Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở việt nam - Pdf 32

Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
Phần 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1 Khái niệm
Cho thuê là một giao dịch hợp đồng giữa hai chủ thể - bên chủ sở hữu tài sản và
bên sử dụng tài sản. Trong đó, bên chủ sở hữu tài sản - bên cho thuê chuyển giao tài sản
cho bên đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định và bên sử dụng phải thanh toán tiền
thuê cho bên chủ sở hữu tài sản.
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn, thông qua việc cho thuê
máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho
thuê giữa bên cho thuê và bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương
tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu
đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong
suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận.
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc
tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tổng số
tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương
đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
Theo quy định của Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế, bất cứ một giao dịch cho thuê
nào thỏa mãn ít nhất một trong bốn tiêu chuẩn sau đây đều được gọi là cho thuê tài chính:
o

Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi chấm dứt thời hạn hợp đồng.

o

Hợp đồng có quy định quyền chọn mua.

o

đồng thuê, tiền lãi được thanh toán đầy đủ trong quá trình sử dụng vốn, nhưng vốn gốc
chưa hoàn trả đầy đủ. Trường hợp này có ba các giải quyết và được quy định trong hợp
đồng.
o Người thuê đồng ý mua tài sản: phần vốn gốc đã được hoàn trả dưới dạng tiền thanh
toán mua tài sản.
o Người mua muốn thuê tiếp tài sản: phần vốn gốc được hoàn trả dưới dạng thanh
toán tiền thuê trong thời gian hợp đồng cho thuê được gia hạn.
o Người đi thuê không muốn thuê tiếp tài sản: phần vốn gốc được hoàn trả dưới dạng
hiện vật, tức là tài sản thuê mua.
Trong bất kỳ một trường hợp nào đi nữa thì nguyên tắc hoàn trả của tín dụng luôn
luôn được bảo đảm; tiền thuê và giá trị tài sản thường lớn hơn giá trị tài sản ban đầu , đây
chính là sự trao đổi tài sản không ngang giá - bản chất của một quan hệ tín dụng. Đó gọi là
tiền lãi mà người cho vay được hưởng ngoài giá trị ban đầu của tín dụng.
Như vậy trong cho thuê tài chính luôn luôn đảm bảo ba nguyên tắc, của một hợp
đồng tín dụng đó là tính kỳ hạn, tính hoàn trả và tính lãi suất.
3.2.

Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn:

Trong giao dịch cho thuê tài chính, nhà cho thuê vẫn nắm giữ quyền sở hữu tài sản
và vì thế họ là người quản lý tài sản cho thuê. Để hợp thức hóa hành vi này, các nhà cho
GVHD: PGS. TS Trầm Thị Xuân Hương

Trang 2


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam
thuê phải tiến hành các thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, đăng ký tài
sản giao dịch đảm bảo…điều này sẽ phát sinh nhiều loại chi phí. Nếu tài trợ bằng những
tài sản có giá trị thấp và thời gian ngắn sẽ khó thực hiện được vì chi phí quản lý sẽ rất cao


