Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trung tâm giáo dục thường xuyên thành phố hồ chí m - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------------------------------

LÂM SƠN TRUNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, tháng 07/2012

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------------------------------

LÂM SƠN TRUNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 07 năm 2012
Tác giả luận văn
Lâm Sơn Trung

KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
3


TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

CB-GV-CNV
CHXH
CMHS
CNKT
CNXH
CNH-HĐH
CNCS
CSVC
ĐĐXH
GDCD
GDĐĐ
GDĐĐ HS
GD-ĐT
GDTX
GDTX TPHCM
GVBM
GVCN
HCM
HĐSP
HTCĐ
KH-KT
KHXH
KT-XH
LHTN
QLGD
TDTT
THCN
THCS
THPT
TNCS

Hội đồng sư phạm
Học tập cộng đồng
Khoa học – kỹ thuật
Khoa học xã hội
Kinh tế - xã hội
Liên hiệp thanh niên
Quản lý giáo dục
Thể dục thể thao
Trung học chuyên nghiệp
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Thanh niên cộng sản
Trung tâm giáo dục thường xuyên
Xã hội chủ nghĩa
4


MỤC LỤC
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Phạm vi nghiên cứu
7. Phương pháp nghiên cứu
8. Đóng góp của luận văn
9. Cấu trúc của luận văn
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Thành phố Hồ Chí Minh
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa
34
2.2.

giáo dục của Thành phố Hồ Chí Minh
Thực trạng về đạo đức và công tác GDĐĐ cho HS ở các trung tâm GDTX Thành
36

phố Hồ Chí Minh
2.3. Thực trạng về công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trung tâm GDTX
53
Thành phố Hồ Chí Minh
2.4. Đánh giá chung về thực trạng
63
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS ở các trung tâm GDTX
5


Thành phố Hồ Chí Minh
68
3.1. Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp
68
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác GDĐĐ cho HS ở các
69
trung tâm GDTX Thành phố Hồ Chí Minh
3.2.1. Tăng cường quán triệt, nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của các thành viên
trong hội đồng sư phạm ở các trung tâm GDTX Thành phố Hồ Chí Minh.

70

38
3. Bảng 2.3: Thái độ của học sinh GDTX đối với các quan niệm về đạo đức. 39
4. Bảng 2.4: Những lỗi thường mắc phải của học sinh trung tâm GDTX tại thành phố
HCM
43
5. Bảng 2.5: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi vi phạm đạo đức của học
sinh.
45
6. Bảng 2.6: Tầm quan trọng của công tác GDĐĐ trong trung tâm GDTX hiện nay ở
thành phố HCM
48
7. Bảng 2.7: Mức độ thực hiện công tác GDĐĐ cho học sinh tại các trung tâm GDTX
thành phố HCM
49
8. Bảng 2.8: Ý kiến đánh giá về nhận thức mức độ thực hiện các nội dung GDĐĐ cho
học sinh các trung tâm GDTX thành phố HCM
9. Bảng 2.9: Các hình thức GDĐĐ cho học sinh
6

50
51


10.Bảng 2.10: Nhận thức về công tác quản lý GDĐĐ học sinh
53
11.Bảng 2.11: Đánh giá mức độ quan trọng của các lực lượng giáo dục đối với công
tác GDĐĐ cho học sinh
54
12.Bảng 2.12: Thực trạng sự phối hợp của trung tâm GDTX với các lực lượng để
GDĐĐ học sinh

