Lời mở đầu
Trong gần một thập kỷ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1999,
kinh tế thế giới đã phát triển mạnh me, tạo ra bong bóng giá bất động sản và chứng
khoán trên nhiều quốc gia. Bong bóng nhà ở cùng với sự giám sát tài chính thiếu
hoàn thiện ở Hoa Kỳ đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm
2007, sau đó đã bùng phát mạnh từ cuối năm 2008. Thông qua quan hệ mật thiết về
tài chính nói riêng và kinh tế nói chung của Hoa Kỳ với nhiều nước, cuộc khủng
hoảng từ Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài
chính, suy thoái kinh tế và suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế
giới.
Việt Nam tuy không bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính
và suy thoái toàn cầu nhưng cũng không thể tránh khỏi những tác động của nó.
Trước những ảnh hưởng đó, chính phủ đã lần lượt đề ra các gói kích cầu nhằm cải
thiện nền kinh tế và đời sống người dân. Liệu gói kích cầu của chính phủ có phát
huy hiệu quả hay không? Cụ thể hơn, nền kinh tế của Việt Nam có được khả quan
hơn sau gói kích cầu của chính phủ hay không? Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề
tài : “ Đánh giá gói kích cầu và quá trình phục hồi của nền kinh tế Việt Nam sau
cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 ”
Page 1
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN : ( 1 )
Gói kích cầu hay gói kích thích kinh tế là gì?
Đó là thuật ngữ dùng để chỉ các chính sách tài khoá nhằm trợ giúp hoặc hồi
phục nền kinh tế trong suy thoái. Các gói kích thích được dùng để vực dậy hoạt
động kinh tế trong thời kỳ kinh tế suy yếu qua cách làm tăng tổng cầu. Cách thức
này thực hiện dựa trên lý thuyết cho rằng nếu hàng hoá và dịch vụ được mua nhiều
hơn, tiền thuế hoàn lại cho người dân se được sử dụng để mua sắm thì cầu se không
giảm xuống, các doanh nghiệp se không phải sa thải công nhân, như vậy cầu se
ngừng giảm và kinh tế se không tiếp tục rơi vào tình trạng suy thoái giúp vực dậy
Nguyên tắc số 2 - Kích cầu phải đúng đối tượng:
Gói kích cầu có thành công hay không se phụ thuộc rất nhiều vào xu hướng chi
tiêu và đầu tư của các đối tượng thuộc diện nằm trong gói kích cầu. Để kích thích
được cầu đối với hàng hóa và dịch vụ, thì gói kích cầu phải được nhắm tới nhóm đối
tượng sao cho gói kích cầu được sử dụng ngay (chi tiêu ngay), và qua đó làm tăng
tổng cầu trong nền kinh tế. Những biện pháp kích cầu đúng đối tượng là những biện
Page 2
pháp nhắm tới các đối tượng se chi tiêu hầu như toàn bộ lượng kích cầu dành cho họ.
Mục tiêu của gói kích cầu là làm tăng cầu, nên chìa khóa để thực hiện điều này là cấp
tiền cho những người (có thể là các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và chính
quyền) - se sử dụng những đồng tiền này, và qua đó đưa thêm tiền vào nền kinh tế.
Tiền kích cầu phải được sử dụng để khuyến khích các nhóm đối tượng này tiến hành
các khoản chi tiêu mới, hoặc hạn chế việc các nhóm này cắt giảm chi tiêu.
Để việc kích cầu có hiệu quả thì gói kích cầu phải nhắm vào những đối tượng
sao cho một đồng tiền chi ra có hiệu ứng kích thích tiêu dùng và đầu tư cao nhất.
Theo một số nghiên cứu trên thế giới thì hiệu ứng cao nhất là dành cho bảo
hiểm thất nghiệp (unemployment benefits). Các nhóm khác nhau trong xã hội se có
xu hướng tiêu dùng cận biên khác nhau. Những người có thu nhập cao, thì chỉ có
một phần nhỏ khoản hoàn/miễn thuế (hoặc khoản tiền trợ cấp) mà họ nhận được se
được chi tiêu, trong khi những người có thu nhập vừa và thấp se có nhu cầu chi tiêu
cao hơn tính trên khoản hoàn thuế.
