Nguyễn Thị Thu Hiền Kiểm toán 45A
1
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Thu Hiền Kiểm toán 45A
PHẦN MỞ ĐẦU
2
PHẦN NỘI DUNG
3
1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ SAI SÓT VÀ GIAN LẬN 3
1.1. Sai sót 3
1.2. Gian lận 4
1.2.1. Khái niệm gian lận và các yếu tố cơ bản của gian lận 4
1.2.2. Các loại gian lận và biểu hiện của gian lận 5
1.2.2.1
.
Gian lận liên quan tới báo cáo tài chính 5
1.2.2.2
.
Biển thủ tài sản 9
1.3. Các yếu tố làm nảy sinh và tăng hành vi gian lận, sai sót 11
2. ẢNH HƯỞNG CỦA GIAN LẬN VÀ SAI SÓT TỚI BÁO CÁO
TÀI CHÍNH
13
3. TRÁCH NHIỆM LIÊN QUAN TỚI GIAN LẬN, SAI SÓT 14
3.1. Trách nhiệm của Ban giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị 14
3.2. Trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán 14
4. NHỮNG HẠN CHẾ VỐN CÓ CỦA CUỘC KIỂM TOÁN ĐỐI
VỚI VẤN ĐỀ GIAN LẬN VÀ SAI SÓT
16
5. ĐÁNH GIÁ RỦI RO GIAN LẬN 18
5.1. Phỏng vấn ban giám đốc 18
người chịu trách nhiệm trong việc ngăn chặn và phát hiện các hành vi gian lận và
sai sót trong doanh nghiệp hay không. Để nghiên cứu vấn đề này, em xin chọn nội
dung chính cho bài viết này là : “ Bàn về gian lận và sai sót với trách nhiệm của
kiểm toán viên trong kiểm toán tài chính”.
Nguyễn Thị Thu Hiền Kiểm toán 45A
3
1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ SAI SÓT VÀ GIAN LẬN
Sai sót và gian lận đều là những sai phạm, do vậy bề ngoài chúng có một số
điểm tương đồng. Tuy nhiên, về mặt bản chất thì chúng có nhiều điểm khác nhau,
và có ảnh hưởng khác nhau tới trách nhiệm của kiểm toán viên. Vì vậy, việc phân
biệt hành vi sai sót và gian lận có ý nghĩa quan trọng tới cuộc kiểm toán.
1.1. Sai sót
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 240 (VSA 240), sai sót là lỗi không cố
ý, có ảnh hưởng tới báo cáo tài chính.
Sai sót thường biểu hiện dưới nhiều hình thức, cụ thể như:
Lỗi trong quá trình thu thập và xử lý các dữ liệu trong quá trình lập báo
cáo tài chính. Ví dụ như: lỗi về tính toán số học, nhầm lẫn, bỏ sót hay
hiểu sai sự việc một cách vô tình.
Lỗi trong các ước tính kế toán không phù hợp do sơ suất quên hoặc do
hiểu sai bản chất
Lỗi trong việc áp dụng các nguyên lý kế toán về đo lường, ghi nhận, phân
loại và trình bày và áp dụng sai chế độ kế toán tài chính do thiếu năng
lực.
Sai sót có thể là lỗi của Ban giám đốc hay người quản lý, hoặc có thể là lỗi
của nhân viên. Sai sót nảy sinh do tác động của nhiều yếu tố kết hợp với nhau.
Trước hết là do trình độ năng lực của nhân viên bị hạn chế. Tại các đơn vị không
xây dựng một tiêu chuẩn tuyển dụng lao động một cách phù hợp thì dễ dàng xảy ra
hiện tượng các nhân viên được tuyển dụng vào vị trí mà họ chưa đủ năng lực để
thực hiện. Đồng thời trong điều kiện xã hội liên tục phát triển như hiện nay, các
kiến thức mới cần phải được cập nhật đều đặn cho nhà quản lý cũng như các nhân
hay các khoản phải công khai trong các chứng từ kế toán hoặc báo cáo tài chính
của một chủ thể. Gian lận cũng bao gồm cả sự ăn cắp cho dù có hay không có các
sai sót trên chứng từ kế toán hay báo cáo tài chính.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240), gian lận là những
hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong
Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh
hưởng tới báo cáo tài chính.