7


Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng dạy: “ Dạy cũng như học phải biết chú trọng
cả Tài lẫn Đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc rất quan trọng. Nếu thiếu đạo
đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải
là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định” [25,tr65].
Trong công tác giáo dục, nhà trường giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành
nhân cách cho học sinh. Muốn làm được việc đó, đòi hỏi nhà trường phải thực hiện bằng
được mục tiêu giáo dục toàn diện, trong đó giáo dục đạo đức là một trong những hoạt
động giáo dục cơ bản giữ vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bậc học nền tảng cung cấp
kiến thức cơ bản và giúp các em hình thành nhân cách trước ngưỡng cửa các em bước vào
đời với đầy đủ tài, đức vẹn toàn.
Tuy nhiên, trong xu hướng toàn cầu hóa diễn ra trong mọi mặt đời sống xã hội,
chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức của thời đại: Đó là hiện tượng suy
thoái về đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng trong một số thanh niên,
học sinh làm ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục đạo đức của nhà trường. Thực tiễn cho
thấy, chất lượng dạy và học chỉ được nâng cao khi chúng ta biết quan tâm một cách đầy
đủ đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong các nhà trường. Đối với các trung
tâm GDTX ở thành phố Hồ Chí Minh với chất lượng học sinh đầu vào đa dạng, lại rất yếu
về học lực và có ý thức rèn luyện thấp nên công tác giáo dục đạo đức lối sống cho học
sinh lại càng mang tính phức tạp và nan giải. Khi thống kê lại thí có những trung tâm
GDTX, số học sinh xếp loại hạnh kiểm loại trung bình, loại yếu năm sau cao hơn năm
trước, đó chính là thực trạng đáng báo động hiện nay.
Vì vậy, để công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trung tâm GDTX thành phố
Hồ Chí Minh thực sự hiệu quả, tháo gỡ được những khó khăn hiện nay cần phải có những
giải pháp quản lý đúng đắn. Chính vì những lý do trên và điều kiện công tác của bản thân,
nên tôi nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức
cho học sinh ở các trung tâm GDTX thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích nghiên cứu:

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

-

Phương pháp quan sát các hoạt động giáo dục đạo đức của các trung tâm GDTX
thành phố Hồ Chí Minh

-

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục đạo đức
9


-

Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia

-

Phương pháp khảo nghiệm

7.3. Nhóm phương pháp thống kê: Nhằm xử lý số liệu thu được.
8. Đóng góp của luận văn:
Đánh giá một cách đầy đủ và khách quan về thực trạng GDĐĐ và quản lý công tác
GDĐĐ,tìm ra được những mặt mạnh, mặt yếu, những tồn tại cần khắc phục của công tác
GDĐĐ và quản lý công tác GDĐĐ cho học sinh THPT ở các trung tâm GDTX trên địa
bàn thành phố HCM.
Đề xuất hoàn thiện các giải pháp quản lý có tính khả thi, hiệu quả về hoạt động
GDĐĐ cho HS ở các trung tâm GDTX, đặc biệt phù hợp với tình hình cấp bách hiện nay
và phù hợp với đặc điểm đối tượng học sinh THPT ở các trung tâm GDTX trên địa bàn

phương hướng nào đó. Nói tóm lại, đạo là con đường sống của con người trong xã hội.
Đức trong nghĩa thông dụng của người Trung Quốc cổ đại chỉ đức hạnh tốt, phần tốt đẹp,
thẳng thắn của con người. Đức thường được hiểu là biểu hiện của đạo. Nói đạo đức liền
nhau thường để chỉ những yêu cầu, những nguyên tắc cuộc sống đặt ra, đòi hỏi mọi người
tuân theo.
Theo quan điểm của Khổng Tử ( 551- 479 – TCN ), “đạo” và “đức” gắn chặt với
nhau. Bao quát những quan hệ lớn nhất theo Nho giáo, Kinh Lễ nêu ra mười đức là: “cha
từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ vâng lời, trưởng có ân, ấu ngoan ngoãn,
vua nhân, tôi trung”.
Ở phương Tây, tư tưởng đạo đức học của người Hy Lạp cổ đại chú trọng lý giải sự
hình thành các chuẩn mực luân lý và tập tục, tìm cách phân biết thật-giả, thiện-ác,… Các
nhà triết học – thần học coi con người và xã hội chẳng qua chỉ là những hình thái biều
hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó. Những chuẩn mực đạo đức, do vậy
là những chuẩn mực do thần thách tạo ra để răn dạy con người. Mọi biều hiện đạo đức của

