Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục y đức tại trường đại học y dược tp hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH



PHẠM TUẤN HIỆP

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC Y ĐỨC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, Tháng 7/2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH



PHẠM TUẤN HIỆP

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC Y ĐỨC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

DIỄN GIẢI

1

HSSV

Học sinh, sinh viên

2

BGD&ĐT

Bộ Giáo dục và Đào tạo

3

CBVC

Cán bộ viên chức

4

TNCS

Thanh niên cộng sản

5


PGS. TS

Phó giáo sư, Tiến sĩ

11

KTTT

Kinh tế thị trường

12

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

13

NCKH

Nghiên cứu khoa học

14

XHH

Xã hội hóa

15


chung, trong đó có trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh còn tồn
tại một số yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu toàn diện của một nhân viên
y tế trong khi chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu và sự đòi hỏi sự
phục vụ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng ngày càng cao.
Từ thực tiễn trên, để góp phần vào công tác giáo dục y đức cho học
sinh, sinh viên (HSSV) các trường đại học thuộc lĩnh vực y tế (gọi tắt là các
trường Y Dược) trong giai đoạn hiện nay, và qua thực tiễn công tác tại trường
Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, tôi nhận thấy việc nắm rõ thực
trạng và đề ra giải pháp hiệu quả để quản lý công tác giáo dục y đức cho
HSSV các trường Y Dược là hết sức cần thiết do đó tôi chọn đề tài “Một số

1


giải pháp quản lý công tác giáo dục y đức tại trường Đại học Y Dược
thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp
quản lý công tác giáo dục y đức tại trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý công tác giáo dục y đức trong các trường đại học Y Dược
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục y đức tại trường Đại học Y
Dược thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi thì
có thể quản lý tốt và nâng cao chất lượng công tác giáo dục y đức tại trường
Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.

luyện và hoàn thiện bản thân.
Thông qua bài nghiên cứu sẽ góp phần tăng cường ý thức về đạo đức
nghề nghiệp (mà đối với HSSV của nhà trường là y đức) cho thầy thuốc, bác
sĩ, dược sĩ… thực hiện hiệu quả lời Bác Hồ dạy “Thầy thuốc như mẹ hiền”.

3


Bài nghiên cứu này sẽ góp phần đề cao vai trò của giáo dục đạo đức
trong các cơ sở giáo dục hiện nay, vấn đề này hiện nay hầu như chúng ta đều
phó mặc cho gia đình, trong khi vấn đề cơ bản của giáo dục là dạy chữ và dạy
người, hiện nay chúng ta đang nặng về dạy chữ.
Bài nghiên cứu góp phần lấy lại vị thế và uy tín của các cơ sở khám
chữa bệnh, tạo được sự tin tưởng của người bệnh và nhân dân nói chung với
ngành y tế.
Bài nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ một chân lý: Ngày nay, trong
công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta xác định nhiệm vụ trọng tâm là phát
triển kinh tế, điều đó không có nghĩa là xem nhẹ vai trò của đạo đức. Đảng và
Nhà nước ta luôn khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người, đó
phải là những con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần, trong đó đạo đức mới là một
động lực tinh thần to lớn thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, hăng say lao
động sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát huy sáng kiến kỹ thuật, làm việc có
chất lượng và hiệu quả cao của nhân dân lao động.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo nội dung Luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài,
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài,
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục y đức tại