Nguyễn Thị Thu Hiền Kiểm toán 45A
5
Như vậy, dù định nghĩa theo cách nào thì về bản chất, gian lận là hành vi cố ý
lừa dỗi, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi. Theo đó ta có thể thấy
được các yếu tố cơ bản của gian lận như sau:
Phải có ít nhất hai bên trong gian lận, có nghĩa là phải có bên thực hiện
hành vi gian lận và bên đã hoặc có thể đã phải chịu hậu quả của gian lận
Có sai sót trọng yếu hoặc sự trình bày không đúng sự thật được thực hiện
một cách cố ý bởi người có hành vi gian lận
Phải có sự chủ định của người thực hiện hành vi gian lận rằng sự trình
bày sai này sẽ ảnh hưởng tới nạn nhân
Nạn nhân phải có quyền hợp pháp để đáp trả lại sự trình bày đó
Nhìn chung có sự cố gắng che dấu gian lận
Gian lận nhất thiết phải có sự vi phạm tính trung thực
1.2.2. Các loại gian lận và biểu hiện của gian lận
Dựa vào tính chất của gian lận, ta có thể chia thành hai loại: một là các gian
lận liên quan đến báo cáo tài chính, hai là các gian lận liên quan đến việc biển thủ
tài sản.
1.2.2.1. Gian lận liên quan tới báo cáo tài chính
Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin về tình hình tài chính,
kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp để giúp nhà quản lý và những người sử
dụng thông tin trên báo cáo tài chính ra các quyết định. Vì vậy, yêu cầu của các
thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính là phải trung thực, hợp lý và khách
thu đối với hàng gửi bán. Theo nguyên tắc, hàng gửi bán dù đã giao cho bên nhận
đại lý cũng không được ghi nhận là doanh thu, mà nó vẫn được coi là hàng tồn kho
của doanh nghiệp. Hành vi gian lận này nhằm khai tăng doanh thu trong kỳ của
doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một cách nữa cũng có thể được áp dụng là doanh
nghiệp ghi nhận doanh thu sớm đối với hàng hoá đã được lập hoá đơn nhưng vẫn
lưu giữ tại doanh nghiệp cho tới khi khách hàng yêu cầu. Các nghiệp vụ này không
đáp ứng đầy đủ các điều kiện ghi nhận doanh thu theo Chuẩn mực kế toán Việt
Nam số 14. Một cách thức khác dẫn tới gian lận là việc ghi nhận các khoản trả
trước cho hàng hoá, dịch vụ như là doanh thu phát sinh trong kỳ, hoặc ghi nhận các
khoản doanh thu chưa thực hiện thành các khoản doanh thu trong kỳ. Hành vi này
Nguyễn Thị Thu Hiền Kiểm toán 45A
7
mang lại lợi ích trong khoảng thời gian ngắn cho doanh nghiệp bởi nó làm giảm
trách nhiệm đồng thời ghi tăng doanh thu của doanh nghiệp, tuy nhiên nó đã xâm
phạm nguyên tắc thận trọng và các chuẩn mực kế toán.
Bên cạnh đó, gian lận về hàng tồn kho và giá vốn hàng bán cũng là một loại
gian lận khá phổ biến. Hàng tồn kho là một khoản mục trọng yếu trên Bảng Cân
đối kế toán của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp
thương mại và doanh nghiệp sản xuất. Đồng thời, khi nhìn vào công thức tính lợi
nhuận ròng của doanh nghiệp, ta có thể thấy rằng những thay đổi trong giá vốn
hàng bán làm ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp và thuế thu nhập
doanh nghiệp phải nộp. Trong khi đó, giá vốn hàng bán lại có quan hệ mật thiết đối
với khoản mục hàng tồn kho, và kế toán hàng tồn kho cũng như việc tính giá vốn
hàng bán khá phức tạp, vì vậy dễ chứa đựng gian lận. Tuỳ theo mục đích của người
quản lý, họ có thể điều chỉnh cho giá vốn hàng bán tăng lên hoặc giảm đi bằng
nhiều cách. Chẳng hạn, ghi nhận sai giá trị của hàng hoá mua vào, không ghi nhận
các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại và giá trị hàng trả lại, bỏ qua
việc ghi nhận giá vốn của hàng bán đã ghi nhận doanh thu hoặc ghi nhận giá vốn
hàng bán của hàng gửi bán ; phản ánh hàng nhận ký gửi, giữ hộ là hàng tồn kho
của doanh nghiệp; đánh giá sai giá trị hàng tồn kho khi tiến hành đánh giá lại hàng
trình thu mua, sửa chữa, khai báo những tài sản không có thực hoặc thông đồng
với bên thứ ba ghi tăng giá trị tài sản. Một cách thức khác là khai khống các khoản
phải thu trong khi không ghi nhận doanh thu.
