Tình hình thu hút vốn ODA cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001-2008 - Pdf 32

LỜI MỞ ĐẦU.
Sau 20 năm đổi mới , đất nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá hiện
đại hoá , đang chuyển mình từ một nước nghèo lạc hậu sang một nền kinh tế hiện đại ,
năng động . Việt Nam đã và đang đổi mới mọi mặt của đời sống để có thể hoà nhịp
với thế giới khi gia nhập WTO và AFTA những sân chơi nhiều thuận lợi nhưng cũng
không ít khó khăn , đặc biệt là những thử thách trong việc thu hút vốn cho đầu tư phát
triển kinh tê- xã hội. Luôn với chủ trương “ vốn trong nước là chủ yếu , vốn nước
ngoài là quan trọng”. Việc thu hút và sử dụng vốn ODA nói riêng cũng không ngoại
trừ quan điểm vậy.
Vốn ODA có thể giúp hàng trăm triệu người được đổi đời , được đến trường ,
sử dụng nước sạch , xoá đói giảm nghèo …nhưng đôi khi nó còn khuyến khích sự bất
tài , tham nhũng, chính sách lệch hướng của nơi nhận ODA . Những vai trò của nó thì
không thể chối cãi được . Tìm hiểu về ODA cũng là phạm trù rất rộng , để có thể tìm
hiểu kỹ hơn qua việc :
Xem xét tình hình thu hút vốn ODA của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn vừa qua sẽ phần
nào cho chúng ta thấy bối cảnh . Quảng Ninh là mảnh đất đầy tiềm năng được coi là
một trong mũi nhọn trong tam giác kinh tế miền Bắc. Trong những năm qua nhìn
chung thu hút vốn ODA vào tỉnh có tăng lên xong bên cạnh việc sử dụng còn chưa
hiệu quả phần nào giảm lòng tin của các nhà tài trợ . Để phát huy thế mạnh của tỉnh
góp phần vào công cuộc hội nhập của Việt Nam cần một loạt các giải pháp mà tỉnh
cần thực hiện.

Em chọn đề tài “ Tình hình thu hút vốn ODA cho đầu tư phát triển kinh tế xã
hội tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001-2008”.
Mặc dù đã được tham khảo rất nhiều tài liệu có giá trị cũng như sự giúp đỡ tận tình
của thầy giáo hướng dẫn nhưng cũng không tránh khỏi sai sót trong các vấn đề đưa ra.
Em rất mong có sự đóng góp của thầy cô để đề án của em tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS .Phạm Văn Hùng đã giúp đỡ em hoàn
thành đề tài này.
1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN ODA VÀO

Các cơ quan chính thức cung cấp ODA ( nguồn cung cấp) trên thế giới quan trọng
nhật hiện nay là:
• Tổ chức Uỷ ban trợ giúp phát triển DAC (Development Asistance Committee)
thuộc tổ chức kinh tế phát triển OECD.
• Các tổ chức tài chính quốc tế.
• Các cơ quan hợp tác phát triển của các cường quốc kinh tế.
+Viện trợ không hoàn lại : có quy mô nhỏ, chiếm khoảng ít nhất 25% tổng nguồn vốn
ODA song cũng chỉ là tương đối tuỳ dự án , và chỉ giới hạn trong các lĩnh vực nhân
2
đạo, y tế, văn hoá, giáo dục, cải cách và nâng cao năng lực quản lý hành chính nhà
nước.
+ Vốn vay: có quy mô lớn , chiếm khoảng 75% tổng nguồn vốn ODA nhưng được
vay với lãi suất thấp và thời gian hoàn trả dài.
+ Để tiến hành cung cấp và tiếp nhận vốn hỗ trợ phát triển chính thức, cần phải có các
Điều ước quốc tế về ODA.
Điều ước quốc tế về ODA: là thoả thuận bằng văn bản được ký kết giữa đại diện
của nước tiếp nhận với đại diện của Nhà tài trợ về các vấn đề có liên quan đến ODA,
bao gồm các Nghị định, Nghị định thư, văn kiện chương trình, dự án và các văn bản
trao đổi giữa các bên có giá trị tương đương.
2. Đặc điểm của vốn ODA
2.1.Vốn ODA có tính chất ưu đãi.
ODA là nguồn vốn mang tính chất ưu đãi hơn cả bởi vì bao giờ cũng có một phần
cho không khá lớn.Còn phần cho vay chủ yếu là vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn các
khoản vay thông thường rất nhiều ( thường dưới 3%/năm).Mức độ ưu đãi nhiều hay ít
được thể hiện ở mức lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ.Một khoản vốn vay
ODA thường có thời gian sử dụng vốn dài, thường 30-40 năm ( với các khoản vay từ
ADB, WB và JBIC ) gồm 2 phần : thời gian ân hạn từ 5-10 năm, và thời gian trả nợ
khác nhau ở từng giai đoạn.
Bảng 1.1.Một số thí dụ xác định yếu tố cho không trong viện trợ.
Thời gian (năm)