Tóm lại, mức độ “đúng đối tượng” (well-targeted) của gói kích cầu của Chính
phủ phụ thuộc vào: (i) mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ có
gói kích cầu thông qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng như mô tả ở trên; và
(ii) mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vòng của tác
động lan tỏa23. Ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, những người có thu nhập thấp
thường có mức tiêu dùng cao (tức là mức tiết kiệm thấp) trên 1 đồng thu nhập có
thêm được và lại thường tiêu dùng hàng nội. Do vậy nếu kích cầu đúng nhóm đối
rộng chi tiêu (tạm thời) của chính phủ se dẫn tới thâm hụt ngân sách. Do đó một
nguyên tắc vô cùng quan trọng là phải đảm bảo rằng các chính sách kích thích nền
kinh tế trong ngắn hạn không có tác động xấu tới nền kinh tế trong dài hạn hoặc gây
khó khăn cho ngân sách trong dài hạn. Do đó, các gói kích cầu chỉ được phép mang
tính tạm thời, và trong ngắn hạn có thể làm tăng thâm hụt ngân sách, nhưng trong dài
hạn phải không được phép làm thâm hụt ngân sách trầm trọng hơn. Việc đảm bảo rằng
trong dài hạn tình hình kinh tế không kém đi cũng là yếu tố quan trọng để gói kích cầu
ngắn hạn đạt hiệu quả hơn. Việc thực hiện gói kích cầu gây thâm hụt ngân sách trong
dài hạn se có tác động xấu tới thị trường tài chính (do thị trường có tính forwardlooking) và se tạo áp lực làm tăng lãi suất điều này se có tác dụng cản trở quá trình
phục hồi nền kinh tế.
Thâm hụt ngân sách lớn trong tương lai cũng đồng nghĩa với suy giảm tiết kiệm
(national savings) trong dài hạn, dẫn tới giảm đầu tư và ảnh hưởng tới tăng trưởng. Đó
là chưa kể tới việc thâm hụt ngân sách se ảnh hưởng tới tài khoản vãng lai và lạm phát
(trước mắt lạm phát không đáng lo ngại, giá năng lượng và nguyên liệu trên thị trường
thế giới vẫn ở mức thấp và cầu trên thế giới vẫn còn rất yếu, song khi nền kinh tế toàn
cầu phục hồi se lại trở thành vấn đề lớn do lượng tiền hiện nay được các ngân hàng
trung ương bơm ra ào ạt, và vòng quay của tiền tệ khi đó se tăng lên tiềm ẩn nguy cơ
lạm phát cao)
Tóm lại, khi cân nhắc xem xét các biện pháp kích cầu cụ thể của gói kích cầu, thì cả
ba nguyên tắc trên đều phải được tuân thủ và xem xét một cách đồng thời. Nếu một
biện pháp kích cầu cụ thể mà vi phạm một trong ba nguyên tắc trên thì về cơ bản biện
pháp kích cầu đó chưa phải là một biện pháp kích cầu tốt. Để tăng hiệu quả của gói
kích cầu, cần có các chính sách bổ trợ khác (không vi phạm các cam kết thương mại
quốc tế của quốc gia) như không để tỉ giá bị định giá cao (overvalued) và tăng tính
linh hoạt của tỉ giá nhằm sử dụng công cụ này như van tự động điều chỉnh thâm hụt
thương mại ở mức hợp lý và bền vững.
II. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TÀI CHÍNH TOÀN
CẦU NĂM 2008 (2 )
Khủng hoảng tài chính 2007 - 2010 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ
vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng
dưới chuẩn tuyên bố phá sản. Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu để thế
chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006.
- Ngày 05/02: Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15 trong số
các nhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3.3 tỷ đô la thời điểm
quý 3 năm 2006 đã tuyên bố phá sản.
- Ngày 02/04: New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất ở
Mỹ, tuyên bố phá sản.
- Tháng 6: Hai quỹ phòng hộ ( Hedge Fund - một loại quỹ có tính đại chúng
thấp và không bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5
của Mỹ đã đỗ vỡ sau khi đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các
khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ.
- Tháng 8: Nguy cơ khủng hoảng tín dụng lan ra toàn cầu. Nhiều nhà cho vay
ngừng cho vay tín dụng mua nhà. Cục dữ trữ liên bang đã cho các ngân hàng vay
100 tỷ đô la với lãi suất thấp.
- Ngày 14/09: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng
về khả năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn.
- Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ
thông báo lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán được
đảm bảo bằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do khủng hoảng
cho vay dưới chuẩn. Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Ben Bernake và Bộ trưởng Bộ
tài chính Mỹ đều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm của việc vỡ bong bóng
bất động sản.
Page 5
- Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng
vay với lãi suất thấp. Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ sau
ngày 19 tháng 9 năm 2001 (50.35 tỷ đô la).
- Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạn
nhân là Tập đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn bán lớn ở Mỹ
Mae và Freddie Mac
- Ngày 11/9: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán
lại chính mình. Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%.
- Ngày 14/09: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ đô
la.
- Ngày 15/9: Lehman Bothers tuyên bố phá sản. Ngay sau đó, 3 loại chỉ số ở
Mỹ bao gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể từ
sau sự kiện 11/9/2001.
- Ngày 17/09: Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công
Page 6
ty này tránh phá sản.
- Ngày 19/09: Kế hoạch giải cứu tài chính của bộ trưởng tài chính Paulson trị
giá 700 tỷ đô la được công bố sau một tuần bất ổn trên thị trường tài chính và nợ tín
dụng. Tuy nhiên, quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này.
- Ngày 22/9: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu
tóm hoạt động của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại
châu Âu và Trung Đông. Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần
Morgan Stanley.