Qua một số ví dụ điển hình về gian lận liên quan tới báo cáo tài chính kể trên,
có thể nhận thấy rằng những người quản lý doanh nghiệp là những người có nhiều
khả năng gây ra gian lận loại này, bởi họ là người thiết lập ra hệ thống chính sách
trong doanh nghiệp, họ có động cơ và lợi ích trực tiếp từ những gian lận này. Thực
tế cũng cho thấy rằng, hầu hết sự phá sản của các công ty lớn trên thế giới do gian
lận về báo cáo tài chính đều có liên quan đến những nhà quản lý và những người
đứng đầu công ty. Ví dụ như sự phá sản của Enron, một công ty năng lượng lớn
nhất nước Mỹ, đứng thứ bảy trong số các công ty lớn nhất của Mỹ, do sự báo cáo
gian lận để lừa dối các cổ đông. Lãnh đạo Enron đã không chịu đứng ở vị trí sản
xuất và buôn bán năng lượng mà còn “lấn sân” sang những lĩnh vực dịch vụ tài
chính trong nghành năng lượng. Đây là lĩnh vực kinh doanh đầy mạo hiểm và cần
Nguyễn Thị Thu Hiền Kiểm toán 45A
9
rất nhiều vốn. Để che giấu việc công ty đã vay quá khả năng chi trả, lãnh đạo
Enron đã lợi dụng khe hở luật pháp để lập ra các công ty con mà không khai báo
tài chính. Bằng cách này, Enron vừa không phải công khai các khoản nợ, vừa che
giấu được những khoản lỗ. Kết quả là Enron đã thổi phồng lợi nhuận của mình và
giá cổ phiếu cũng theo đó tăng lên vun vút. Khi mà Enron phải thông báo chính
thức là từ năm 1997 công ty đã thua lỗ trên 500 triệu USD, những “người trong
cuộc” đã kịp thời thu được những món lợi khổng lồ từ cổ phiếu của công ty, cụ thể
như ông Giám đốc điều hành đã thu lợi được 33 triệu USD. Hoặc như Giám đốc
điều hành của E*Trade đã bỏ túi 4.9 triệu USD cho tiền lương và thưởng, một
khoản nợ xoá nợ vay 15 triệu USD và trên 9 triệu USD lợi nhuận từ quỹ hưu
1.2.2.2. Biển thủ tài sản
Biển thủ tài sản là hành vi ăn cắp tài sản của công ty. Biển thủ tài sản có thể
do nhân viên của công ty gây ra hoặc do chính người lãnh đạo của công ty. Trường
hợp do nhân viên gây ra thì thường có qui mô nhỏ hơn so với sự biển thủ do người
ra thì nó thường làm tăng số dư của các tài khoản khác, chẳng hạn tài khoản phải
thu khách hàng hoặc Hàng tồn kho.
Việc biển thủ các tài sản không phải là tiền được chia thành hai loại: ăn cắp
các tài sản vật chất và sử dụng tài sản của công ty phục vụ cho mục đích cá nhân.
Việc ăn cắp tài sản của công ty xảy ra phổ biến hơn. Nó có thể xảy ra công khai
ngay cả khi các nhân viên khác cũng biết về hành vi này do nhân viên có ý thức
kém, nể nang trong quan hệ với đồng nghiệp, coi hành vi đó không nghiêm trọng
hoặc có thể do bị đe doạ, hoặc thủ tục báo cáo phức tạp. Cũng giống như việc ăn
trộm tiền, biển thủ các tài sản của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tới các khoản mục
khác, như làm tăng khoản phải thu, làm hao hụt hàng tồn kho. Hành vi sử dụng sai
mục đích các tài sản của doanh nghiệp như: ôtô, xăng dầu, điện thoại, máy tính,
thiết bị văn phòng, các công cụ dụng cụ,.... thường gắn liền với việc ăn cắp thời
gian làm việc, chẳng hạn nhân viên có thể lợi dụng chuyến đi công tác để đi nghỉ
hay sử dụng máy tính, điện thoại,... vào các mục đích cá nhân ngay trong giờ hành
chính. Việc lạm dụng này thường có ảnh hưởng không trọng yếu nếu như nó được
thực hiện bởi những nhân viên thông thường. Tuy nhiên, nó cũng có thể là trọng
yếu khi bị gây ra bởi những người quản lý cấp cao.
Nguyễn Thị Thu Hiền Kiểm toán 45A
11