11


con người do vậy đều là sự thể hiện cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên. Đạo đức học lúc
này được coi là học thuyết về phẩm hạnh.
Nhà triết học Socrat (470 – 399 – TCN ) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy
định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới
trở thành có đạo đức.
Theo Aristoste ( 384 – 322 – TCN ) lại cho rằng không phải hy vọng vào Thược đế
áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất
mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.
Theo học thuyết Mác – Lênin: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc
từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của
tồn tại xã hội. Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo. Do vậy đạo đức
mang tình lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.

tác giả với những cách tiếp cận khác nhau, tạo ra một sự đa dạng, phong phú về nội dung
và phương pháp nghiên cứu:
Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam
trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơ bản giáo dục đạo đức cho con
người Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo
đức trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt
chẽ với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho con người, kết hợp chặt chẽ
giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp
luật ; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo
đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ Đảng viên, cho thầy cô các trường học ;
xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức, nâng
cao nhận thức cho mọi người”[20, tr 172-176].
Đặng Vũ Hoạt đã đi sâu nghiên cứu vai trò của GVCN trong quá trình GDĐĐ cho
học sinh và đưa ra một số định hướng cho GVCN trong việc đổi mới nội dung, cải tiến
phương pháp GDĐĐ cho học sinh trường phổ thông.
Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua giảng dạy các
bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, rèn luyện phương
13


pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng
ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh.
Phạm Khắc Chương, trường Địa học Sư phạm Hà Nội nghiên cứu: Một số vấn đề
giáo dục đạo đức ở trường THPT – Rèn ý thức đạo đức công dân.
Bên cạch đó, có một số luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của các tác giả đáng chú ý như:
Lê Quang Tuấn (2008) Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh, Luận văn chuyên
ngành quản lý giáo dục.
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung GDĐĐ,
định hướng các giá trị đạo đức, các giải pháp GDĐĐ cho học sinh. Nhưng, hiện nay chưa


“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực
xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và
quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức
mạnh của dư luận xã hội” [22,tr 8].
-

Phạm Minh Hạc cho rằng: “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định

và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người. Nhưng bên trong điều kiện hiện nay,
chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức gồm những quy định, những
chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với
thiên nhiên và môi trường sống…
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp
luật đời sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách
của một cá nhân được xã hội hóa. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành
mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn.” [37, tr7]
-

Theo sách giáo khoa “Giáo dục công dân 10” (NXB Giáo dục ): “Đạo đức là

hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi
của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội.”[6,tr 63]
-

Theo Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp

các quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi
của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong
quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội.”[10, tr51]

của bản thân mình. Vì thế công tác GDĐĐ góp phần vào việc hình thành, phát triển nhân
cách con người mới phù hợp với từng giai đoạn phát triển xã hội “ GDĐĐ là quá trình tác
động tới người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối
cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức”. [22, tr 85]
GDĐĐ trong trường phổ thông là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, có
quan hệ biện chứng với các quá trình của bộ phận khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục
thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp,... nhằm giúp cho
học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện.
16