độ phát triển nhất định thì sự ưu đãi cũng sẽ giảm đi.
3
+Khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định thì sự ưu đãi chính sách và
phương hướng ưu tiên của các bên cho vay.
2.2.Vốn ODA thường gắn với các điều kiện ràng buộc.
ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất
định và một phần sản phẩm quốc dân từ quốc gia phát triển sang quốc gia đang phát
triển.ODA thường đi theo các điều kiện ràng buộc về kinh tế, chính trị, xã hội do bên
cấp ODA áp đặt cho bên nhận hoặc do những tác động khách quan từ môi trường đem
lại nhằm có lợi ích lâu dài cho bên nhận hoặc làm tăng hiệu quả viện trợ.
Thứ nhất, ODA gắn liền với điều kiện chính trị.
ODA là một trong những phương tiện để thực hiện ý đồ chính trị của nước cấp viện
trợ đối với nước nhận viện trợ. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh ODA dùng để lôi kéo
thêm đồng minh vì có sự đối đầu Đông- Tây , nhằm cân bằng lực lượng . Kể từ ngày
các nước XHCN cũ ở Đông ÂU thay đổi thể chế chính trị vào những năm đầu của
thập kỷ 90 , các nước phương Tây đã cung cấp vốn ODA , tạo điều kiện giúp đỡ các
nước này chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường . Bên cấp viện trợ và các nguồn vốn
chính thức khác thường cấp viện trợ cho những người bạn về chính trị và đồng minh
quân sự mà không cấp cho đối tượng là kẻ thù. Trong các nước cấp viện trợ thì Nhật
nặng về Châu Á với 20% dành cho vùng Nam Á và 48,8% dành cho vùng viễn đông .
Viện trợ của Đức và Áo dành phần lớn cho các nước Đông Âu và Liên Xô cũ , còn
Viện trợ của Mỹ hầu như dành cho Trung Đông. Một ví dụ khác là hầu hết các nước
phát triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị, xác định vị trí và ảnh hưởng của
mình tại các nước và các khu vực tiếp nhận ODA. Hoa Kỳ dùng ODA làm công cụ để
thực hiện ý đồ gây "ảnh hưởng chính trị trong thời gian ngắn", một mặt dùng viện trợ
kinh tế để bày tỏ sự thân thiện, tiến đến gần gũi thân thiết về chính trị, mặt khác tiếp
cận với quan chức cao cấp của các nước đang phát triển để mở đường cho hoạt động
ngoại giao trong tương lại. Mỹ "lái" các nước nhận viện trợ chấp nhận một lập trường
nào đó của Mỹ trong ngoại giao và tác động, can thiệp vào sự phát triển chính trị của
các nước đang phát triển. Nhật Bản cũng sử dụng ODA như một công cụ ngoại giao

Công chúng các nước OECD luôn ủng hộ nguyên tắc giúp đỡ những người cần
giúp đỡ. Ở các nước có ODA dưới 0,7% GNP , hơn 70% dân chúng cho rằng chính
phủ nên tăng ngân sách viện trợ phát triển của nước mình . Ở Nhật Bản , một nước
cấp viện trợ lớn nhất trên thế giới , theo thăm dò của chính phủ khoảng 47% số người
được đòi hỏi muốn duy trì mức viện trợ hiện tại và 33% muốn tăng hơn nữa.
Về phía nước nhận viện trợ phần lớn là các nước nghèo , hạn hẹp về nguồn vốn
cần nguồn ODA để phát triển đất nước . Nhưng chính việc nhận viện trợ bên cạnh
kinh tế là được giao lưu văn hoá với các nước viện trợ , nhưng cũng thui chột đi bản
sắc văn hoá dân tộc truyền thống và có hiệu năng lan toả rất mạnh. Do định hướng giá
trị , chuẩn mực văn hoá các nước là khác nhau nên khi văn hoá du nhập thường được
tiếp nhận với một lăng kính khác ví dụ như sức ỳ của tư duy, ỷ lại cho rằng vốn ODA
là của chùa là hỗ trợ thì chẳng cần lợi nhuận lớn làm gì , không cần trả nợ ngay thì sử
dụng thong thả . Hay một bộ phận không nhỏ lợi dụng chức vụ lấy công làm tư , bớt
xén của chùa .
Thứ tư, Có khả năng gây ra gánh nặng nợ nần cho nước tiếp nhận .
Trong thời gian đầu tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, do những điều kiện vay ưu
đãi nên yếu tố nợ nần thường chưa xuất hiện. Một số nước đi vay chủ quan với nguồn
vốn này không sử dụng một cách có hiệu quả . Nước đi vay không trả được lãi và vốn
vay ODA theo đúng cam kết và để lại gánh nặng nợ nước ngoài cho thế hệ sau . Do
đó, nước đi vay khi hoạch định chính sách tiếp nhận vốn ODA cần phải kết hợp với
chính sách thu hút các nguồn vốn khác để chúng hỗ trợ nhau nhằm tăng cường nguồn
vốn , tăng khả năng trả nợ tạo thế chủ động.
- Gánh nặng nợ: Mới chỉ sau 14 năm tái lập việc tiếp nhận ODA ở Việt Nam , số nợ
vay đã khá lớn. Hiện tại hầu hết các khoản nợ ODA đều chưa đến hạn trả gốc nhưng
theo dự báo trong vòng hơn 10 năm tới chúng ta sẽ phải lần lượt trả các khoản nợ này,
ước tính mỗi năm phải trả từ 10% - 14% kim ngạch xuất khẩu cho tất cả các khoản
5
vay. Khi đó trong một chừng mực nhất định, ta phải trả giá và tốc độ tốc độ tăng
trưởng kinh tế có thể bị chậm lại. Đây thực sự là gánh nợ lớn cho các thế hệ tương lai
cùng với mục tiêu phát triển bền vững.