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam
tranh. Đứng trên góc độ người cho thuê phương thức tài trợ này có một số lợi ích so với
loại tài trợ khác như sau:
o Bên cho thuê với tư cách là sở hữu chủ về mặt pháp lý và nắm quyền sử dụng, vì
vậy họ được quyền quản lý và kiểm soát tài sản theo các điều khoản của hợp đồng thuê.
Trong trường hợp bên đi thuê không thanh toán tiền thuê đúng hạn thì bên cho thuê được
thu hồi tài sản, đồng thời buộc bên đi thuê phải bồi thường các thiệt hại.
o Trong trường hợp bên đi thuê bị phá sản thì tài sản cho thuê tài chính không bị phát
mãi, bên cho thuê thu hồi lại được.
o Đối tượng tài trợ được thực hiện dưới dạng tài sản cụ thể gắn liền với mục đích kinh
doanh của bên đi thuê, vì vậy mục đích sử dụng vốn được đảm bảo, từ đó tạo tiền đề để
hoàn trả tiền thuê đúng hạn (do đó ít rủi ro).
1.3.3. Đối với bên đi thuê:
Thông thường đối với các khoản vốn vay trung và dài hạn, các ngân hàng thương
mại luôn đòi hỏi tài sản đảm bảo ( thế chấp hoặc cầm cố) và chỉ cho vay tối đa là 80% tổng
chi phí thực hiện dự án, nhưng với kênh cho thuê tài chính, doanh nghiệp chẳng những
không cần ký quỹ đảm bảo hay tài sản thế chấp mà còn có thể được tài trợ đến 100% vốn
đầu tư. Lãi suất hoàn toàn dựa trên sự thỏa thuận của 2 bên.
Tài sản thuê tài chính nằm trên Bảng cân đối kế toán do đó làm cho Bảng cân đối
đẹp hơn trong mắt nhà đầu tư.
Kênh tín dụng này cũng cho phép doanh nghiệp được hoàn toàn chủ động trong
việc lựa chọn máy móc thiết bị, nhà cung cấp, cũng như mẫu mã chủng loại phù hợp với
yêu cầu của doanh nghiệp mình. Ngoài ra nếu doanh nghiệp đã lỡ đầu tư mua tài sản mà
thiếu vốn lưu động thì vẫn có thể bán lại cho công ty cho thuê tài chính và sau đó công ty
sẽ cho doanh nghiệp thuê lại. Như vậy doanh nghiệp vừa có vốn lưu động cho hoạt động
sản xuất kinh doanh mà vẫn được sử dụng tài sản.
Kết thúc thời hạn thuê, doanh nghiệp có ba quyền lựa chọn, một là trả lại tài sản
thuê (do máy móc lạc hậu không còn phù hợp với điều kiện hoạt động kinh doanh), thứ hai
là tiếp tục thuê tài sản, thứ ba là được quyền ưu tiên mua lại tài sản với giá trị danh nghĩa


Bên cho thuê

1

Bên đi thuê

2B

1.4.2 Cho thuê tài chính 3 bên

GVHD: PGS. TS Trầm Thị Xuân Hương

Trang 5


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam
Theo phương thức này, bên cho thuê chỉ thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của
bên đi thuê và đã được hai bên thỏa thuận theo hợp đồng thuê.
* Ưu điểm:
+ Bên cho thuê không phải mua tài sản trước và như vậy sẽ làm cho vòng quay của
vốn nhanh hơn vì không phải dự trữ tồn kho.
+ Tài sản được chuyển giao trực tiếp giữa bên cung cấp và bên đi thuê và giữa họ chịu
trách nhiệm trực tiếp về tình trạng hoạt động của tài sản, cũng như thực hiện việc bảo hành
và bảo dưỡng tài sản. Như vậy bên cho thuê trút bỏ gánh nặng về tình trạng hoạt động của
tài sản và hạn chế được rủi ro liên quan đến việc từ chối nhận hàng của bên đi thuê do
những sai sót về mặt kĩ thuật.
Quy trình CTTC 3 bên
Người cho thuê
(Lessor)


2A: Giao quyền sở hữu tài sản

3 : Định kỳ trả tiền thuê

1.4.3. Tái cho thuê
- Nội dung: trong hoạt động kinh doanh có nhiều doanh nghiệp thiếu vốn lưu động để
khai thác tài sản cố định hiện có, vì thế họ sẽ bán một phần tài sản của mình cho Ngân
hàng hoặc công ty tài chính sau đó thuê lại tài sản để sử dụng và như vậy doanh nghiệp sẽ
có thêm nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu vốn lưu động.
GVHD: PGS. TS Trầm Thị Xuân Hương

Trang 6


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam
- Trường hợp áp dụng: Với những doanh nghiệp không có đủ nguồn vốn lưu động để
khai thác tài sản cố định hiện có hoặc doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.
Quy trình tái cho thuê
2A
2B
1A

