, không đến nỗi phạm pháp. Vua ban tờ
chiếu rằng: Đạo kinh luân, thiên hạ phải tính ban đầu để yên lúc cuối, phải lập
pháp luật để lưu về sau”[24].
Đúng là ngôn từ của một vị vua khai sáng, mở đầu cho một triều đại. Nhưng từ
ý tưởng lớn lao, tốt đẹp đó đến một văn bản mang đậm tính pháp điển hoá cao như
Quốc triều hình luật thì không đơn giản. Và nói đến pháp điển hoá phải thấy rằng,
có thể và hoàn toàn hợp logic là dù Quốc triều hình luật ra đời vào triều vua nào,
Lê Thái Tông (1434-1442), Lê Nhân Tông (1453-1459), hoặc Lê Thánh Tông
(1460-1497), thì những quy định và có khi cả luật, lệnh, chỉ do Lê Thái Tổ ban
hành với tư cách là những văn bản đơn hành vẫn có thể được thu hút vào Bộ luật
trên cơ sở san định, bảo đảm sự thống nhất nội tại của toàn bộ luật. Cũng vì vậy,
không nên ngạc nhiên nếu Quốc triều hình luật với tính cách là một sản phẩm
pháp điển hoá mãi đến đời Nhân Tông hoặc Thánh Tông mới được ban hành mà
nội dung lại có những quy định, những luật, lệnh ban hành từ đời Lê Thái Tổ.

viết “Đích thân Trẫm tu chỉnh lại sau cùng…”[25].
Cuốn Almanach “Những nền văn minh thế giới” do Nhà xuất bản văn hoá Thông tin xuất bản năm 1995 có mục “Những Bộ luật cổ nổi tiếng thế giới” có
giới thiệu 7 bộ luật của các nước, trong đó có Bộ luật Hammonrabi là bộ luật của
vương triều thứ nhất Babylone (thế kỷ XVIII – XVII TCN), Bộ luật Manu của ấn
Độ (giữa thiên niên kỷ thứ hai TCN), Bộ luật Napoleon (1804) đều được gọi theo
tên của người trị vì đất nước ở thời điểm các bộ luật này được ban hành. Từ điển
Bách khoa Việt Nam cũng giới thiệu về một số bộ luật Juxtinian của đế quốc
Đông La Mã do Juxtiniannus đứng đầu…


Như vậy, việc dùng danh xưng của các nhân vật vốn thường là những người
đứng đầu các quốc gia đặt tên cho các bộ luật lớn không phải là những hiện tượng
cá biệt, ngẫu nhiên, riêng lẻ ở một vài nước mà khá phổ biến, được thừa nhận rộng
rãi, có cơ sở khách quan và thường trong thời gian dài, gắn liền với lịch sử của giai
đoạn được ban hành và được lưu truyền lâu dài trong lịch sử quốc gia, có khi là
của khu vực, châu lục hoặc thế giới. Đó là sự thừa nhận không phải do áp đặt mà
theo cách suy tôn, tôn vinh và do có sự gắn bó của tên tuổi cá nhân, nhân vật lịch
sử với các văn bản pháp luật cũng đi vào lịch sử như một hiện tượng in dấu ấn sâu
sắc vào thời đại của mình và của một đất nước…
Ở Việt Nam, Hoàng Việt luật lệ - Bộ luật của nhà Nguyễn được thừa nhận rộng
rãi là Bộ luật Gia Long không xuất hiện vấn đề gì phải làm rõ hoặc bàn thảo, còn
tên gọi Hồng Đức của Quốc triều hình luật lại được đặt thành vấn đề phải xem xét.
Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 1, tại trang 266 có mục từ “Bộ Quốc triều hình
luật” - tên khác Bộ luật Hồng Đức. Từ điển này viết: “việc xác định thời điểm ban
hành Bộ Quốc triều hình luật vẫn chưa được khẳng định dứt khoát. Theo ý kiến
nhiều nhà sử học thì Bộ luật đã được khởi thảo từ những năm đầu của triều Lê,
được bổ sung hoàn chỉnh trong suốt triều đại Lê, trong đó có những đóng góp to
lớn của Lê Thánh Tông…”. Nội dung của đoạn văn trên trong Từ điển phản ánh
khá trung thực thực trạng ý kiến của các chuyên gia về ngày, tháng hay đúng hơn,
về thời điểm ra đời của Bộ luật. Điều đáng tiếc trong khi thuật lại như vậy, tác giả