ODA hoàn lại ( ODA cho vay ưu đãi , hay tín dụng ưu đãi ) là các khoản ODA mà các
nhà tài trợ cho các nước cần vốn vay một khoản tiền tuỳ theo quy mô và mục đích của
dự án với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp. Đồng thời , khoản viện trợ
có hoàn lại có chứa đựng thành tố hỗ trợ quy đổi đạt ít nhất 25% trị giá khoản vay
(đối với Việt Nam có quy định tại khoản 2 điều 1 Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày
04/5/2001 của chính phủ) . Tín dụng ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn
ODA trên thế giới và là nguồn phụ thêm để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước , vì
6
vậy nó được sử dụng dưới hình thức tín dụng đầu tư cho các mục đích có khả năng
thu hồi vốn , hoàn trả lại cho nhà nước cả vốn lẫn lãi để trả nợ nước ngoài.
+ ODA cho vay hỗn hợp.
Đó là các khoản ODA kết hợp một phần từ ODA không hoàn lại và một phần tín dụng
thương mại theo các điều kiện của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD).
3.2. Phân loại theo nước tiếp nhận.
+ ODA thông thường : Hỗ trợ cho những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp
thường có thu nhập bình quân đầu người dưới 2 USD/ngày, tương đương
720USD/năm.
+ ODA đặc biệt : Hỗ trợ cho những nước đang phát triển với thời hạn cho vay ngắn,
lãi suất cao hơn.
3.3. Phân loại theo nguồn cung cấp.
+ ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước khác
thông qua hiệp định được ký kết giữa hai chính phủ . Thông thường trong tổng số
ODA lưu chuyển trên thế giới , phần viện trợ song phương chiếm tỷ trọng lớn có khi
lên đến 80 % , lớn hơn rất nhiều nếu so với phần viện trợ đa phương . Vì ODA song
phương là nguồn vốn được chuyển trực tiếp giữa hai chính phủ với nhau nên thủ tục
tiến hành cung cấp và tiếp nhận so với nguồn ODA đa phương đơn giản hơn và thời
gian ký kết viện trợ cũng nhanh hơn . Song các nước cung cấp lại yêu cầu nội dung
của các khoản viện trợ phải rất chi tiết và cụ thể.
+ ODA đa phương: Là hỗ trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF,
WB…) hay tổ chức khu vực ( ADB, EU…) hoặc của một chính phủ nước này dành

Bao gồm các khoản ODA nhằm hỗ trợ ngân sách nhà nước . Hình thức này thực
hiện dưới dạng sau:
- Chuyển giao tiền tệ trực tiếp cho nước nhận ( loại này ít gặp ).
- Viện trợ hàng hoá ( hay viên trợ nhập khẩu ) , tức là chính phủ nước nhận
ODA tiếp nhận một lượng hàng hoá có giá trị tương đương với các khoản cam
kết, bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ.
Ngoại tệ hoặc hàng hoá chuyển vào trong nước theo hình thức hỗ trợ cán cân
thanh toán có thể được chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi nhập
vào nhờ hình thức này được bán trên thị trường trong nước và số thu nhập bằng bản tệ
được đưa vào ngân sách của chính phủ.
4.2. Hỗ trợ chương trình.
Đây là viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp
một khối lượng ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định mà không
phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào . Ví dụ như tài trợ
cho nhập khẩu một số hàng hoá hoặc tài trợ cho sự phát triển chung về giáo dục.
4.3. Hỗ trợ dự án.
Loại viện trợ này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA , điều
kiện để được nhận viện trợ dự án là phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sử
dụng ODA . Có hai loại:
+ viện trợ cơ bản : thường cấp cho những dự án xây dựng công trình đường xá ,
cầu cống , kết cấu hạ tầng. Có kèm theo một bộ phận chủ yếu của viện trợ kỹ
thuật dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất
định nào đó hoặc để soạn thảo , xác nhận các báo cáo cho các đối tác viện trợ.
+ viện trợ kỹ thuật:
- Viện trợ tri thức ( chiếm tỷ trọng lớn nhất) bao gồm viện trợ cho hoạt động
chuyển giao công nghệ , đào tạo kỹ thuật hoặc phân tích về mặt quản lý , kinh
tế, thương mại , thống kê…
- Viện trợ tăng cường cơ sở
- Lập kế hoạch tư vấn cho chương trình.
- Nghiên cứu tiền đầu tư

đồng nghĩa với việc làm giảm thu nhập và mức sống của nhân dân trong nước . Áp
lực này càng trở nên mạnh mẽ hơn trong điều kiện kinh tế của các nước cung cấp viện
trợ gặp khó khăn do những suy thoái và khủng hoảng kinh tế trong nước. Điều này
xảy ra với một số nước cung cấp viện trợ như Nhật Bản trong thập kỷ 90 , Hàn Quốc
trong những năm cuối thập kỷ 90 ,sau khi khủng hoảng khu vực Đông Á và Đông
Nam Á …và ảnh hưởng đến những chương trình đầu tư trong nước.
5.2. Đối với các nước tiếp nhận vốn ODA.
+ Tác dụng tích cực:
-Thứ nhất, Viện trợ đẩy tăng trưởng kinh tế , giảm tình trạng nghèo đói , cải thiện
các chỉ tiêu xã hội.
Viện trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: mối quan hệ giữa viện trợ và tăng trưởng
bình quân đầu người ở các nước đang phát triển không phải dễ dàng nhìn thấy được .
Bởi vì viện trợ chỉ tác động một cách gián tiếp đến tăng trưởng thông qua việc tăng
9
vốn đầu tư vào lĩnh vực chủ yếu hỗ trợ lĩnh vực khác tạo đà phát triển. Đó là cơ sơ hạ
tầng.
Viện trợ góp phần làm giảm đói nghèo : mục tiêu chính của viện trợ là làm giảm
đói nghèo . Quá trình giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển có mối quan hệ chặt
chẽ với thu nhập bình quân đầu người . Với các nước tăng trưởng nhanh thu nhập của
người nghèo tăng nhanh, mức độ đói nghèo sẽ giảm xuống. Bình quân ở các nước
đang phát triển có thu nhập đầu người tăng thêm 1% , dẫn đến tỷ lệ nghèo đói giảm
xuống 2% . Nói cách khác, các nước có cơ chế quản lý tốt viện trợ tăng 1% GDP thực
tế tạo thêm 0,5% tăng trưởng và do vậy dẫn tới giảm tỷ lệ đói nghèo xuống 1%. Là
chìa khoá tạo bước nhảy vọt để giảm nghèo.ODA góp phần làm thu nhập quốc dân
trên đầu người Việt Nam tăng từ mức 100 USD/ người năm 1990 lên 403 USD /
người năm 2000 và 726 USD / người năm 2006. Theo Chương trình Phát triển Liên
Hợp Quốc, Việt Nam đã giảm tỷ lệ nghèo từ 58,1% năm 1993 xuống còn 24,1% năm
2004. (Tính theo tỷ lệ người sống dưới mức 1 đô-la một ngày). Chính phủ Việt Nam
hy vọng giảm tỷ lệ nghèo xuống còn 11% vào năm 2010.
Theo ông Ayumi Konishi, Giám đốc Ngân hàng Phát triển Châu Á tại Việt Nam

