1. Khái niệm về tỷ giá và chính sách tỷ giá
1.1 Khái niệm về tỷ giá
Có nhiều khái niệm về tỷ giá được đưa ra từ những trường phái khác nhau:
Theo trường phái cổ điển: Tỷ giá là so sánh ngang giá vàng trong nội dung
đồng tiền mỗi nước. Khái niệm này đúng trong chế độ bản vị vàng, theo chế độ
bản vị vàng các quốc gia ấn định giá trị đồng tiền của mình với vàng: 1 ounce
vàng đổi được bao nhiêu đồng tiền mỗi nước, từ sự ngang giá vàng đó tỷ giá
giữa hai đồng tiền được xác định. Như vậy bản vị vàng giữa hai đồng tiền trở
thành tỷ giá hối đoái.
Theo trường phái tự nhiên học: Tỷ giá là quan hệ, là hệ số dùng để chuyển
đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác. Theo trường phái này thì tỷ giá được
công bố cố định bởi ngân hàng trung ương cho phép đổi lượng đơn vị tiền tệ của
nước này sang tiền tệ nước khác và tỷ giá này không chịu sự tác động của bất kỳ
yếu tố thị trường nào.
Theo trường phái hiện đại: Tỷ giá là giá cả đồng tiền nước này được biểu
hiện bằng đơn vị tiền tệ nước khác. Theo Kinh tế chính trị Mác-Lênin giá cả là
biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá trị đồng tiền của một quốc gia được xác định
dựa vào cung cầu tiền tệ nước đó. Như vậy khái niệm mà trường phái hiện đại
đưa ra, tỷ giá đã được xác định dựa trên quan hệ cung cầu trên thị trường. Tỷ giá
được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu chính là tỷ giá mà các nền kinh tế
đều hướng tới. Do đó có thể đưa ra định nghĩa về tỷ giá như sau: “ Tỷ giá là giá
cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác”.
Phân loại:
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại tỷ giá:
Thứ nhất: Căn cứ vào cơ chế quản lý tỷ giá được phân loại thành tỷ giá cố
định, tỷ giá thả nổi và tỷ giá thả nổi có quản lý.
Tỷ giá cố định: Là tỷ giá được NHTW công bố cố định trong một biên độ
dao động hẹp. Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định,
1
buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc
gia thay đổi.
thị trường ngoại tệ liên ngân hàng): Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh
chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Tỷ giá này được áp dụng để tính
thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức.
Ngoài ra ở VN tỷ giá chính thức còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh
doanh trong biên độ cho phép.
Tỷ giá tự do: Là tỷ giá hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan
hệ cung cầu trên thị trường tự do quyết định.
Thứ năm: Căn cứ theo bản chất tỷ giá được phân loại thành tỷ giá danh
nghĩa và tỷ giá thực.
Tỷ giá danh nghĩa: Là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua
đồng tiền khác mà chưa đề cập tới tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ
giữa chúng.
Tỷ giá thực: Là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được
điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước với nước ngoài, do đó nó là chỉ số
phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ.
Thứ sáu: Căn cứ theo hồ sơ, chứng từ thanh toán tỷ giá được phân loại
thành:
Tỷ giá điện hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Ngày nay do ngoại
hối được chuyển chủ yếu bằng điện nên tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng là tỷ
giá điện hối.
Tỷ giá thư hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư ( không phổ biến).
Tỷ giá tiền mặt: Là tỷ giá áp dụng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc
du lịch và thẻ tín dụng. Thông thường tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán
tiền mặt cao hơn tỷ giá chuyển khoản.
Tỷ giá chuyển khoản: Là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ
là các khoản tiền gửi tại ngân hàng.
3
1.2 Khái niệm chính sách tỷ giá.
Theo nghĩa rộng: Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ ( mà
đại diện thường là NHTW) thông qua 1 chế độ tỷ giá nhất định và hệ thống các
chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết tồn tại khi NHTW tiến hành can thiệp tích cực
trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng nhất
định, nhưng NHTW không cam kết duy trì một tỷ giá cố định hay một biên độ
dao động hẹp xung quanh tỷ giá trung tâm. Chẳng hạn NHTW không công bố và
không cam kết duy trì một mức tỷ giá cố định nào, nhưng cam kết can thiệp để
tỷ giá ngày hôm nay chỉ biến động trong một giới hạn tỷ lệ phần trăm nhất định
so với ngày hôm trước. Đây được xem như chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa chế độ tỷ
giá cố định và chế độ tỷ gíá thả nổi hoàn toàn.