GDĐĐ có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị tư tưởng ; có mối gắn bó mật
thiết với giáo dục pháp luật.
GDĐĐ cho học sinh là giáo dục truyền thống tốt đẹp của ông cha ta, giáo dục bản sắc
văn hóa dân tộc và kế thừa, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại ; giúp cho học
sinh thấy được và biết giữ gìn những thành quả cách mạng, đồng thời phải được tuân thủ
theo nguyên tắc: Đảm bảo tính thống nhất, tính thực tiễn trong quá trình dạy và học, đảm
bảo các chuẩn mực XHCN được xã hội thừa nhận. Quá trình GDĐĐ bao gồm các tác
động của rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài. Do đó,
GDĐĐ chỉ đạt hiệu quả khi nhà sư phạm biết tổ chức phù hợp, hình thức đa dạng phong
phú khơi dậy được tính tích cực, chủ động sáng tạo và tự giáo dục của người học nhằm đạt
được mục tiêu giáo dục.
1.2.3. Quản lý công tác giáo dục và quản lý công tác giáo dục đạo đức
1.2.3.1. Quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành. Xã hội phát
triển thì trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên, phát triển theo. Sự phát triển xã
hội loài người dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có ba yếu tố cơ bản là: lao động, tri thức và
quản lý.
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động
của con người. Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo

tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động
của môi trường.
1.2.3.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Giáo dục ở đây
được hiểu theo nghĩa rộng nhất. Các nhà nghiên cứu về giáo dục và quản lý giáo dục đã
đưa ra nhiều định nghĩa về quản lý giáo dục là: “Quản lý công tác giáo dục là tác động có
hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau
đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm cho việc hình thành nhân
cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và tận dụng những qui luật chung của xã hội cũng
như những qui luật chung của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ
em”.[35,tr7]
“Quản lý công tác giáo dục là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp với qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường
18


lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam
mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ giáo dục tới mục
tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.[39,tr32]
“Quản lý công tác giáo dục theo nghĩa tổng quát là điều hành, phối hợp các lực lượng
xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày
nay, với sứ mệnh giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ
trẻ, mà còn cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ, cho nên, quản lý
công tác giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong
hệ thống giáo dục quốc dân” [1,tr110].
Từ những khái niệm trên, theo tôi: “Quản lý công tác giáo dục là sự tác động có ý
thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống
giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng phương pháp hiệu quả nhất”
1.2.3.3. Quản lý giáo dục đạo đức
Quản lý GDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý


1.3.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức
cho thanh thiếu niên.
Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức không phải một chiều phụ thuộc vào tồn tại
xã hội, vào những điều kiện vật chất kinh tế. Nó là khả năng tác động tích cực trở lại, cải
biến tồn tại xã hội. Gía trị đạo đức tinh thần một khi được con người tiếp nhận sẽ biến
thành một sức mạnh vật chất. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, mỗi người có công việc, tài
năng, vị trí khác nhau, người có việc to, người có việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức
cách mạng đều là người cao thượng. Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải
nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có đức phải có tài, nếu không sẽ
không mang lại lợi ích gì mà có hại cho dân. Mặt khác, phải thấy trong đức có tài. Tài
càng lớn thì đức càng cao, vì đức-tài là nhằm phục vụ nhân dân và đưa cách mạng đến
thắng lợi.
Ý thức được tầm quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ - đặc biệt là
đối tượng học sinh, sinh viên – là bộ phận quan trọng nhất góp phần hình thành nhân cách,
phẩm chất, lối sống cho học sinh theo mục tiêu giáo dục: “Đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành
với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách,
20


phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc” (Điều 2, Chương I, Luật Giáo dục 2005). Tất cả những điều đó chỉ có thể thực
hiện được thông qua công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh,
sinh viên. Công tác này đòi hỏi phải tiến hành một cách liên tục, thường xuyên và đang trở
thành những nội dung không thể thiếu được trong các mặt giáo dục của nhà trường nhằm
tạo ra lớp người “vừa hồng, vừa chuyên” như mong muốn của Bác Hồ.
Giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là quốc sách hàng đầu, là động lực
phát triển kinh tế-xã hội, là nền tảng và nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH
đất nước. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần 2 (khóa VII) đã xác

- Đạo đức theo nghĩa thông thường nhất là những quy tắc ứng xử giữa người này với
người khác, với xã hội, với thiên nhiên phù hợp với lợi ích tồn tại và phát triển xã hội
loài người.
- Đạo đức có vai trò động lực tinh thần to lớn đối với sự phát triển, tiến bộ xã hội được
nhiều nhà khoa học thừa nhận và được các quốc gia quan tâm sâu sắc.
-