+Tác dụng tiêu cực:
Hạn chế lớn nhất của viện trợ phát triển chính thức là các nước nếu muốn nhận
được nguồn vốn này phải đáp ứng các yêu cầu của bên viện trợ . Thông thường sẽ bị
rằng buộc về kinh tế, chính trị.
Tình trạng tập trung ODA vào các thành phố lớn trọng điểm tạo ra sự mất cân đối
trong cơ cấu đầu tư và gián tiếp tạo hố ngăn cách giàu nghèo.
Nguồn vốn ODA dễ tạo ra tham nhũng trong các quan chức chính phủ nếu không có
kiểm soát chặt chẽ. Tránh trở thành con nợ của thế giới .
=>Tóm lại, nguồn vốn ODA chỉ phát huy tác dụng của nó trong một cơ chế quản
lý tốt , môi trường chính trị ổn định , chính sách thông thoáng. Ngược lại, thì chẳng
những không phát huy tác dung tích cực mà để lại gánh nặng nợ nần.
Quảng Ninh đang là tỉnh phát triển , hiện đang mong muốn thu hút nhiều ODA và sử
dụng nó một cách có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế của tỉnh nói riêng và sự nghiệp
đất nước nói chung.Vì vậy tỉnh cần nhận thức tầm quan trọng vốn ODA mà có giải
pháp hợp lý.
II. XU HƯỚNG MỚI CỦA ODA TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY.
Dòng vốn ODA đã và đang khởi động có nhiều sắc thái mới .
- Ngày càng có thêm nhiều các cam kết quan trọng.
mục tiêu của Kiến tạo thế kỷ 21 – vai trò của hợp tác phát triển đã được các nước
thành viên DAC xác định là : vào năm 2015 sẽ giảm 50% người sống ở mức
nghèo khổ trên thế giới, phổ cập giáo dục tiểu học ở tất cả các nước…
- Đi đôi với việc bảo vệ môi trường.
hiệp nghị về môi trường và phát triển liên hiệp quốc được tổ chức vào tháng 6/
1992 . Các tổ chức tài chính quốc tế như WB hay ADB cũng đã điều chỉnh chính
sách viện trợ ưu tiên cho những hoạt động bảo vệ môi trường , tạo môi trường
trong sạch đẹp.
- Nâng cao vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển .
phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước đang phát
triển , vì vậy việc khuyến khích họ tham gia vào hoạt động kinh tế mang lại hiệu
quả cao , không biết bao doanh nhân thành đạt là phụ nữ,. “ Phụ nữ trong phát

hiện các nghị định trên.
Chức năng nhiệm vụ được phân công như sau:
- Bộ kế hoạch và đầu tư là cơ quan đầu mối của Chính phủ trong việc điều phối
và quản lý các chương trình , dự án ODA bao gồm nội dung các công việc
khép kín của một chu trình dự án ODA .
- Bộ tài chính được Chính Phủ uỷ quyền đại diện ký kết các điều ước ODA ; tổ
chức đàm phán các hiệp định vay ưu đãi và quản lý tài chính.
- Các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh , thành phố tuỳ theo chức năng nhiệm vụ của
mính tham gia vào các khâu của chu trình dự án ODA.
- Tại tỉnh Quảng Ninh là cơ quan đầu mối vận động, thu hút, điều phối quản lý
vốn ODA và các nguồn viện trợ phi Chính phủ của tỉnh; hướng dẫn các Sở,
ban, ngành xây dựng danh mục và nội dung các chương trình sử dụng vốn
ODA và các nguồn viện trợ phi Chính phủ; tổng hợp danh mục các chương
trình dự án sử dụng vốn ODA và các nguồn viện trợ phi Chính phủ trình
UBND tỉnh phê duyệt và báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Chủ trì, theo dõi và đánh giá thực hiện các chương trình dự án ODA và các
nguồn viện trợ phi Chính phủ; làm đầu mối xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị
Chủ tịch UBND tỉnh xử lý những vấn đề vướng mắc giữa Sở Tài chính với Sở Kế
12
hoạch và Đầu tư trong việc bố trí vốn đối ứng, giải ngân thực hiện các dự án ODA
và các nguồn viện trợ phi Chính phủ có liên quan đến nhiều Sở, ban, ngành, cấp
huyện, thành phố và cấp xã; định kỳ tổng hợp báo cáo về tình hình và hiệu quả
thu hút sử dụng ODA và các nguồn viện trợ phi Chính phủ.
- Cơ quan đầu mối được phân công là sở kế hoạch và đầu tư. Có chức năng giúp
UBND tỉnh trong việc quản lý thu hút và sử dụng vốn ODA , là cầu nối giữa địa
phương với trung ương và với các địa phương trong tỉnh thụ hưởng ODA ; có
trách nhiệm hướng dẫn các đơn vị ; cơ quan soạn thảo các văn kiện chương trình ,
dự án và triển khai thực hiện theo đúng các quy định của nhà nước.
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ODA CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-