Người cho thuê
(Công ty TC)

Người đi thuê

1B
2C

Người đi thuê1
(Leasse 1)

GVHD: PGS. TS Trầm Thị Xuân Hương

2
3A
1B

Người đi thuê 2
(Leasse 2)

Trang 7


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam
1A: Ký hợp đồng thuê
1B: Ký hợp đồng thuê

3A: Trả tiền thuê
3B: Trả tiền thuê

2 : Chuyển giao tài sản
1.4.5. Cho thuê hợp tác
Không phải là hình thức đồng tài trợ vì: Bên cho thuê không là trái chủ trong quan hệ
cho thuê, còn bên cho vay không là trái chủ trong quan hệ cho vay hay nói cách khác vốn
tài trợ trong phương thức này bao gồm 2 phần: một phần là vốn của bản thân bên cho thuê
và một phần là vốn vay được cung cấp từ các bên cho vay. Đồng thời, bên cho thuê phải
thanh toán tiền lãi vay cho bên đi vay.
Quy trình cho thuê hợp tác


2A: Lập thủ tục chuyển quyền sở hữu

1B: Ký hợp đồng mua

2B: Thanh toán tiền mua

1C: Ký hợp đồng tín dụng

2C: Chuyển quyền sử dụng

1D: Ký hợp đồng bảo hành

3A: Thanh toán tiền thuê
3B: Thanh toán tiền vay

1.5 Phương thức tính tiền thuê và nguyên giá tài sản thuê tài chính:
Với n: số năm thuê tài chính
r: lãi suất thỏa thuận
NG: nguyên giá tài sản cho thuê tài chính
C: số tiền thuê tài chính trả hàng năm
1 − (1 + r ) − n 
NG
=
C
Nếu trả cuối kỳ:


r


nghiệp còn thiếu.
* Trường hợp tiền thuê trả vào cuối kỳ:
1 − (1 + 14%) −8 
 ⇒ A = 107,785 triệu
14%



500 triệu = A x 

Số tiền 107.785 triệu doanh nghiệp phải trả hàng năm bao gồm một phần nợ gốc và phần
lãi phát sinh trong năm đó. Điều đó được thể hiện qua bảng trả nợ sau:
Đvt: triệu đồng
Năm

Tổng số

Trả nợ
Tiền lãi

Nợ gốc

0

Dư nợ
500

1

107,785


51,805

55,980

341,055

5

107,785

43,986

63,817

250,237

6

107,785

35,033

72,752

177,485

7

107,785


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam

Bảng trả nợ như sau:
Đvt: triệu đồng
Năm

Tổng số

Trả nợ
Tiền lãi

0

0

Nợ gốc
94,548

Dư nợ
405,452

1

94,548

56,763

37,785


219,506

5

94,548

30,731

63,817

155,689

6

94,548

21,796

72,752

82,937

7

94,548

11,611

82,937



của tài sản cho thuê.
Bên thuê gánh chịu phần lớn rủi ro

Bên cho thuê gánh chịu phần lớn rủi

liên quan đến tài sản (bên thuê phải

ro liên quan đến tài sản (bên cho thuê

có trách nhiệm bảo dưỡng, chịu rủi

phải có trách nhiệm bảo dưỡng, chịu

ro, thiệt hại về tài sản đi thuê).
Bên cho thuê cam kết bán lại tài sản

rủi ro, thiệt hại về tài sản đi thuê).
Không có cam kết bán lại tài sản.

cho bên thuê khi kết thúc thời hạn
hợp đồng.
Trong thời gian thuê, người đi thuê

Trong thời gian thuê, người đi thuê có

không được phép huỷ ngang hợp

thể huỷ ngang hợp đồng


Phần 2:
THỰC TRẠNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
2.1.