5


1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Đạo đức y học Việt Nam từ lâu mang màu sắc từ bi, bác ái, các thầy
thuốc thường sống hoặc nương nhờ cửa phật làm điều thiện như nuôi trồng
cây thuốc, bốc thuốc chữa bệnh không lấy tiền cho người nghèo. Y đức Việt
Nam xưa gắn liền với những tên tuổi như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông Lê
Hữu Trác...
Thời kỳ hiện đại y đức Việt Nam gắn với những tên tuổi như Phạm
Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng và đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí
Minh, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân, trong đó, những người đau
ốm, bệnh tật là những người được Người quan tâm nhất.
Trong thời gian gần đây có các công trình nghiên cứu, các bài viết về y
đức Việt Nam như: bài viết “Sáng ngời y đức” của tác giả Trần Ngọc Bội viết
về đại danh y Lê Hữu Trác [8], tác giả Huỳnh Tấn Tài với tác phẩm “Y đức
và đạo đức học y khoa” trong tác phẩm này tác giả đã nghiên cứu rất nhiều
vấn đề như: Tình hình y đức tại Việt Nam; Nghĩa vụ của thầy thuốc đối với
bệnh nhân; Nghĩa vụ của bệnh nhân đối với thầy thuốc, tổ chức y tế và xã hội;
Nghĩa vụ của tổ chức y tế đối với bệnh nhân, nhân viên y tế và xã hội; Nghĩa
vụ của xã hội về chính sách y tế…[32]
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Y đức
1.2.1.1. Khái niệm y đức
Ðạo đức nghề y hay còn gọi là y đức không phải là luật pháp, là nghĩa
vụ pháp lý mà là những phẩm chất tốt đẹp, cao quý của người hành nghề y, là
những quy ước và nguyên tắc được coi là những kim chỉ nam cho việc hành




mối quan hệ xã hội. Tuy quan hệ đạo đức không quan sát trực tiếp được dễ
như hành vi đạo đức, nhưng nó lại dễ đánh giá hơn vì thông qua các quan hệ
xã hội, bao giờ cũng bộc lộ mục đích, cách thức và phương tiện của người
thầy thuốc. Bởi quan hệ xã hội vừa thể hiện tư tưởng - tình cảm đạo đức, vừa
thể hiện cách xử lý các lợi ích trong y tế. Người thầy thuốc không được coi
lợi ích cá nhân của mình là điều kiện tiên quyết trong chăm sóc sức khỏe,
nhưng cũng phải quan tâm lợi ích đó thì mới thúc đẩy được công tác chăm
sóc sức khỏe, mới thống nhất được với những tư tưởng tình cảm y đức tiến bộ
và cao đẹp.
Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu
hiện ở tinh thần tránh nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm
sóc người bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn, như lời chủ tịch Hồ Chí
Minh đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu”. Phải thật thà đoàn kết, khắc phục
khó khăn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây
dựng nền Y học Việt Nam, Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên
tắc đạo đức được xã hội thừa nhận
1.2.1.2. Quy định về y đức
Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế được biểu hiện
bằng tinh thần trách nhiệm cao tận tụy, hết lòng thương yêu chăm sóc người
bệnh, đúng như lời Bác dạy: "Lương y phải như từ mẫu". Để cụ thể hóa lời
dạy của Bác, ngành Y tế đề ra 12 điều y đức giúp mỗi người cán bộ y tế
(CBYT) tự đánh giá, tu dưỡng mình và không ngừng học tập rèn luyện để trở
thành thầy thuốc có đức, có tài:
- Chăm sóc sức khỏe cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện
đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải
có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao
phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực



9


- Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục
điều trị tự chăm sóc và giữ gìn sức khỏe.
- Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng
dẫn giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết.
- Thật thà, đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy,
sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau.
- Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình,
không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.
- Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng
chống dịch bệnh, cứu chữa người bị tai nạn, ốm đau tại cộng đồng, gương
mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường sống trong sạch [3, tr 7 9].
Những quy định về y đức xác định bốn mối quan hệ mật thiết đó là:
Thứ nhất, mối quan hệ của người CBYT với đồng nghiệp, đã tình
nguyện hành nghề y phải hun đúc trong chính mình lòng yêu nghề, ham mê
công việc, cần cù học tập vươn lên. Tích cực đóng góp cho sự nghiệp xây
dựng và phát triển nền y học Việt Nam.
Thứ hai, mối quan hệ của người CBYT với người bệnh, phải tôn trọng
và thông cảm sâu sắc với người bệnh, tận tình cứu chữa "coi họ đau đớn cũng
như mình đau đớn". Không phân biệt đối xử giữa người bệnh giàu nghèo hay
sang hèn. Thực hiện chữa bệnh theo bệnh. Thận trọng trong chẩn đoán cũng
như chỉ định điều trị, đặc biệt trong phẫu thuật.
Thứ ba, mối quan hệ giữa người CBYT với các bậc thầy, với đồng
nghiệp. Dân tộc Việt Nam có truyền thống "tôn sư trọng đạo", đã học thầy
phải kính trọng và nhớ ơn thầy, giúp đỡ thầy khi già yếu hay lúc khó khăn,
quan tâm chăm sóc tới các con của thầy. Đối với đồng nghiệp phải khiêm tốn