Nguồn: Bộ Kế hoạch và Ðầu tư
Ghi chú: (*) Chưa kể 0,5 tỷ USD dự định hỗ trợ cải cách kinh tế
(**) Chưa kể 0,7 tỷ USD dự định hỗ trợ cải cách kinh tế
Ðể sử dụng nguồn vốn ODA đã cam kết, từ 1993 - 2001, Chính phủ Việt Nam đã
ký kết với các nhà tài trợ các Ðiều ước quốc tế cụ thể về ODA trị giá 14,72 tỷ USD,
đạt khoảng 73,8% tổng vốn ODA đã cam kết tính đến hết năm 2001, trong đó, ODA
vốn vay khoảng 12,35 tỷ USD (84%) và ODA vốn viện trợ không hoàn lại khoảng
2,37 tỷ USD (16%). Tình hình thực hiện ODA đã có bước tiến triển khá, năm sau cao
hơn năm trước và thực hiện tốt kế hoạch giải ngân hằng năm. Từ năm 1993 tới hết
năm 2001 vốn ODA giải ngân khoảng 9,5 tỉ USD, tương đương với khoảng 54% tổng
nguồn vốn ODA đã cam kết.
Nguồn vốn ODA đã được tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội
ưu tiên của Chính phủ, đó là: năng lượng điện (24%); ngành giao thông (27,5%); phát
triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả thuỷ sản, lâm nghiệp, thuỷ lợi (12,74 %);
14
ngành cấp thoát nước (7,8%); các ngành y tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học -
công nghệ - môi trường (11,87%).
Ngoài ra, nguồn ODA cũng hỗ trợ đáng kể cho ngân sách của Chính phủ để thực
hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế và thực hiện chính sách cải cách kinh tế (các khoản tín
dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế mở rộng, Quỹ Miyazawa,
PRGF và PRSC).
Trong những năm qua, nhiều dự án đầu tư bằng vốn ODA đã hoàn thành và được
đưa vào sử dụng, góp phần tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo như Nhà máy
Nhiệt điện Phú Mỹ 2 -1; nhà máy thủy điện sông Hinh; một số dự án giao thông quan
trọng như Quốc lộ 5, Quốc lộ 1A (đoạn Hà Nội - Vinh, đoạn thành phố Hồ Chí Minh-
Cần Thơ, đoạn thành phố Hồ Chí Minh- Nha Trang), cầu Mỹ Thuận..; nhiều trường
tiểu học đã được xây mới, cải tạo tại hầu hết các tỉnh; một số bệnh viện ở các thành
phố, thị xã như bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), bệnh viện Chợ Rẫy (thành phố Hồ Chí
Minh); nhiều trạm y tế xã đã được cải tạo hoặc xây mới; các hệ thống cấp nước sinh

(4) Chính phủ đã phối hợp chặt chẽ với các nhà tài trợ nhằm tăng cường quản lý
ODA, làm hài hoà thủ tục giữa Việt Nam và các nhà tài trợ để thúc đẩy tiến trình thực
hiện các chương trình, dự án ODA: Ngày 12-13 tháng 4 năm 2000, tại Ðồ Sơn, Bộ Kế
hoạch và Ðầu tư đã phối hợp với 3 nhà tài trợ (ADB, Nhật Bản, WB) tổ chức Hội
nghị lần thứ nhất về quản lý các dự án đầu tư sử dụng vốn ODA nhằm xác định và
tháo gỡ những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện chương trình, dự án ODA;
tiếp đó ngày 31 tháng 8 năm 2001, Hội nghị lần thứ 2 với nội dung trên đã được tổ
chức tại Hà Nội nhằm cập nhật và đánh giá tình hình thực hiện các biện pháp đã đề ra
để cải thiện quá trình thực hiện vốn ODA. Một nhóm các nhà tài trợ khác, gồm Anh,
Na uy, Phần Lan, Thuỵ Ðiển, Ðan Mạch, Thụy Sỹ đã phối hợp với các cơ quan của
Chính phủ hoàn tất một số nghiên cứu về hài hoà thủ tục ODA.
Thực tiễn đã cho thấy hài hoà thủ tục giữa Chính phủ và nhà tài trợ là một trong
những cách tiếp cận đúng đắn để bảo đảm chất lượng và tiến độ thực hiện ODA.
(5) Năng lực thực hiện và quản lý các chương trình, dự án ODA đã có bước tiến
bộ. Bằng nhiều hình thức đào tạo khác nhau và qua thực tế thực hiện dự án, nhiều cán
bộ của Việt Nam từ cấp cơ quan quản lý vĩ mô tới các Ban quản lý dự án đã làm quen
và tích luỹ được kinh nghiệm thực hiện và quản lý nguồn vốn ODA.
Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 3 tháng đầu 2008, công tác vận
độn Việt Nam vẫn thuộc diện các quốc gia được hưởng nguồn viện trợ nước ngoài.
Năm 2004, số vốn cam kết của các nhà tài trợ cho Việt Nam lên tới 3,4 tỷ đô-la, so
với 2,7 tỷ đô-la năm 2003. Theo Tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển (OECD), Việt
Nam nằm trong nhóm 10 nước tiếp nhận viện trợ ODA lớn nhất. Cơ sở hạ tầng là lĩnh
vực thu hút viện trợ ODA lớn nhất, chiếm tới 6 trên 10 dự án lớn nhất.
Tuy nhiên, vốn vay chiếm phần lớn trong tổng viện trợ ODA, hiện bằng khoảng 67%
viện trợ ODA. Và số viện trợ được giải ngân trong 11 năm qua chỉ bằng ½ viện trợ
cam kết. Đến năm 2004, một số khoản nợ đầu tiên của Việt Nam đã tới hạn phải trả.
Tổng số nợ Chính phủ/GDP hiện đã lên tới 39%, tỷ lệ dịch vụ trả nợ so với kim ngạch
xuất khẩu là 9,9% và bằng 6% tổng thu ngân sách. Các nguồn ODA là những khoản
tiền đáng quý song phải chú ý đến tính hai mặt của nguồn lực này để đầu tư đúng chỗ
và tránh lãng phí.