Thực trạng:

2.1.1

Chủ thể tham gia trên thị trường:

Tính đến thời điểm hiện nay thì chỉ có 13 công ty cho thuê tài chính đang hoạt động
chính thức trên thị trường thuê mua ở Việt Nam. Vốn của các công ty cho thuê tài chính rất
nhỏ, trong khi huy động vốn lại rất hạn chế. Với số vốn điều lệ cấp từ ngân hàng mẹ (150500 tỷ đồng), chỉ đủ để các công ty cho thuê tài chính hoạt động trong vài năm.
Các chủ thể có nhu cầu thuê tài chính trên thị trường cho thuê tài chính là các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh,... và cá nhân hoạt động trong nhiều lĩnh vực,
ngành nghề khác nhau. Tuy nhiên, thực tế thì khách hàng đi thuê chủ yếu là các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải và xây dựng.
2.1.2

Hàng hoá trên thị trường:

Thực trạng hàng hoá CTTC tại Việt Nam: Hiện nay, tài sản CTTC chủ yếu tập
trung vào phương tiện vận tải, máy móc thiết bị đáp ứng được tỷ lệ 37% so với nhu cầu
của nền kinh tế. Tiếp đến là máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ cũng chỉ đáp ứng
được 34% so với nhu cầu của nền kinh tế. Máy móc, thiết bị của một ngành khác được tài
trợ bằng phương thức thuê tài chính như thiết bị ngành in, máy móc công trình sử dụng
cho hoạt động xây dựng cơ bản cũng chiếm một tỷ trọng thấp so với nhu cầu của nền kinh
tế.
Đánh giá thực trạng hàng hoá CTTC tại Việt Nam: Chiến lược khách hàng tập trung
vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt ưu tiên cho các doanh nghiệp làm hàng xuất

2.2.
2.2.1

CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ HẠN CHẾ TỒN TẠI
Các kết quả đạt được:

CTTC thực sự là một kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng được đánh giá là
khá hữu hiệu tạo điều kiện thu hút vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhất là đối với
các DN vừa và nhỏ. Quy mô hoạt động kinh doanh CTTC phát triển khá nhanh và tăng
trưởng vượt bậc qua các năm.
Có một điều rất đáng khuyến khích là trong hoạt động kinh doanh của mình các
công ty CTTC thường không có sự phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế khác nhau,
đối tượng CTTC chủ yếu là các DN ngoài quốc doanh; các DN đi thuê còn được hưởng lợi
ích từ các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến; được hưởng các dịch vụ tư vấn miễn phí
và những thông tin cần thiết khác từ những nhà cung cấp dịch vụ.
Theo đánh giá chung hoạt động CTTC trong thời gian qua đã dần mở rộng quy mô
đối tượng cho thuê và thành phần khách hàng tham gia, doanh số cho thuê ngày một tăng
cao, chất lượng hoạt động CTTC tương đối tốt, tỷ lệ nợ quá hạn ở mức cho phép, lợi nhuận
năm sau tăng hơn năm trước...
Đa dạng hóa các loại hình cho thuê tài chính, trong đó điển hình là Công ty Cho
thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACB Leasing) sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt

GVHD: PGS. TS Trầm Thị Xuân Hương

Trang 13


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam
Nam chấp thuận cho phép cung ứng dịch vụ ngoại hối theo Giấy phép số 5623/NHNNTTGSNH, từ ngày 28/07/2010, đã chính thức triển khai cho thuê tài chính, bảo lãnh và các
dịch vụ ủy thác, tư vấn bằng ngoại tệ - bên cạnh việc cho thuê tài chính bằng VND như