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến con người nhằm hình thành
những phẩm chất tốt đẹp nơi con người, hướng con người tới cái chân thiện, cái
thiện, cái mỹ, chống cái ác, cái xấu, cái giả, đưa xã hội ta đạt tới mục tiêu cao cả: dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

-

Học sinh được giáo dục thông qua ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội. Ba
môi trường này tác động ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành phẩm chất, đạo
đức con người. Không thể nói môi trường nào quan trọng hơn hay ít quan trọng hơn.

-

Ngoài ba môi trường giáo dục trên, chính bản thân mỗi con người ít
hay nhiều đều chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên”.

* Quá trình hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức của con người:
-

Cấp thấp nhất là thói quen: Thói quen là việc làm, lời nói, cách cư xử được lặp đi lặp
lại nhiều lần, trở thành một phản xạ có điều kiện. Ví dụ thói quen nói lời “cảm ơn”,
“xin lỗi”,… Thói quen tốt hay xấu đều do quá trình giáo dục từ trong gia đình, đến


Mục tiêu GDĐĐ là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo
đức, biết hành động theo lẽ phải, biết sống vì mọi người, trở thành một công
dân tốt, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.
Nhà trường phải trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết: “Nâng cao nhận thức
chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Nắm vững những quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người
toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà, có nhân sinh quan trong sáng, có
quan điểm rõ ràng về lối sống, thích ứng với những yêu cầu của giai đoạn mới”.
Hình thành ở học sinh thói quen, hành vi đạo đức đúng đắn, trong sáng với bản thân,
mọi người trong xã hội và sự nghiệp cách mạng XNCH của Việt Nam. Rèn luyện ở học
sinh ý thức tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, chấp hành nghiêm pháp
luật, ý thức tổ chức kỷ luật lao động, yêu lao động, yêu khoa học và những thành tựu, giá
trị văn hóa tiến bộ của loài người và không ngừng phát huy những truyền thống cao đẹp
của dân tộc, giáo dục cho học sinh THPT tình yêu tổ quốc, gắn với tinh thần quốc tế vô
sản.
1.3.2.3. Nhiệm vụ giáo dục đạo đức
Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh THPT bao gồm
việc giáo dục ý thức đạo đức, giáo dục tình cảm đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức với
các nhiệm vụ cụ thể sau:
23


-

Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác-Lênin, tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh, tính chân lý khách quan của các giá trị đạo đức, nhân văn, nhân bản
của tư tưởng đó, coi đó là kim chỉ nam cho hành động của mình.

-

* Giáo dục phẩm chất chính trị, tư tưởng

24


Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức cho học sinh THPT rất quan trọng góp
phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục nhân cách phát triển toàn diện, hài hòa đáp ứng yêu
cầu mới của xã hội. Nội dung giáo dục tư tưởng, chính tị đạo đức là “Tăng cường giáo dục
thế giới quan khoa học, giáo dục tư tưởng cách mạng XHCN cho học sinh. Nâng cao lòng
yêu nước XHCN, ý thức về thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước, ý thức về quyền
lợi và nghĩa vụ công dân thể hiện trong cuộc sống và học tập, lao động và hoạt động chính
trị xã hội, giáo dục kỷ luật và pháp luật, giáo dục lòng yêu thương con người và hành vi
ứng xử có văn hóa”.[18,tr88-89]
* Công tác giáo dục đạo đức
-

Giáo dục lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, biết trân trọng các giá trị đạo đức của
dân tộc, xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân, tư cách, tác phong đúng đắn
của người công dân.

-

Giáo dục các chuẩn mực đạo đức trong các quan hệ xã hội, phê phán những hành vi
không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức.

-

Giáo dục hành vi đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp.

* Công tác giáo dục lối sống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status