vẫn gia tăng, nhưng nhờ những nỗ lực và các giải pháp của Chính phủ đề ra nhằm
hoàn thiện thể chế về quản lý và sử dụng vốn ODA, tình hình thu hút vốn ODA trong
quý 2/2008 vẫn được đánh giá rất khả quan. Theo Vụ Kinh tế đối ngoại Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, trong quý 2/2008 này Việt Nam sẽ ký với Nhật Bản các Hiệp định trị giá
khoảng 1 tỷ USD cho một số dự án cơ sở hạ tầng thiết yếu, ký với Liên minh châu Âu
(EU) Hiệp định trị giá 10,8 triệu USD cho Dự án: “Phát triển nguồn nhân lực du lịch
Việt Nam”, ký với Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) Hiệp định trị giá 1,5 triệu Euro
(khoảng 2,3 triệu USD) viện trợ không hoàn lại cho Quỹ Đầu tư phát triển đô thị
Tp.HCM (HIFU)... Cụ thể năm 2008 đã tập trung vào 4 điểm sau:
Thứ nhất, các ngành, các địa phương tập trung rà soát lại các công trình sử dụng
vốn ODA do mình quản lý để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các cơ
chế, chính sách nhằm tăng cường năng lực quản lý và sử dụng vốn ODA, đào tạo cán
bộ quản lý dự án theo hướng chuyên nghiệp và bền vững.
Thứ hai, các địa phương phải tổ chức tốt việc thực hiện Đề án định hướng thu hút
và sử dụng nguồn hỗ trợ chính thức (ODA) thời kỳ 2006-2010 và Kế hoạch hành
động thực hiện Đề án này.
Thứ ba, tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 48/2008/QĐ-TTg ngày 3/4/2008 ban
hành Hướng dẫn chung lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát
triển chính thức của Nhóm 5 ngân hàng, gồm: Ngân hàng Phát triển châu Á, Cơ quan
Phát triển Pháp, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản, Ngân hàng Tái thiết Đức,
Ngân hàng Thế giới. Phối hợp với 5 nhóm ngân hàng này để thực hiện các giải pháp
cấp bách và Kế hoạch hành động cải thiện tình hình thực hiện các chương trình, dự án
ODA thời kỳ 2006-2010.
17
Thứ tư, tổ chức thực hiện theo “Khung theo dõi và đánh giá các chương trình, dự
án ODA thời kỳ 2006-2010” để có những đánh giá, điều chỉnh kịp thời nhằm hạn chế
tình trạng chậm giải ngân và để xây dựng kế hoạch cho những dự án tiếp theo.
=>Như vậy trong 5 năm gần đây Việt Nam liên tục đạt kỷ lục trong thu hút vốn
ODA. Điều này chứng minh cho thực tế hiện nay Việt Nam đang nhận được sự ủng
hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với chính sách phát triển kinh tế. Tuy vậy

Than đá là nguồn tài nguyên chính. Từ lâu Quảng Ninh đã là khu công nghiệp than
lớn của cả nước, trữ lượng khoảng 3 tỉ tấn. Mỗi năm khai thác 6 - 7 triệu tấn than.
Quảng Ninh là vùng du lịch nổi tiếng, có Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là
Di sản thiên nhiên của thế giới.
18
Ngoài than, Quảng Ninh có ưu thế về vật liệu xây dựng (đá vôi, đất sét, cát, đá
Pyproxit Tấn Mài...) để sản xuất gạch, ngói, xi măng, đáp ứng nhu cầu nguyên, nhiên
liệu cho nhiều ngành công nghiệp trong cả nước. Quảng Ninh có thuận lợi về kinh tế
cảng biển, trong đó có cảng nước sâu Cái Lân, tương lai là một trong những cảng
quan trọng của quốc gia.
Đất nông nghiệp có trên 74.000 ha, trong đó 35.000 ha đất canh tác, sản xuất mỗi
năm 150 - 160 ngàn tấn lương thực, đáp ứng cơ bản nhu cầu khu vực nông thôn. Đất
lâm nghiệp có 390.000 ha, tỉ lệ che phủ của rừng đạt trên 23%.
Ven biển , cá biển 20000 -25000 tấn/năm. Hơn 40000 ha bãi biển , 20 ha eo vịnh và
hàng chục ha vùng nông ven vịnh Hạ Long, Bái Tử Long.
1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Quảng.
Kinh tế tăng trưởng ở mức cao, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP, giá so sánh) ước
tăng 12,8% so với cùng kỳ; các nguồn lực và các ngành có lợi thế được phát huy đời
sống nhân dân tiếp tục cải thiện...Tính chung trong lĩnh vực dịch vụ, giá trị tăng thêm
6 tháng đầu năm 2008 ước đạt 3.336,8 tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ, cao hơn
mức kế hoạch đề ra của cả năm từ 1,4 – 2,4% (kế hoạch 16 - 17%). Các hoạt động
thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động và đạt tốc độ tăng trưởng cao. Với tổng
mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội ước đạt 6.398,9 tỷ đồng, tăng 30%
so với cùng kỳ. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tăng khá, tổng thu ngoại tệ ước
đạt 653 triệu USD, tăng 16,8%, trong đó xuất khẩu hàng hoá 649 triệu USD; kinh
doanh dịch vụ thu ngoại tệ ước đạt 4,2 triệu USD, tăng 9,6%. Một số sản phẩm xuất
khẩu tăng khá so với cùng kỳ là: Than, tùng hương, dầu thực vật, gạch ngói...
Khách du lịch đến Quảng Ninh ước đạt 2,16 triệu lượt người, bằng 65% kế hoạch,
tăng 32% so với cùng kỳ (trong đó khách quốc tế 767 ngàn lượt). Cơ cấu khách quốc
tế đến Quảng Ninh có những tín hiệu tích cực. Số khách đến từ Trung Quốc tăng 2,3