Trang 14


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam
Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư phát triển, ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển Nông thôn…) có doanh nghiệp dưới hình thức công ty cho thuê tài chính 100% vốn
nước ngoài (công ty cho thuê tài chính Kexim – 100% vốn Hàn Quốc, Công ty cho thuê tài
chính ANZ – 100% vốn của ngân hàng ANZ và V-TRACT), lại có doanh nghiệp thuộc
hình thức đa sở hữu như Công ty cho thuê tài chính liên doanh (công ty cho thuê tài chính
VLIC) và mới đây có thêm Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
(Sacombankleasing), Ngân hàng ACB (ACB leasing) tham gia thị trường này. Lượng vốn
cấp theo hình thức cho thuê tài chính chiếm tỷ lệ khá nhỏ so với hình thức cấp vốn của
ngân hàng. Trong khi đó, với lợi thế của mình, đáng lẽ loại hình dịch vụ cho thuê tài chính
phải được phát triển nhanh chóng ở Việt Nam, nơi mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang
cần thu hút một lượng vốn lớn cho đầu tư cũng như cho tái đầu tư mở rộng.
Trên thực tế, trước hết nhu cầu về vốn đối với doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn,
tuy nhiên số doanh nghiệp hiểu biết về kênh cấp vốn qua dịch vụ cho thuê tài chính còn
hạn chế, hoạt động quảng bá, giới thiệu về dịch vụ này đến doanh nghiệp còn yếu. Theo
một cuộc khảo sát ngẫu nhiên mới đây đối với 100 doanh nghiệp thuộc các thành phần
khác nhau thì có tới 70% số doanh nghiệp được hỏi biết rất ít và chưa bao giờ tìm hiểu, sử
dụng dịch vụ cho thuê tài chính, gần 20% hoàn toàn không hề biết về dịch vụ này, thậm
chí có doanh nghiệp hiểu cho thuê tài chính như hoạt động mua trả góp, nhiều doanh
nghiệp chưa hiểu rõ bản chất cấp tín dụng của dịch vụ cho thuê tài chính, chưa thấy rõ
được hiệu quả, lợi ích từ dịch vụ cho thuê tài chính mang lại…. Trên thị trường Việt Nam,
hiện nay rất nhiều doanh nghiệp cần vốn để đổi mới công nghệ, mua sắm máy móc thiết
bị...nhưng thay vì đến các công ty tài chính để tìm sự giúp đỡ thì các DN này lại tìm đến
ngân hàng để vay vốn mặc dù ở đây thủ tục rất chặt chẽ và điều kiện để được vay vốn khó
hơn rất nhiều. Thực trạng trên một mặt là do thói quen khó thay đổi của các DN ở Việt
Nam nhưng một phần quan trọng là do hoạt động kinh doanh CTTC chưa được tuyên

DN có quy mô vừa và nhỏ. Việc huy động được nguồn vốn cũng như khả năng tích luỹ của
các công ty CTTC là rất khó khăn trong khi đó việc phát hành giấy tờ có giá để huy động
vốn gần như không thực hiện được vì phải có sự đồng ý của Ngân hàng Nhà nước
(NHNN).
Vướng mắc trong các quy định của pháp luật liên quan đến đăng ký hợp đồng cho
thuê tài chính nhằm bảo vệ quyền hợp pháp của bên cho thuê tài chính:
o

Giữa các quy định của pháp luật vẫn chưa có sự thống nhất, đồng bộ: Theo

quy định tại khoản 7 Điều 26 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP thì bên thuê “không được
dùng tài sản thuê để thế chấp, cầm cố hoặc để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ khác”. Tuy
GVHD: PGS. TS Trầm Thị Xuân Hương

Trang 16


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam
nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ về
giao dịch bảo đảm thì “trong trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản thuê có thời hạn từ
một năm trở lên của DN, cá nhân có đăng ký kinh doanh gồm máy móc, thiết bị hoặc động
sản khác không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu và hợp đồng thuê được đăng ký tại
cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ
ngày giao kết hợp đồng thuê thì bên cho thuê có thứ tự ưu tiên thanh toán cao nhất khi xử
lý tài sản bảo đảm; nếu không đăng ký hoặc đăng ký sau thời hạn trên và sau thời điểm
giao dịch bảo đảm đã đăng ký thì bên nhận bảo đảm được coi là bên nhận bảo đảm ngay
tình và có thứ tự ưu tiên thanh toán cao nhất khi xử lý tài sản bảo đảm”. Ngoài ra, theo
quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì “tổ chức, cá nhân nhận
bảo đảm bằng tài sản mua trả chậm, trả dần, tài sản thuê sau thời điểm đăng ký hợp đồng
mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê không được coi là bên nhận bảo đảm ngay tình”.