- Ngày 23/9: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs;
Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi
ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
- Ngày 25/9: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng
lớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế
chấp. Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát
WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan
Chase & Co. với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành
ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
- Ngày 26/9: Ngân hàng Washington Mutual – ngân hàng tiết kiệm lớn nhất
Nguyên Thống đốc Hệ thống Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Alan Green Span đã
liên tục điều chỉnh hạ thấp lãi suất Federal Funds từ 6% xuống còn 1% vào ngày
25/06/2003, từ đó dẫn đến các ngân hàng Thương mại cũng hạ lãi suất cho vay (từ
9-10%/năm xuống còn 4-5%/năm).
Các NHTM có thể cho người dân vay mua nhà “dưới chuẩn” đầy rủi ro với
một quy mô lớn là do được tài trợ từ các công ty tài chính và ngân hàng đầu tư. Đặc
biệt là hai công ty Fanie Mae và Freddie Mac được Chính phủ Mỹ bảo trợ, “cấp
vốn” bằng cách mua lại các khoản cho vay của các NHTM, biến chúng thành loại
chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp để bán lại cho các công ty, các
ngân hàng đầu tư lớn khác như: Bear Stearms, Merrill Lynch... Các công ty tài
chính, ngân hàng đầu tư này lại phát hành trái phiếu trên cơ sở các chứng từ cho vay
thế chấp đó để bán cho các ngân hàng Mỹ khác và ngân hàng nhiều nước trên thế
giới làm tài sản tích trữ do uy tín của các ngân hàng phát hành. Việc “chứng khoán
hoá” các khoản vay thế chấp đã vượt khỏi sự kiểm soát của nhà nước. Chuỗi hoạt
động kinh doanh mang tính chất đầu cơ đã làm thị trường nhà đất nóng lên, giá nhà
đất bị đẩy lên cao, trở thành “bong bóng”. Và việc “bong bóng” nổ là không thể
tránh khỏi.
Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho
vay dưới chuẩn se sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên
một áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi. Sau khi giá giảm đến một mức nào
đó, họ se mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh
lệch họ se hưởng trọn.
Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng kinh tế Nobel kinh tế
2001, kết luận: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách
nhiệm chính của mình đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn. Cả hệ thống tài chính
Mỹ đã không làm những gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sản
phẩm để giúp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của
mình, như là giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà rớt
thị trường chứng khoán Mỹ là các chỉ số DowJone, S&P 500, Nasdaq và FTSE đều
sụt giảm nghiêm trọng, một sự sụt giảm mạnh nhất từ những năm 1930 trở lại đây.
Sản xuất và tiêu dùng ở Mỹ cũng rơi vào tình trạng hết sức khó khăn.
Ngành sản xuất ô tô, một trong những ngành sản xuất quan trọng nhất của kinh
tế Mỹ có doanh thu giảm nghiêm trọng. Ba hãng sản xuất ô tô hàng đầu nước Mỹ là
General Motor, Ford, Chrysler đều thua lỗ nặng nề.
Tháng 1/2008, Nortel Networks Corp, một trong những tập đoàn thiết bị viễn
thông lớn nhất của Mỹ, tháng 2/2008, Lyondell Chemical, một trong những nhà sản
xuất hoá chất lớn nhất nước Mỹ, đã phải nộp đơn xin bảo lãnh phá sản...
Kinh tế suy thoái, tiêu dùng suy giảm nghiêm trọng làm hàng loạt các công ty
bán lẻ lớn của Mỹ như Circuit City Store Inc, Sharper Image Corp, Steve & Barry’s
LLC, Macy Inc, Ann Taylor Stores Inc,... buộc phải phá sản hoặc xin bảo hộ phá
sản.
Sản xuất đình đốn, sa thải lao động làm thất nghiệp của Mỹ tăng lên từng tháng
và đạt mức cao nhất trong 25 năm qua, từ 2,59 triệu người năm 2007 lên 3,84 triệu
năm 2008 và 4,61 triệu người vào tháng 2/2009.
Từ Mỹ, cuộc khủng hoảng làm chao đảo thị trường tài chính, thị trường chứng
khoán, làm phá sản nhiều ngân hàng, công ty tài chính, nhiều tập đoàn kinh tế lớn ở
nhiều nước trên thế giới, gây suy giảm nghiêm trọng các quan hệ thương mại, tài
chính, đầu tư quốc tế và kinh tế thế giới nói chung. Các Ngân hàng Royal Bank
(Scotland), Kaupthing, Landsbanki, Glitnir (Iceland), Ngân hàng Northern Bank,
công ty cho vay thế chấp Brandford & Binglay (Anh), các Ngân hàng IKB, DZ
Bank, Deutsche Bank, Sachsen LB (Đức), Tập đoàn Bảo hiểm Yamato Life
Insurance Co (Nhật Bản) ....và nhiều ngân hàng khác là những nạn nhân của cuộc
khủng tài chính Mỹ, buộc phải xin trợ giúp của chính phủ hoặc bị chính phủ quốc
hữu hoá.
Nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cho thấy: Trong năm
2008, cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu đã làm tổn thất 50 nghìn tỷ USD trong
tổng tài sản tài chính của thế giới. Trong đó, các nước đang phát triển châu Á là chịu
những tập đoàn lớn trên thế giới. Trong tháng 1, Microsoft tuyên bố cắt giảm 5000
lao động. Trong khi đó, Intel cũng tuyên bố sa thải 6000 công nhân. Cuối tháng 1/
2009, hàng loạt những đại công ty khác cũng thông báo số lượng công việc cắt giảm
với mức kỉ lục. Caterpilla và Pfizer , hai công ty lớn trong ngành xây dựng và dược
phẩm thế giới cùng sa thải tổng số gần 40.000 nhân công trên toàn cầu. Ở một mức
độ thấp hơn, công ty viễn thông Sprint Nextel cắt giảm 8.000 công nhân; Home
Deport, tập đoàn bán lẻ đồ gia dụng lớn nhất thế giới đã cắt giảm 7.000 lao động.
Trong khi đó General Motors, đại gia của ngành sản xuất ôtô cũng sa thải thêm
2.000 nhân viên. Đến cuối năm 2009, nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi nhờ các
chính sách can thiệp của chinh phủ các nước, nhưng vẵn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
III. ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TÀI CHÍNH
TOÀN CẦU NĂM 2008 ĐẾN VIỆT NAM
1.Tình hình kinh tế Việt Nam trước khủng hoảng ( 3 )
Nền kinh tế Việt Nam năm 2007 có sự tăng trưởng toàn diện trong hầu hết các lĩnh
vực.
•
Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ước
đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP (đạt kế hoạch đề ra 40% GDP) và
tăng 15,8% so với năm 2006.
Page 10
•
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng khá, ước tính năm 2007 đạt
20,3 tỷ USD, tăng 69,3% so với năm 2006 và vượt 56,3% kế hoạch cả năm,
trong đó vốn cấp phép mới là 17,86 tỷ USD.
•
Năm 2007, nhìn chung đời sống của dân nhân tiếp tục ổn định và từng bước
được cải thiện. Mặc dù chịu tác động của nhiều yếu tố như giá tiêu dùng liên tục
tăng, sản xuất nông nghiệp ở một số vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của bão lũ, nhưng
đời sống của đại đa số dân cư ở nông thôn vẫn giữ được mức ổn định, do giá nông
sản, thực phẩm tăng đã khuyến khích nông dân sản xuất hàng hóa, tăng thêm thu
nhập. Tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75%
năm 2007 vượt kế hoạch đề ra (16%).
Vị thế quốc tế của Việt Nam gia tăng với việc chính thức trở thành thành viên
WTO và được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp
Quốc..
→ Tóm lại nền kinh tế - xã hội Việt Nam trước khủng hoảng đã có nhiều thành tích
đáng khích lệ về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút vốn đầu tư,
tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, thị trường chứng khoán, vị thế quốc tế, giảm
nghèo...
2. Tình hình kinh tế Việt Nam trong cuộc khủng hoảng( 4)
Page 11
Đối với Việt Nam, do đặc điểm của một nền kinh tế có độ mở cao, mang nặng
tính chất gia công, tỷ trọng giá trị gia tăng thấp trong cơ cấu giá trị sản phẩm, nên
chịu tác động rất lớn của thị trường thế giới. Tuy nền kinh tế nước ta không chịu tác
động trực tiếp của khủng hoảng tài chính toàn cầu; hệ thống tài chính - tín dụng giữ
được ổn định, nhưng sự tăng trưởng kinh tế trong nước vẫn chịu ảnh hưởng bởi thị
trường thế giới. Cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới 2008 đã có những ảnh
hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam. Cụ thể là :
Đối với hệ thống tài chính – ngân hàng :
Mặc dù hiện tại hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam chưa chịu tác động
mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vì hệ thống tài chính ngân hàng Việt
Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của hội nhập; nhưng vẫn có những hạn chế trên một số
lĩnh vực như:
tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính, xuất khẩu của Việt nam đã có biểu hiện
giảm sút. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 1/2009 ước tính chỉ đạt 3,8 tỷ USD,
giảm 18,6% so với tháng 12/2008 và giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trước. So với
cùng kỳ năm 2008, hầu hết các mặt hàng đều cho thấy có sự giảm sút kim ngạch
Page 12
trong tháng 1/2009. Kim ngạch xuất khẩu tháng 11/2008 đã tiếp tục giảm và xuống
dưới ngưỡng 5 tỷ USD/tháng. Đây là tháng thứ ba kim ngạch xuất khẩu suy giảm.
Tháng 11 năm 2009 kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ còn 4,8 tỷ USD giảm so với
mức 5,044 tỷ USD của tháng 10. Trong đó:
Dệt may giữ được kim ngạch ở mức 780 triệu USD
Giày dép tăng nhẹ lên 400 triệu USD so với 396 triệu USD của tháng
10/2008.