13% kế hoạch. Tổng vốn đầu tư ngân sách Nhà nước thực hiện đạt 556 tỷ đồng, bằng
40% kế hoạch, trong đó vốn ngân sách tập trung do tỉnh quản lý thực hiện 290 tỷ
đồng. Vốn do các huyện, xã quản lý thực hiện đạt 65 tỷ đồng. Một số công trình trọng
điểm của tỉnh tiếp tục được quan tâm chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện như: Trụ sở
liên cơ quan số 2 phấn đấu cuối năm sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng trong tháng 1-
2008; sân vận động Hồng Gai đã hoàn thành bước thiết kế kỹ thuật-tổng dự toán;
Bệnh viện Lao và Phổi Quảng Ninh đang hoàn thiện để phê duyệt; Nhà hát Hạ Long
đang lựa chọn phương án kiến trúc… Nhìn chung, công tác đầu tư XDCB 6 tháng đầu
năm nay có chuyển biến tích cực, thể hiện ở việc triển khai kế hoạch các nguồn vốn
sớm; bố trí đúng mục tiêu (trong đó nguồn ngân sách tập trung đã dành 82% kế hoạch
vốn (280/341 tỷ đồng) bố trí cho các công trình hoàn thành và chuyển tiếp) nên đã
hạn chế được việc dàn trải trong đầu tư. Công tác chuẩn bị thực hiện đầu tư cũng
được triển khai tích cực. Trong tổng số 69 công trình được ghi kế hoạch khởi công
mới, tính đến 30- 5, UBND tỉnh phê duyệt kết quả đấu thầu 28 công trình, phê duyệt
kế hoạch đấu thầu 14 công trình. Đối với nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà
nước, kế hoạch cho vay năm 2007 của Trung ương đối với các dự án trên địa bàn tỉnh
là 1.145 tỷ đồng, trong đó chủ yếu cho 2 dự án Nhà máy xi măng: Thăng Long và Hạ
Long. Hiện tại các chủ đầu tư đang tích cực triển khai thi công xây dựng, lắp đặt máy
móc, ước trong 6 tháng đầu năm sẽ giải ngân được 250 tỷ đồng, bằng 22% kế hoạch.
Về vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Trong 6 tháng đầu năm tỉnh đã chỉ đạo
các ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án sử dụng vốn ODA trên
địa bàn như: Dự án thoát nước vệ sinh môi trường Hạ Long - Cẩm Phả, y tế nông
thôn, trồng rừng Việt - Đức… Hiện nay 2 dự án sử dụng nguồn vốn ODA của (Nhật
Bản) đã được đồng ý về chủ trương đầu tư là Dự án bảo vệ môi trường thành phố Hạ
Long (230 triệu USD) và dự án Cầu Vân Tiên (90 triệu USD), tỉnh đang hoàn thiện
cung cấp hồ sơ theo yêu cầu của các Bộ, ngành Trung ương và nhà đầu tư.
Đánh giá tình hình kinh tế- xã hội 6 tháng đầu năm thấy rằng: Mặc dù kinh tế duy trì
tăng trưởng ở mức cao, các ngành kinh tế trọng điểm chưa đạt kế hoạch đề ra. Để
hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2008 đòi hỏi phải có sự nỗ lực
phấn đấu cao hơn nữa của toàn tỉnh.

phương
59 50.97 243.95 15.29 369.21
Đa phương 4.3 0 38.73 9.02 52.05
Tổng cộng 63.3 50.97 282.68 24.31 421.26
Ghi chú : - Các dự án ODA lớn hầu hết được thực hiện trong nhiều năm.
- Các dự án chỉ tính 1 lần.
Nguồn : Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Quảng Ninh
2.1.2.Về quy mô và cơ cấu vốn ODA.
Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển là khâu quyết định đối với sự nghiệp
phát triển của mỗi địa phương . Nhận thức được tầm quan trọng này tỉnh Quảng
Ninh đã tập trung huy động các nguồn lực , trong đó dành sự ưu tiên huy động vốn
ODA thông qua các chương trình xây dựng hạ tẩng (điện , giao thông nông thôn,
các công trính cấp thoat nước…). Đến nay Quảng Ninh thu hút được 44 dự án vốn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) , với tổng số tài trợ 420 triệu USD trong đó có
32 dự án đã kết thúc với giá trị tài trợ 142 triệu USD ;12 dự án đang triển khai ở
các mức độ khác nhau với giá trị tài trợ khoảng278 triệu USD . Trong đó , các dự
án viện trợ không hoàn lại có 30 dự án với số vốn tài trợ khoảng 133 triệu USD
chiếm khoảng 31.67% và vốn vay có 14 dự án với số vốn khoảng 287 triệu USD
chiếm 68.33% tổng giá trị vốn ODA của Quảng Ninh. Các dự án ODA tập trung
21
chủ yếu trong lĩnh vực giao thông (chiếm 45%), lĩnh vực cấp thoát nước ( chiếm
42%), lĩnh vực môi trường , y tế , giáo dục , văn hoá …chiếm phần còn lại.
Phần lớn các khoản vay ODA của Quảng Ninh đều hương lãi suất ưu đãi khoảng
từ (0.75%-2%/năm), với thời hạn vay thường dài trên 30 năm và có khoảng 10
năm ân hạn . Mức độ giải ngân vốn ODA của các dự án là khác nhau. thường phụ
thuộc vào tính chất và thời gian thực hiện .
Nhưng nhìn chung thì cơ cấu vốn ODA trong tổng vốn đầu tư còn khá khiêm tốn
chỉ đạt 3,36% năm 2004 thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước (13-
15%).
2.1.3.Tình hình thu hút ODA vào Quảng Ninh theo đối tác viện trợ.