- Người thầy thuốc phải nhận lãnh trách nhiệm tham gia vào các hoạt động
nhằm cải thiện cộng đồng và y tế công cộng.
- Người thầy thuốc trong khi chăm sóc bệnh nhân phải xem nhiệm vụ của
mình đối vụ bệnh nhân là trên hết.
- Người thầy thuốc phải ủng hộ mọi thành phần trong xã hội được quyền
tiếp cận dịch vụ y khoa.
* Qui ước đạo đức ngành y của Hiệp hội Y khoa Thế giới (World Medical
Association)
- Nhiệm vụ chung của người thầy thuốc (người thầy thuốc phải):
+ Thực hành nghề nghiệp và duy trì chuẩn mực chuyên môn ở mức độ cao
nhất.
+ Tôn trọng quyền của bệnh nhân chấp nhận hay bác bỏ đề nghị của thầy
thuốc.
+ Không để cho phán xét cá nhân bị chi phối bởi quyền lợi cá nhân hay
phân biệt đối xử.
+ Hết lòng trong việc cung cấp dịch vụ chuyên môn cho bệnh nhân.
+ Hành xử thành thật với bệnh nhân và đồng nghiệp. Báo cáo cho giới
chức có trách nhiệm biết những thầy thuốc thiếu y đức hoặc bất tài
hoặc có hành vi lừa đảo.
+ Không thuyên chuyển bệnh nhân hoặc ra toa thuốc để hưởng lợi ích tài
chính hay quà cáp.
+ Tôn trọng quyền và sự lựa chọn của bệnh nhân.
+ Có trách nhiệm giáo dục công chúng về những khám phá mới trong y
học, nhưng cần phải cẩn thận trong việc áp dụng các phương pháp
còn trong vòng thử nghiệm.

12


viết: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn
phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”.
Vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ,
hoặc vì những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân không được trấn
tĩnh, đối với thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như vậy, chúng
ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động, cảm hoá họ. Người ta
có câu: “Lương y như từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải
như một người mẹ hiền...”
Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Người viết:
“... Cán bộ y tế (bác sĩ, y tá, những người giúp việc) cần phải: Thương yêu
người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân.
Lương y như từ mẫu”...
Với tinh thần nhân văn cao cả, lòng nhân hậu hết mực, Chủ tịch Hồ Chí
Minh, trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, tháng 2-1955, đã nhấn mạnh: “...
Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó
thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó
là một nhiệm vụ rất vẻ vang.
Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em
ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn”. “Lương y như từ
mẫu”, câu nói ấy rất đúng...” Nội dung của y đức được Chủ tịch Hồ Chí Minh
xác định đầy đủ nhất, sâu sắc nhất và chuẩn xác nhất trong bức thư này.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân, trong đó, những người đau
ốm, bệnh tật là những người được Người quan tâm nhất.

14


Trong thư gửi cán bộ và nhân viên quân y ngày 31 tháng 7 năm 1967,
Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần căn dặn: “Bác nhắc nhủ các cô, các chú phải:

Giáo dục đạo đức nói chung có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong toàn
bộ công tác giáo dục ở nhà trường, giáo dục y đức là một phần rất quan trọng
trong công tác giáo dục của các trường đại học Y Dược, nếu công tác này
được quan tâm đúng mức sẽ có tác dụng thúc đẩy việc nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện của nhà trường.
Giáo dục y đức là quá trình hình thành và phát triển ý thức, niềm tin,
tình cảm, hành vi và thói quen đạo đức nghề nghiệp của HSSV học tập trong
lĩnh vực y tế, được hình thành một cách trực tiếp, hay gián tiếp bởi các nội
dung, phương pháp, phương tiện có tính hệ thống do các cán bộ, giảng viên
của cơ sở giáo dục thuộc các trường đại học Y Dược thực hiện.
1.2.2.2.. Khái niệm quản lý giáo dục y đức
Quản lý giáo dục y đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới
đối tượng quản lý nhằm đưa công tác giáo dục y đức đạt được kết quả mong
muốn một cách hiệu quả nhất.
Quản lý giáo dục y đức phải hướng tới việc làm cho mọi lực lượng giáo
dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác giáo dục y đức. Quản
lý công tác giáo dục y đức bao gồm việc quản lý mục tiêu, nội dung, hình
thức, phương pháp giáo dục, huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục y đức, biến quá trình
giáo dục thành quá trình tự giáo dục.
1.2.3. Giải pháp và giải pháp quản lý công tác giáo dục y đức
1.2.3.1. Khái niệm giải pháp

16


Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, trang 344 do Hoàng Phê chủ biên thì
giải pháp được định nghĩa như sau: Giải pháp là cách làm, cách giải quyết
một vấn đề cụ thể. [ 28 ]
Còn trong cuốn Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng của

- Nghiên cứu và ứng dụng những giá trị đạo đức, quyền và bổn phận trong
lĩnh vực điều trị và nghiên cứu y học.
- Chuẩn bị cho người sinh viên Y khoa nhận ra những tình huống khó khăn và
ứng xử theo một phương cách có nguyên tắc và lý trí.
- Trong xã hội ngày nay khi đất nước đang hòa mình vào xu thế hội nhập
quốc tế, các giá trị mới, xa lạ du nhập vào làm cho các giá trị truyền thống
ngày càng mai một, hơn lúc nào hết, vần đề giáo dục đạo đức nói chung và
vần đề giáo dục y đức cho HSSV ngành y tế nói riêng càng phải đựơc đặc biệt
chú trọng và quan tâm đúng mức.
1.3.1.3. Phương pháp giáo dục y đức cho HSSV các trường Y Dược
Các phương pháp giáo dục y đức cho HSSV các trường y dược tương
đối phong phú và đa dạng, gồm những nhóm phương pháp sau:
- Nhóm phương pháp tác động vào nhận thức: phương pháp đàm thoại,
tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn…
Là phương pháp tổ chức, trò chuyện giữa giáo viên, giảng viên với
HSSV về các vấn đề về đạo đức, y đức dựa trên một hệ thống các câu hỏi đã
được chuẩn bị từ trước.

18


- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn: giao việc, rèn luyện,
tập thói quen…
Giao cho HSSV những công việc liên quan đến tình cảm, đạo đức và y
đức như chăm sóc những bạn ốm đau, hay kèm cặp các bạn có học lực yếu…
để cho HSSV rèn luyện và tập thói quen giúp đỡ người đau yếu, yêu thương,
đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau.
- Nhóm phương pháp kích thích tình cảm và hành vi: thi đua, nêu
gương, khen thưởng, kỷ luật…
Dùng những tấm gương tiêu biểu để giáo dục HSSV học tập và làm

học y dược đã tiến hành xây dựng, thành lập Bộ môn Y đức – Xã hội học và
từ năm học này đã chính thức đưa Bộ môn Y đức – Xã hội học vào chương
trình học tập của nhà trường.
1.3.2. Nội dung quản lý công tác Giáo dục y đức cho HSSV các trường Y
Dược
1.3.2.1. Mục tiêu quản lý công tác giáo dục y đức cho HSSV các trường Y
Dược
Mục tiêu của quản lý công tác giáo dục y đức cho HSSV là làm cho quá
trình giáo dục y đức vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo
dục y đức. Mục tiêu quản lý công tác giáo dục y đức bao gồm những vấn đề
sau:
- Về nhận thức: Quản lý công tác giáo dục y đức cho HSSV giúp cho
mọi người, mọi lực lượng có liên quan có nhận thức đúng đắn về tầm quan
trọng của công tác quản lý giáo dục y đức, nắm vững quan điểm của chủ

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status