Một số mặt hàng khác cũng suy giảm. Trong đó đặc biệt là dầu thô giảm mạnh do
giá dầu đã giảm 60% so với mức tháng 7/2008. Khủng hoảng tài chính dẫn đến suy
thoái kinh tế, nhiều mặt hàng thế mạnh của Việt Nam giảm giá và tác động trực tiếp
đến kim ngạch xuất khẩu.
Đối với vốn đầu tư của nước ngoài ( kể cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp):
Với tình hình khủng hoảng, chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuất
khẩu có khả năng bị thu hẹp nên dòng vốn chảy vào Việt Nam có khả năng giảm sút.
Thêm vào đó, hầu hết các dự án đầu tư nói chung và FDI nói riêng, phần vốn vay
thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư, nên khi các tổ chức tài chính,
các ngân hàng gặp khó khăn se làm cho nhiều hợp đồng vay vốn không được ký kết
hoặc không thể giải ngân được.
Tháng 11 năm 2008 Việt Nam vẫn thực hiện khoảng 10 tỷ USD vốn giải ngân,
nghiệp kinh doanh BĐS trong điều kiện khủng hoảng tài chính .
Cuối năm 2007 tình trạng đầu cơ BĐS đã đẩy giá BĐS ở Việt Nam lên quá cao
so với giá trị thực. Thị trường đã lên cơn sốt ảo, cầu ảo tăng cao. Bước sang năm
2008 nền kinh tế Việt Nam gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế,
lạm phát tăng cao buộc người dân phải giảm chi tiêu, thị trường BĐS đóng băng, giá
BĐS đã giảm đến 40%, các doanh nghiệp kinh doanh BĐS rơi vào khó khăn, không
bán được sản phẩm lại phải chịu lãi suất cao do chính sách thắt chặt tiền tệ làm lãi
suất ngân hàng tăng cao. Đến nay thị trường cũng chưa có dấu hiệu phục hồi. Giá
BĐS giảm se kéo theo tài sản ngân hàng cũng giảm theo, nợ xấu tăng lên làm cho cơ
cấu vốn của ngân hàng thương mại rơi vào tình thế bất lợi.
Cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ mà gốc rễ là từ khủng hoảng địa ốc tuy
không làm ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường BĐS ở Việt Nam nhưng nó cũng ảnh
hưởng gián tiếp qua các tác động đến thị trường tài chính tiền tệ, thị trường chứng
khoán và các yếu tố tâm lý của người dân.
Đối với thị trường hàng hoá và dịch vụ :
Trong tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái, nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm
kế hoạch sản xuất kinh doanh, thu hẹp quy mô do chi phí sản xuất tăng, đặc biệt là
lãi vay ngân hàng.
Một trong những ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam là ngành du lịch
cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Lượng khách tới Việt Nam trong năm 2009 được
dự báo là se giảm nghiêm trọng, buộc ngành du lịch phải giảm giá phòng và giá dịch
vụ du lịch hàng loạt. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến lượng khách du lịch quốc
tế đến Việt Nam cũng giảm sút. Trong tháng 1/2009, khách quốc tế đến nước ta ước
tính đạt 370 nghìn lượt người, giảm 11,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
Khách đến với mục đích du lịch đạt 231,5 nghìn lượt người, giảm 10,5%;
Khách đến vì công việc đạt 65 nghìn lượt người, giảm 17,6%;
sau suy giảm kinh tế, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 443/QĐ-TTg ngày
4/4/2009 về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn ngân
hàng để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Việc hỗ trợ lãi suất được thực hiện từ
ngày 01/ 4/2009 đến ngày 31/12/2011. Mức hỗ trợ lãi suất tiền vay là 4%/năm, tính
trên số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế, nhưng không quá 24 tháng.
Ngày 17/4/2009, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 497/QĐ-TTg về việc
hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp
và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn. Mức tiền vay tối đa và mức lãi suất
được hỗ trợ như sau:
- Đối với các sản phẩm máy móc, thiết bị cơ khí, phương tiện phục vụ sản xuất, chế
biến nông nghiệp và máy vi tính: mức tiền vay tối đa bằng 100% giá trị hàng hoá
(riêng đối với máy vi tính, mức tiền vay tối đa không quá 05 triệu đồng/chiếc) và
được hỗ trợ 100% lãi suất vay.
- Đối với các sản phẩm vật tư nông nghiệp: mức tiền vay tối đa bằng 100% giá trị
hàng hoá nhưng không vượt quá 07 triệu đồng/ha và được hỗ trợ lãi suất 4%.
- Đối với vật liệu xây dựng các loại để làm nhà ở: mức tiền vay tối đa bằng 100%
giá trị hàng hoá nhưng không vượt quá 50 triệu đồng và được hỗ trợ 4% lãi suất
vay.
Thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng đối với các sản phẩm máy móc, thiết
bị cơ khí, phương tiện phục vụ sản xuất, chế biến nông nghiệp và máy vi tính và 12
tháng đối với các sản phẩm vật tư nông nghiệp và vật liệu xây dựng các loại để làm
nhà ở, áp dụng đối với các khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết, giải ngân
trong khoảng thời gian từ ngày 01/5-31/12/ 2009.
Riêng các doanh nghiệp vay vốn lưu động để nhập khẩu hàng tiêu dùng chưa
thiết yếu, vay kinh doanh chứng khoán, tài chính, ngân hàng, vay vốn để trả nợ các
hợp đồng tín dụng khác… không được hưởng chính sách ưu đãi này.
Thứ hai, tạm hoãn thu hồi vốn đầu tư XDCB ứng trước: Khoảng 3.400 tỷ
Page 15
30.200 tỷ đồng.
Chính phủ đã trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho phép kéo dài thời gian giải
ngân vốn ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2008 đến hết
tháng 6 năm 2009 với số vốn NSNN khoảng 22.500 tỷ đồng và vốn trái phiếu chính
phủ khoảng 7.700 tỷ đồng.
Thứ năm, phát hành thêm trái phiếu Chính phủ trong năm 2009: Khoảng
20.000 tỷ đồng.
Page 16
Thứ sáu, thực hiện chính sách giảm thuế: Khoảng 28.000 tỷ đồng.
Để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu và kích cầu tiêu dùng, Chính phủ đã
thực hiện gói kích cầu thông qua các biện pháp giảm thuế. Cụ thể như sau:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Giảm thu NSNN do thực hiện chính sách
giảm thuế TNDN khoảng 13.000 tỷ đồng. Chính phủ đã cho phép giảm 30% số thuế
TNDN phải nộp của quý IV năm 2008 và số thuế TNDN phải nộp của năm 2009 đối
với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Giãn thời hạn nộp thuế TNDN trong thời gian 9 tháng đối với số thuế TNDN phải
nộp năm 2009 của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói trên (70% số thuế còn lại sau
khi giảm) và của các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông,
lâm, thuỷ sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử. Đây là khối doanh nghiệp sử dụng
nhiều lao động và chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Theo đó
cho phép giảm 30% số thuế TNDN phải nộp của quý IV năm 2008 đối với thu nhập
từ hoạt động sản xuất sợi, dệt, nhuộm, may và sản xuất các mặt hàng da giầy.
- Thuế thu nhập cá nhân : Giảm thu NSNN do thực hiện chính sách giảm thuế thu
nhập cá nhân khoảng 6.500 tỷ đồng. Đối tượng được giãn nộp thuế thu nhập cá nhân
là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền
công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển
nhượng chứng khoán); thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương
mại; thu nhập từ nhận thừa kế; thu nhập từ nhận quà tặng; cá nhân không cư trú có
trên 125cm3; kéo dài thời gian nộp thuế giá trị gia tăng đến 180 ngày đối với các lô
hàng nhập khẩu là máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên
dùng nằm trong dây chuyền công nghệ thuộc loại trong nước chưa sản xuất.
Ngoài ra, Chính phủ cũng đã chỉ đạo giãn thời gian ân hạn nộp thuế nhập khẩu; điều
chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất
như:
Nguyên liệu để sản xuất thuốc kháng sinh;
8 nhóm xơ, sợi tổng hợp;
Một số loại linh kiện, phụ tùng điện tử; nguyên liệu nhựa, nguyên vật liệu xây
dựng; nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi...
Đồng thời thực hiện điều chỉnh giảm thuế đối với 8 nhóm thuốc chữa bệnh để góp
phần bình ổn thị trường, giảm giá thuốc (từ các mức 2%, 5% và 8% xuống 0%).
Thứ bảy, tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp: Khoảng 17.000
tỷ đồng (1 tỷ USD).
Thực hiện Nghị quyết 30/2008/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Tài chính đã chủ
trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tăng thêm dự nợ bảo lãnh tín dụng cho các
doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn
vốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm mới. Tổng dư
nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vay vốn ngoài nước nhập thiết bị, công
nghệ,... phục vụ sản xuất, kinh doanh ước tính khoảng 17.000 tỷ đồng.
Để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn bảo lãnh tín dụng, Thủ
tướng Chính phủ ra Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009 ban hành Quy
chế bảo lãnh cho doanh. Giao Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Phát triển Việt
Nam hướng dẫn việc quản lý và sử dụng Quỹ dự phòng bảo lãnh vay vốn; cơ chế
phối kết hợp giữa Ngân hàng Phát triển Việt Nam với các NHTM trong việc bảo
lãnh doanh nghiệp vay vốn và các vấn đề liên quan khác.