xây lắp: 1 gói thầu về cầu chính (gói thầu BC2 ) do Liên danh nhà thầu Nhật Bản
Shimizu & Sumitomo Mitsui thi công và 2 gói thầu về đường dẫn lên cầu (gói thầu
22
BC1) do Cienco1 - Licogi thi công và (BC3) do liên danh Cienco1 - Trường Sơn thi
công
+ ADB: Thông qua các Bộ ngành ở Trung ương , ADB đã cung cấp cho Quảng Ninh
khoản vay lớn với mức vốn ký kết là 144.3 tỷ VNĐ. Đây là nhà tài trợ lớn thứ 2 cho
Quảng Ninh . Lĩnh vực mà ADB tài trợ là nông nghiệp và phát triển nông thôn (2 dự
án) , y tế , cấp nước .
+ WB : Hàng năm cũng dành sự quan tâm đáng kể cho tỉnh với dự án như Dự án thoát
nước và vệ sinh môi trường Hạ Long - Cẩm Phả, ngày 3-10 đại diện Ngân hàng Thế
giới (WB).
+ Đan Mạch :hỗ trợ 21 tỷ đồng cho Quảng Ninh . Thời gian vừa qua Đan Mạch có hỗ
trợ thực hiện hợp phần Su Ma giai đoạn I và tiếp tục thực hiện Su Ma giai đoạn II với
trị giá 21 tỷ đồng . Hợp tác của DANIDA với Quảng Ninh mới chỉ dừng ở lĩnh vực
cấp nước . Tuy nhiên tỷ lệ ưu đãi mà DANIDA dành cho tỉnh cũng cao ( thời gian vay
30 năm , có 10 năm ân hạn , lãi suất 0% , tỷ lệ mua sắm hàng hoá có xuất sứ Đan
Mạch là 50% .)
+UNIDO: Hỗ trợ cho tỉnh theo quy định giới hạn ở hình thức hỗ trợ kỹ thuật . Hỗ trợ
kỹ thuật , UNIDO cũng đã dành cho Quảng Ninh khoản ODA đầu tiên và kết quả
triển khai được đánh giá là tốt.
+Na Uy : Nhà tài trợ này cũng dành ưu tiên cho Quảng Ninh thông qua dự án hỗ trợ
xây dựng thể chế . Các mục tiêu hỗ trợ đã thực hiện với kết quả tốt , tỷ lệ giải ngân
tương đối cao.
+Italy: Thủ tục yêu cầu phía Italy đang là trở ngại lớn cho việc triển khai dự án . Tuy
vậy Quảng Ninh cũng đã rất tích cực hợp tác giữa Bộ Y tế và Đại sứ quán Italy để
sớm triển khai dự án. Các nhà tài trợ này , với tiềm lực tài chính và chính sách hướng
dẫn , chương trình hợp tác đối ngoại của họ đã quyết định đặc điểm quy mô và xã
hướng mở rộng hoặc giảm nguồn ODA vào Quảng Ninh.
2.1.5.Cơ cấu sử dụng vốn ODA theo huyện , thị xã :

dự án . Bởi vùng sâu xa ít điều kiện thuận lợi , tài nguyên thiên nhiên nên ít được
sự chú ý của các nhà tài trợ . Tỉnh cần có tính toán khoa học tìm hiểu tình hình
từng vùng thường xuyên để có thể có sự phân bổ ODA một cách thích hợp phát
triển toàn vùng chứ không chỉ một vùng cụ thể nào .
2.1.6.Tình hình thu hút ODA vào Quảng Ninh theo ngành , lĩnh vực.
2.1.6.1.Các dự án đường giao thông sử dụng vốn ODA:
Do địa hình phức tạp có cả hải đảo , đồi núi nên hệ thống giao thông vô cùng quan
trọng cho phát triển kinh tế của tỉnh . Tỉnh Quảng Ninh đã chú trọng đầu tư vào lĩnh
vực này những năm qua đặc biệt phân bổ lượng vốn ODA rất lớn vào lĩnh vực này.
Theo báo cáo của Ban Quản lý dự án l, đến nay tỉnh Quảng Ninh có 9 dự án công
trình hạ tầng giao thông đang được chuẩn bị triển khai thực hiện.
a. về đường bộ :Các dự án giao thông nông thôn đã góp phần nâng cao năng lực của
ngành giao thông với gần 2.283 km đường bộ đã kiên cố hoà bằng bê tông và nhựa
Atphalt, một số trục đường liên thôn , toàn tỉnh có trên 100 cầu lớn nhỏ , liên xã đã đi
vào sử dụng . Việc triển khai các dự án này tương đối thuận lợi do các dự án đều là
nâng cấp , cải tạo hoặc làm mới mặt đường nên không phải thực hiện khâu giải phóng
mặt bằng.
24
Trong đó: Dự án nâng cấp tỉnh lộ 340 (Hải Lạng-Lương Mông) đã duyệt dự án và
lập xong hồ sơ thiết kế; đường dẫn cầu Đá Vách-đường 188 đã mời tư vấn khôi phục
lại cọc, mốc theo hồ sơ được duyệt; Dự án nâng cấp tỉnh lộ 337 (Loong Toòng- cầu
Bang) đã phê duyệt thiết kế kỹ thuật thi công, dự kiến trong tháng 12-2006 triển khai
thi công; Dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 18 Mông Dương-Móng Cái đã trình Bộ
Giao thông Vận tải xem xét phê duyệt dự án đầu tư; Dự án tỉnh lộ 329 đơn vị tư vấn
đã lập dự án đầu tư, dự kiến trong tháng 11-2006 sẽ trình duyệt với tổng mức đầu tư
140 tỷ đồng; các dự án xây dựng cầu vượt trên Quốc lộ 18, Ban Quản lý Dự án l đã
tiếp nhận hồ sơ, lập xong dự án đầu tư và trình thẩm định . Đồng chí Nguyễn Minh
Bạch, Giám đốc Sở Giao thông-Vận tải cho biết: Vừa qua Sở Giao thông-Vận tải phối
hợp với các địa phương đã tổ chức khởi công xây dựng 6 cầu treo dân sinh .Cầu treo
được xây dựng ở các địa phương sau: Khu vực Đồng Đình - Cao Lâm, xã Phong Dụ

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status