Các công cụ can thiệp của chính phủ:
Công cụ can thiệp của chính phủ gồm hai nhóm công cụ: nhóm công cụ tác
động trực tiếp và nhóm công cụ tác động giá tiếp:
Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá:
Được thực hiện thông qua hoạt động của NHTW trên thị trường ngoại hối
thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định ( trong chế
độ tỷ giá cố định) hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất
định theo mục tiêu đã đề ra ( trong chế độ tỷ giá thả nổi). Để tiến hành can thiệp,
buộc NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại hối đủ mạnh. Hơn nữa các hoạt
động can thiệp trực tiếp của NHTW tạo ra hiệu ứng thay đổi cung tiền tệ trong
lưu thông, có thể tạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát không mong muốn cho
nền kinh tế; chính vì vậy, đi kèm theo hoạt động can thiệp trực tiếp, NHTW
thường phải sử dụng thêm một nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư
cung hay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ trong lưu thông. Do có những hạn chế
nhất định, nên các NHTW của các nước phát triển đã dần dần chuyển từ can
thiệp trực tiếp sang can thiệp gián tiếp mà chủ yếu là thông qua công cụ lãi suất
tái chiết khấu.
Ngoài ra trong nhóm công cụ trực tiếp phải kể đến các biện pháp can thiệp
hành chính của chính phủ có thể áp dụng là:
5
Biện pháp kết hối: Là việc chính phủ quy định đối với các thể chế và pháp
nhân có nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời gian nhất
Ngoài các công cụ gián tiếp thông dụng nêu trên, trong từng thời kỳ chính
phủ ( chủ yếu là các nước đang phát triển) còn có thể áp dụng một số biện pháp
cá biệt khác:
+ Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các NHTM: Khi
ngoại tệ khan hiếm trên thị trường ngoại hối, NHTW có thể tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc đối với vốn huy động bằng ngoại tệ của các NHTM, làm cho chi phí sử
dụng vốn ngoại tệ tăng lên; để kinh doanh có lãi buộc các NHTM phải hạ thấp
lãi suất huy động ngoại tệ, kết quả là việc nắm giữ ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn
hơn so với nắm giữ nội tệ, khiến cho những người sở hữu ngoại tệ phải bán đi
lấy nội tệ, làm tăng cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
+ Quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ
+ Quy định trạng thái ngoại tệ với các NHTM ngoài mục đích chính là
phòng ngừa rủi ro tỷ giá, còn có tác dụng hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp
lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối.
II. Chính sách tỷ giá của Việt Nam qua các giai đoạn trong các giai đoạn từ
năm 1955 đến nay
1. Thời kỳ 1955- 1989:
Đây là thời kỳ nền kinh tế mang tính kế hoạch hóa tập trung bao cấp, Nhà
nước can thiệp vào mọi mặt đời sống xã hội, quyết định các chính sách kinh tế
vi mô và vĩ mô theo một kế hoạch quy mô tập trung toàn quốc. Sự can thiệp này
đã ngăn cản khả năng phát huy tác dụng của quy luật cung cầu trên thị trường,
nếu có thì cũng bị bóp méo, sai lệch. Hơn nữa, hệ thống các nước XHCN lại áp
dụng một chiến lược phát triển kinh tế hướng nội, đóng cửa, các mối quan hệ
bên ngoài đều thông qua hệ thống độc quyền của Nhà nước về ngoại thương và
ngoại hối do đó độc quyền trong việc ban hành và ấn định tỷ giá. Vì vậy việc áp
dụng chế độ tỷ giá cố định do Nhà nước độc quyền xác định, không cần tính đến
yếu tố cung cầu của thị trường. Với cơ sở kinh tế như vậy, Việt Nam cũng như
7
các nước Xã Hội Chủ Nghĩa khác đều duy trì phương pháp xác định tỷ giá dựa
trên cơ sở so sánh sức mua đối nội và sức mua đối ngoại giữa các đồng tiền và