không, vì nếu xác định “bên thứ ba” bao gồm cả cơ quan công quyền thì thứ tự thanh toán
giữa Nhà nước và các tổ chức, cá nhân phải được giải quyết trên cơ sở bình đẳng về mặt
lợi ích. Về vấn đề này, pháp luật một số nước trên thế giới đã quy định bên thứ ba được
hiểu bao gồm cả cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, pháp luật cũng liệt kê cụ thể những lợi ích
liên quan đến cơ quan nhà nước được ưu tiên thanh toán so với các chủ thể khác. Việc
pháp luật quy định rõ ràng, chính xác và công bằng quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ
thể (bao gồm cả Nhà nước) có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo tính an toàn pháp lý cho
các giao dịch cho thuê tài chính.
o

Chưa có cơ chế thuận lợi để bên cho thuê thực thi tốt nhất quyền năng trên

thực tế: Trong trường hợp bên thuê không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
đã cam kết trong hợp đồng thuê tài chính thì bên cho thuê phải có quyền thu hồi tài sản
trong thời gian nhanh nhất, ít tốn kém nhất, nhưng vẫn phải bảo đảm nguyên tắc khách
quan, trung thực, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên
quan. Ngoài ra, cần nghiên cứu để có sự thay đổi về quan điểm lập pháp khi điều chỉnh
hành vi của các bên ký kết hợp đồng cho thuê, đó là: áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn đối
với những tranh chấp liên quan đến việc xử lý tài sản cho thuê tài chính; tăng cường cơ
chế, biện pháp để bên cho thuê nhanh chóng tiếp cận và thu hồi tài sản hoặc chỉ cần xuất
trình 02 chứng cứ là: (i) hợp đồng cho thuê tài chính hợp pháp và (ii) bên thuê vi phạm
nghiêm trọng cam kết, thì bên cho thuê có quyền thu hồi tài sản thuê. Việc áp dụng quy
trình tố tụng giản lược giúp thời gian thu hồi tài sản trên thực tế được rút ngắn hơn rất
nhiều so với việc áp dụng các biện pháp xét xử khác
Ví dụ: Các dạng thức vi phạm hợp đồng trong hoạt động CTTC thiên biến vạn hóa
khó lường. Điển hình là việc BIDV Leasing ký hợp đồng cho Công ty TNHH Việt Linh
thuê máy xúc đào thủy lực Komatsu. Khi thực hiện hợp đồng, công ty này đã tự ý chuyển
giao tài sản cho bên thứ 3 mà không được sự cho phép của BIDV Leasing và trong quá
GVHD: PGS. TS Trầm Thị Xuân Hương


không chịu giao tài sản, nếu không có sự hỗ trợ của các cơ quan thi hành pháp luật. Việc
bán tài sản cho bên thứ ba lại phải được sự đồng ý của Bộ Thương mại và như vậy nảy
sinh vấn đề truy thu thuế nhập khẩu? Liệu có nghịch lý không khi mà chủ sở hữu lại không
có quyền định đoạt đối với tài sản của mình?
Điều này làm số lượng hợp đồng cho thuê tài chính được đăng ký tại các trung tâm
đăng ký ngày càng giảm mạnh. Thống kê số lượng hợp đồng cho thuê tài chính đăng ký:
GVHD: PGS. TS Trầm Thị Xuân Hương