thu hút những quy định, điều luật, có khi cả từng chương, mục vào dự án luật mới.
Đây cũng chính là đặc trưng cơ bản của hoạt động pháp điển hoá.
Có lẽ, đây chính là điểm cơ bản để các ý kiến vẫn còn khác nhau khi đề cập đến
niên đại của Quốc triều hình luật vì có nhiều băn khoăn rằng, không thể nói đến
việc Quốc triều hình luật được ban hành trong triều vua Lê Thánh Tông trị vì, nhất
là ở thời kỳ nhà vua lấy niên hiệu Hồng Đức (1460 – 1497) và như Vũ Văn Mẫu


khẳng định: “và phần chắc chắn là vào những năm cuối cùng của niên hiệu Hồng
Đức”[26] chỉ với một lý do đơn giản: xét theo nội dung của nhiều quy định của
Quốc triều hình luật mà Vũ Thị Nga đã có công chọn lọc[27] thì xuất xứ là từ
những văn bản pháp luật của đời vua trước - Lê Thái Tổ và trong cả đời vua sau Thái Tông, Nhân Tông.
Đây là một sự hiểu lầm lớn. Bộ luật dân sự đầu tiên của nước ta - Bộ luật Dân
sự năm 1995 - không phải là sản phẩm chỉ của Quốc hội khóa IX mà nó là kết quả
của cả quá trình “quy định, tham chiếu” các văn bản pháp luật của 8 khoá Quốc
hội trước đó, từ khoá I đến khoá VIII. Nhưng không vì thế mà không định được
niên đại của Bộ luật Dân sự đầu tiên vì Bộ luật được ban hành tháng 10/1995 là
Bộ luật Dân sự năm 1995, ít ra để phân biệt với Bộ luật Dân sự được Quốc hội
khoá XI thông qua năm 2005 thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995.
Trở lại với Bộ luật nhà Lê. Không những trên thực tế và hầu hết các ý kiến dù
có khác nhau về niên đại của Bộ luật thì cũng đều thống nhất trong nhận định rằng
Bộ luật được nhiều đời vua bằng hoạt động lập pháp của mình mà sáng tạo nên.
Nhưng đó chỉ là cách nói không chính thức vì với tên gọi” Quốc triều hình luật”
với tư cách là một văn bản pháp luật hoàn chỉnh thì chỉ được ban hành vào một đời
vua. Đó là đời vua nào, xét một cách khách quan, có thể có căn cứ để khẳng định
danh tính của vị vua đó không?
Tên gọi “Luật Hồng Đức” hoặc Bộ luật Hồng Đức đi vào sử sách đến nay, ít
nhất đã vài ba trăm năm và không phải mãi đến thời cận, hiện đại mới được đặt ra.
Cho đến nay, biết được tên gọi Bộ luật Hồng Đức với tư cách Bộ luật nhà Lê, tên
gọi thay thế cho Quốc triều hình luật là nhờ ở Phan Huy Chú trong “Hình luật chí”

gọi Hình luật đời Hồng Đức là đáng tin cậy.
Cùng thời với Phan Huy Chú, ông vua đầu tiên của triều Nguyễn - Gia Long
nhận thức ra vai trò, ý nghĩa của pháp luật theo cách hiểu riêng, đã lệnh cho đình