Thứ tám, các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm
(6)
______________________
(
6
)
/>ID=47&LangID=1&NewsID=1212&PageNum=12
Gói kích thích kinh tế năm 2009 công bố tháng 5 – 2009
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
Danh Mục
Hỗ trợ lãi suất 4 %
Tạm hoãn thu hồi vốn ứng trước năm 2009
Các khoản vốn ứng trước
(1) Ứng trước ngân sách 1 số dự án cấp bách
(2) Ứng vốn chương trình 61 huyện nghèo
Page 19
chuyển biến rõ nét. Sản xuất công nghiệp phục hồi khá nhanh. Sau khi giảm sâu
trong tháng 1 (- 4,4%), ngành công nghiệp lấy lại tốc độ tăng trưởng trong các tháng
tiếp theo và đến tháng 10 đã tăng 11,9% so với cùng kỳ 2008. Đặc biệt:
Ngành xây dựng từ mức tăng trưởng âm 0,4% về giá trị tăng thêm trong năm
2008 đã tăng 6,9% trong quý I, tăng 9,8% trong quý II, tăng 11% trong quý III
và dự kiến cả năm có thể đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 11% nhờ các biện pháp
hỗ trợ lãi suất, kích cầu đầu tư.
Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản có bước phát triển khá. Giá trị sản suất
toàn nghành nông, lâm, ngư nghiệp 9 tháng đầu năm tăng 2,6% so với cùng kỳ
năm trước; sản lượng lương thực vụ đông xuân vượt mức kỷ lục của năm trước
(tăng 0,3%).
Sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản 10 tháng đầu năm 2009 đạt hơn 4.020
nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2008.
______________________________________
(7)
/>p_itemid=41207039&p_siteid=33&p_pageid=39318834&p_dad=portal&p_schema=PORT
AL&p_persid=23080966
Khu vực dịch vụ tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng khá cao: Quý I, giá trị
tăng thêm đạt 5,1%; quý II là 5,7% và quý III là 6,8%. Dự báo cả năm đạt
khoảng 6,5%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10
tháng đầu năm 2009 tăng 18% so với cùng kỳ năm 2008.
mức thấp. Chỉ số giá tiêu dùng hai tháng 9 và 10 so với tháng 12 năm 2008 chỉ tăng
4,11% và 4,49%. Việc hỗ trợ lãi suất 4%/năm vừa giúp doanh nghiệp giảm bớt khó
khăn, phục hồi sản xuất, vừa hỗ trợ cho việc phát triển ổn định và an toàn của hệ
thống các tổ chức tín dụng.
Hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh của Chính phủ nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận
các nguồn tín dụng phục vụ đầu tư, sản xuất, kinh doanh và giải quyết khó khăn phát
sinh do suy giảm kinh tế đồng thời tạo động lực cho hệ thống ngân hàng, tổ chức tín
dụng mở rộng hoạt động huy động vốn và cung ứng vốn cho nền kinh tế.
______________________
(8)
(9)
/> />
Ngày 15/1/2010, Ngân hàng Nhà nước đã có thông cáo báo chí tổng hợp tình
hình ngân hàng tháng 12/2009, và tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đến ngày
24/12/2009 đạt 446.952 tỷ đồng. Trong đó, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất của ngân
hàng thương mại và công ty tài chính là 412.180 tỷ đồng, Ngân hàng Phát triển Việt
Nam là 10.836 tỷ đồng, Ngân hàng Chính sách xã hội là 23.936 tỷ đồng. Dư nợ cho
vay đối với doanh nghiệp nhà nước là 59.379 tỷ đồng, doanh nghiệp ngoài nhà nước
là 287.971 tỷ đồng, hộ sản xuất là 64.828 tỷ đồng.
Bổ sung các khoản chi ngân sách nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội, giảm
nghèo đã đem lại hiệu quả tích cực cho nền kinh tế. Tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm
2009 ước tính còn khoảng 11%, vượt mức kế hoạch. Theo Bộ Xây dựng, trong tháng
6/ 2009 có 20 dự án nhà ở xã hội được khởi công và đến cuối 2010, quỹ nhà ở xã hội
giá thấp se đưa vào sử dụng.
Thông tin cập nhật tới thời điểm 30/10/2009, quy mô của gói kích thích kinh tế
sách Nhà nước.
Trong thực tế vận hành đã phát sinh tình trạng không công bằng giữa các đối
tượng được vay vốn và không được vay vốn hỗ trợ lãi suất.
Với mức hỗ trợ lãi suất tiền vay 4%/năm là khá lớn, đối tượng thụ hưởng thuộc
nhiều lĩnh vực, ngành hàng, nếu kéo dài se phát sinh tâm lý ỷ lại vào sự hỗ trợ của
Nhà nước.
Đầu tư cho các công trình xây dựng cơ bản (kết cấu hạ tầng, nhà ở cho sinh
viên, khu chung cư cho người thu nhập thấp, v.v.) hầu như chưa triển khai được gì
do nguồn vốn không có (phát hành trái phiếu không thành công vì lãi suất không
được như nhà đầu tư mong đợi) và tính chất dài hạn của loại hình đầu tư khó phù
hợp với tiêu chí kích cầu ( kịp thời ) trong điều kiện năng lực triển khai kích cầu của
bộ máy rất có hạn.