Trang 19


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam

Trung tâm Đăng ký Trung tâm Đăng ký Trung tâm Đăng ký
tại TP. Hà Nội
Năm 2009
741
Năm 2010
648
Từ
01/01/2011 168

tại TP. HCM
1389
1263
78

tại TP. Đà Nẵng
145
127


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam
Ví dụ: Những sai phạm tại Công ty Cho thuê tài chính II (ALC II) với số lỗ
được kiểm toán hơn 3.000 tỉ đồng đang gióng lên hồi chuông báo động về hoạt động
của các công ty cho thuê tài chính hiện nay.
Cho thuê tài chính sai nguyên tắc: Trong hoạt động huy động vốn, ALC II đã vi
phạm các quy định huy động tiền gửi ngắn hạn. Trong hai năm 2008-2009, công ty này
huy động sáu hợp đồng tiền gửi dưới 12 tháng với số tiền trên 510 tỉ đồng nhằm đáp ứng
khả năng thanh toán cho các khoản cam kết đầu tư, cho thuê của công ty. Bên cạnh đó,
công ty trả lãi cho khách hàng không đúng thỏa thuận theo hợp đồng, gây thiệt hại trên 1,1
tỉ đồng. Công ty huy động 26 hợp đồng trị giá hơn 1.300 tỉ đồng với mức lãi suất trên
17,5%/năm, vượt trần lãi suất quy định của Ngân hàng NN&PTNT.
Đối với hoạt động cho thuê tài chính, HĐQT công ty đã ban hành văn bản hướng
dẫn có nội dung không đầy đủ, trái quy định nhà nước, thực hiện thẩm định hồ sơ trước khi
cho thuê còn nhiều vi phạm. Nhiều khách hàng thuê không trả được nợ gốc và lãi hoặc có
nợ xấu ở các tổ chức tín dụng khác nhưng công ty vẫn mua và cho thuê thêm tài sản...
Trong đó, điển hình là nhóm năm công ty của ông Lê Xuân Ninh thuê tài chính 10 con tàu
với tổng số tiền 326 tỉ đồng. Ngoài ra, ALC II không thực hiện quy định kiểm tra chất
lượng tài sản cho thuê theo quy định, thực hiện mua, cho chuyển đối tác cho thuê một số
tàu biển sử dụng trong thời gian ngắn đã phải đưa vào sửa chữa, nâng cấp với số tiền trên
100 tỉ đồng...
Mua tài sản cho thuê có dấu hiệu không bình thường: Theo KTNN, một trong
những sai phạm dẫn đến thua lỗ nhiều nhất của là đầu tư vào tài sản cho thuê. Công ty đầu
tư tài sản cho thuê không có dự toán, thiết kế; đầu tư vào tài sản cho thuê nhưng không có
cơ sở xác định giá của tài sản hoặc có dấu hiệu không bình thường trong việc xác định giá
tài sản. Ngoài ra, Công ty CTTCII giải ngân không căn cứ tiến độ hợp đồng và chứng từ
chứng minh tiến độ thực hiện. Cụ thể, hợp đồng đầu tư mua dây chuyền nghiền đá của
Công ty TNHH Thịnh Tường - Đồng Nai có giá trị 7,1 tỉ đồng đã được giải ngân, nhưng
đến thời điểm kiểm toán vẫn chưa có tài sản cho thuê.


Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới với đỉnh
cao là việc gia nhập WTO. Điều đó cho phép khẳng định, thị trường Việt Nam là một bộ
phận của thị trường quốc tế, trong đó có thị trường tài chính. Việc đón bắt cơ hội, vượt qua
thách thức là một yêu cầu lớn đối với nền kinh tế, trong đó đòi hỏi chúng ta phải hoàn
thiện các loại thị trường. Hơn nữa, chỉ trong một thời gian ngắn sau khi gia nhập WTO,
việc thị trường tài chính, ngân hàng của Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt
từ các dịch vụ tài chính, ngân hàng, trong đó có dịch vụ cho thuê tài chính từ nước ngoài là
một xu thế tất yếu.
Dựa vào những nội dung trên thì thấy, kết quả hoạt động của dịch vụ cho thuê tài
chính có mối liên hệ mật thiết với sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, điều này
đã được chứng minh và khẳng định ở Cam kết tiếp tục hỗ trợ mạnh mẽ cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa phát triển, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát
triển mạnh mẽ các loại hình doanh nghiệp.
Ngoài ra, tiềm năng để loại hình dịch vụ cho thuê tài chính phát triển còn thể hiện ở
việc gia tăng số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta trong thời gian vừa qua - tức
là “môi trường kinh doanh” cho dịch vụ này ngày càng mở rộng hơn nữa. Theo các kết quả
khảo sát mới đây, số lượng doanh nghiệp trong những năm qua đã tăng lên nhanh chóng,
theo thống kê nước ta có trên 500.000 doanh nghiệp ….. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là
động lực mạnh mẽ tạo nên sự tăng trưởng cho nền kinh tế và là nơi giải quyết công ăn việc
làm nhiều nhất lại đang phải gặp những khó khăn về vốn đầu tư, đổi mới máy móc, thiết bị
công nghệ. Các doanh nghiệp này dễ bị các ngân hàng từ chối cho vay vì một số lý do: đa
số doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa đều yếu ở 6 khâu cơ bản để
gia nhập và tham gia thị trường như đã tổng kết ở 6 chữ M trong tiếng Anh là: vốn
(money), nguyên vật liệu (materials), nhân lực (man Power), quản lý (management) và tiếp
cận thị trường (marketing). Do đó, từ các yếu tố trên cho thấy một thị trường dịch vụ cho
thuê tài chính đầy hứa hẹn, tiềm năng phát triển cho các nhà kinh doanh trong và ngoài
GVHD: PGS. TS Trầm Thị Xuân Hương

Trang 23


thêm đối tượng tham gia hoạt động cho thuê tài chính, quy định thêm tài sản dùng để cho
GVHD: PGS. TS Trầm Thị Xuân Hương

Trang 24


Phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam
thuê, các phương thức cho thuê, quy định thêm về đối tượng bảo hiểm tài sản dùng để cho
thuê tài chính...
Với hệ thống pháp luật về cho thuê tài chính đồng bộ sẽ góp phần giúp cho chủ sở
hữu, các công ty cho thuê tài chính và các doanh nghiệp thuê tài chính tuân thủ pháp luật,
thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền và lợi ích được pháp luật ghi nhận, bảo vệ.
Tham khảo và vận dụng có chọn lọc các ưu thế và chuẩn mực của quốc tế về cho thuê tài
chính.
Hai là Nhà nước cần có chính sách cụ thể về thuế đối với các phương thức cho
thuê tài chính khác nhau
Nhà nước cần có những chính sách về thuế có thể khuyến khích, thu hút các nhà
đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào thị trường này, tăng cung cho thị trường thuê tài
chính, thúc đẩy chuyển giao công nghệ thông qua hoạt động cho thuê tài chính, tăng khả
năng cạnh tranh giữa các công ty cho thuê tài chính với các tổ chức tài chính, tín dụng
khác. Nên có chính sách khuyến khích thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh
nghiệp cho thuê tài chính t rong những năm đầu. Việc miễn thuê thu nhập này sẽ tạo ra sức
thu hút đầu tư trong lĩnh vực này. Mặt khác, cần nới rộng những ưu đãi về thuế chuyển
tiền, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài dành riêng cho hoạt động cho thuê tài chính. Điều
này sẽ khuyến khích các công ty cho thuê tài chính nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Ba là xây dựng các chính sách hỗ trợ khác cho hoạt động thuê mua
Cùng với việc bổ sung và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động thuê mua, Nhà
nước cần thiết lập một số chính sách hỗ trợ khách để tạo điều khiện cho hoạt động ngày
càng phát triển và hoàn thiện:
Cần có những chính sách ưu đãi như hỗ trợ vốn với lãi suất thấp, vay trả chậm nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status