thần biên soạn một bộ luật với sự chỉ đạo: giở xem hình luật của các triều đại trước
của nước Việt ta, mỗi triều đại thành lập từ Lý, Trần, Lê đều có pháp chế riêng
cho mỗi triều đại, mà đầy đủ hơn cả Bộ luật Hồng Đức (đời Lê). Đồng thời, trong
chỉ lệnh của mình, Gia Long còn đề cập đến các triều đại phương Bắc, pháp luật
của các triều đại đó, và có nói rõ: mỗi triều đại các sách về luật đều có sửa đổi mà
đầy đủ nhất là luật triều đại Thanh. Thế nên, ta ra lịnh cho triều thần lấy luật của
các triều đại nước ta làm căn bản, tham chiếu Luật Hồng Đức và Luật Thanh triều,
rút lấy, thêm bớt, cân nhắc, biên tập thành Bộ luật tiện dụng[31].
Gia Long, khi nhận xét về pháp chế nói chung của các triều đại trước đều chỉ cụ
thể, đích danh rằng Lý, Trần, Lê đều có pháp chế riêng của triều đại mình, nhưng
khi đặt ra việc tham chiếu thì không còn nói chung chung về các triều nữa mà chỉ
đích danh Bộ luật Hồng Đức và xem đó là bộ luật đầy đủ nhất. Như vậy, Hồng
Đức đã trở thành danh xưng một cách tự nhiên của Bộ luật và Gia Long nói đến
Bộ luật Hồng Đức cũng rất tự nhiên, có vẻ đương nhiên. Luật Hồng Đức đã đi vào
tiềm thức chung của nhà vua như văn bản chính thức của một triều đại - triều đại
nhà Lê. Tất cả điều đó nói lên tính cách đặc biệt của Quốc triều hình luật nhà Lê gắn bó sâu sắc với niên hiệu của ông vua đã ban hành nó.
Cũng phải nói thêm, cũng có ý kiến băn khoăn: rất có thể Quốc triều hình luật
đã ra đời ngay từ đời vua Lê Thái Tổ và vì vậy, lấy niên hiệu của vị vua hậu duệ,
đời thứ tư gắn cho Bộ luật có được và có nên không? Nếu thực sự Quốc triều hình
luật ra đời trong thời kỳ vua đầu triều nhà Lê trị vì thì, có thể hình dung dù đời vua
Lê Thánh Tông thịnh trị và được yêu mến đến đâu cũng không thể nào làm điều
“phạm thượng” kỳ quặc đó. Có thể khẳng định, Quốc triều hình luật ra đời muộn
hơn và khả thi nhất là trong đời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức với công
đóng góp to lớn của Thánh Tông.
Sự ghi nhận của Nguyễn Văn Thành, tổng tài nhân biên soạn Hoàng Việt luật lệ

tr. 187.
[10] Đào Văn Tập, Từ điển Việt Nam phổ thông, Nhà sách Vĩnh - Bảo, Sài Gòn,
1951, tr. 525.
[11] Hoàng Phê, (chủ biên) Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, 1998, tr.
874.
[12] Đào Duy Anh, Hán Việt Từ điển, Nxb Khoa học xã hội, năm 1992, tr. 183
[13] Đào Văn Tập, sđd, tr. 564
[14] Phan Huy Chú, sđd, tr. 284.
[15] Trích theo Phan Huy Chú, sđd, tr. 95.
[16] Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển
Bách khoa, tập 2, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2002, tr. 303.
[17] Từ điển Bách khoa Việt Nam, sđd, tập 2, tr. 303.
[18] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1,
Nxb Khoa học xã hội, tr. 466.
[19] Đinh Gia Trinh, Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam, H. 1968,
tr. 155-156.
[20] Quốc triều hình luật, Nxb. Pháp lý, H. 1992, tr. 14.


[21] TS. Lê Thị Sơn (chủ biên), Quốc triều hình luật - lịch sử hình thành, nội dung
và giá trị, Nxb. Khoa học xã hội, 2004, tr. 46.
[22] Vũ Văn Mẫu, Dân luật khái niệm, tr. 236.
[23] Hầu Văn Liêm, Dân luật nhập môn, q. 1, 1972, tr. 143.
[24] Theo Đại Việt thông sử ký, tr. 71, 79.
[25] Nguyễn Quốc Thắng, Lược khảo Hoàng Việt luật lệ (tìm hiểu Luật Gia Long),
Nxb. Văn hóa - thông tin, 2002, tr. 167.
[26] Vũ Văn Mẫu, sđd, tr. 237.
[27] Lê Thị Sơn, Quốc triều hình luật, sđd, tr. 46-47.
[28] Phan Huy Chú, sđd, tr. 95.
[29] Phan Huy Chú, sđd, tr. 95.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status