B. Quá trình phục hồi của nền kinh tế Việt Nam sau cuộc khủng
hoảng tài chính thế giới 2008
1. Dự báo nền kinh tế năm 2009 (11 )
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc Tế ( IMF):
Thứ nhất, Quỹ tiền tệ Quốc tế cho rằng, với môi trường kinh tế toàn cầu đang
xấu đi, GDP của Việt Nam năm 2009 se giảm xuống còn 5% và có thể đạt mức tăng
trưởng kinh tế 6% trong năm 2010.
Thứ hai, với giá các mặt hàng sơ chế đang giảm, lạm phát chung được dự báo
là se giảm xuống mức một con số vào cuối năm 2009, mặc dù lạm phát cơ bản
(không bao gồm thực phẩm thô và năng lượng) có thể giảm chậm hơn.
Thứ ba, thâm hụt cán cân vãng lai đối ngoại dự kiến se giảm với việc nhập
khẩu giảm nhiều hơn so với giảm xuất khẩu và kiều hối, nhưng vẫn giữ ở mức cao
(9% của GDP) trong năm 2009 khoảng 7%, năm 2010 tăng lên 10%. Điều này se tác
động bất lợi tới vị thế ngoại hối của Việt Nam, hiện vẫn đang ở mức khá thấp (tương
đương 3 tháng nhập khẩu).
Theo dự báo của chính phủ
Sự suy giảm của kinh tế thế giới là nhân tố có thể tác động bất lợi cho nền kinh
Lạc quan(*)
Kịch bản
bi quan(*)
GDP thực của các đối tác thương mại
Giá dầu thô thế giới
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (VNĐ/USD)c
+0,5
-50,0
+5,0
+1,0
- 45,0
+0,0
-60,0
+3,0
Cung tiền tệ (M2)
+25,0
+15,0
Kết quả
GDP (giá 1994)
4,69
5,56
của Chính phủ Việt Nam đã tác động đến nền kinh tế và dẫn đến kết quả dự báo tăng
trưởng kinh tế từ Mô hình kinh tế lượng của Chính Phủ cao hơn dự báo của các tổ
chức quốc tế khác.
2. Quá trình phục hồi kinh tế:
Tình hình phục hồi ( 12)
Xét về hệ thống tài chính - tín dụng thì thời điểm khó khăn nhất đã rơi vào quý
II - 2008, còn tăng trưởng kinh tế khó khăn nhất cũng đã rơi vào quý I-2009. Và tính
đến cuối năm 2009 tình hình kinh tế nước ta đã có dấu hiệu phục hồi mạnh me đặc
biệt là trong quý IV năm 2009 và 2 tháng đầu năm 2010 (13 )
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 tuy vẫn thấp hơn tốc độ tăng 6,18% của
năm 2008, nhưng đã vượt mục tiêu tăng 5% của kế hoạch, vào khoảng 5.32%. Trong
bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nền kinh tế tăng trưởng âm mà kinh tế
nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng dương tương đối cao như trên là một thành công
lớn.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I và quý II năm 2009 thấp hơn tốc
độ tăng của quý I và quý II năm 2008; nhưng quý III/ 2009 tăng 6,04%, cao hơn tốc
độ tăng 5,98% của quý III/ 2008 và quý IV/2009 tăng 6,9%, cao hơn tốc độ tăng
5,89% của quý IV/2008 cho thấy nền kinh tế nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm
tốc độ tăng trưởng. Điều này đã chứng tỏ các chính sách, giải pháp ngăn chặn suy
giảm kinh tế của Chính phủ đề ra và được triển khai trong năm vừa qua đã phù hợp
với tình hình thực tế, và đang phát huy hiệu quả.
______________________
(12)
THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ SỐ LIỆU THỐNG KÊ KINH TẾ- XÃ HỘI NĂM 2009
(09:19 31/12/2009)
(13 )
Trong đó:
Lĩnh vực
Nông nghiệp
Lâm nghiệp
Thuỷ sản
Sản lượng
97,1 nghìn tỷ đồng
122,8 nghìn tỷ đồng
219,9 nghìn tỷ đồng
Tốc độ tăng so với cùng kỳ 2008
2,76%
3,16%
3%
Sản lượng
160,1 nghìn tỷ đồng
7 nghìn tỷ đồng
52,8 nghìn tỷ đồng
Tốc độ tăng so với 2008
2,2%
3,8%
5,4%
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 1/2009 theo giá so sánh 1994 giảm 0,2% so
với cùng kỳ năm 2008; các tháng tiếp theo tuy đạt mức tăng trưởng dương nhưng
tốc độ tăng thấp (Bình quân 6 tháng đầu năm chỉ tăng 4,8%). Nhờ tích cực triển khai
Page 25