TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM SINH HỌC
KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỘNG SỐ LƯỢNG CÁ THỂ
THEO MÙA CỦA QUẦN XÃ GIUN ĐẤT Ở
QUẬN CÁI RĂNG - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: SƯ PHẠM SINH – KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Cán bộ hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Th.S. NGUYỄN THANH TÙNG
HUỲNH THỊ HỒNG DIỆU
Lớp: Sư Phạm Sinh – KTNN
MSSV: 3072319
NĂM 2011
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
CẢM TẠ
Để có thể hoàn thành tốt đề tài này, chúng tôi đã nhận được nhiều sự giúp
đỡ của các tổ chức và các cá nhân. Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát sự biến động số lượng cá thể theo mùa của
quần xã giun đất ở quận Cái Răng – Thành phố Cần Thơ” được tiến hành tại quận
Cái Răng thuộc Thành phố Cần Thơ từ tháng 9/2010 đến tháng 2/2011. Chúng tôi
tiến hành thu mẫu giun đất qua 5 đợt vào mùa mưa (tháng 09, 10/2010) và mùa
khô (tháng 12/2010 và tháng 01, 02/2011) với 7 điểm thu mẫu trên 5 sinh cảnh:
vườn cây lâu năm, vườn cây ngắn ngày, bãi hoang, bờ đường và cạnh mép nước.
Sau khi phân tích mẫu giun đất với số lượng 2440 cá thể của 165 hố định lượng với
trọng lượng là 994,095 g. Chúng tôi đã tìm thấy được 10 loài giun đất thuộc 5
giống, 4 họ, có 2 dạng chưa định được tên khoa học. Trong đó có 1 loài mới cho
Nam Bộ (Glyphidrilus papillatus). Tháng 12 là tháng có thành phần loài phong
phú nhất, tuy nhiên mật độ và sinh khối cao nhất lại thuộc về tháng 10. Hầu
hết các loài giun đất tại khu vực nghiên cứu phân bố không sâu, phân bố ở
tầng A1 đến A3 nhưng tập trung chủ yếu ở tầng A1. Từ tháng 9 đến tháng
12/2010 và tháng 2/2011, giun đất phân bố chủ yếu ở tầng A1,một số ở tầng
A2. Vào tháng 1/2011, giun đất phân bố đến tầng A3. Sinh cảnh bãi hoang có
thành phần loài giun đất phong phú nhất nhưng mật độ cao nhất lại ở sinh cảnh
vườn cây lâu năm và sinh khối cao nhất ở sinh cảnh bờ đường.
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp
ii
Bộ môn Sư phạm Sinh học
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
MỤC LỤC
Bộ môn Sư phạm Sinh học
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
CHƯƠNG III. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu .....................................................................10
2. Phương tiện nghiên cứu ............................................................................. 13
2.1. Tư liệu nghiên cứu ......................................................................... 13
2.2. Vật tư – hóa chất ........................................................................... 13
2.3. Dụng cụ ........................................................................................ 13
3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 13
3.1. Phương pháp thu mẫu ................................................................... 13
3.2. Phương pháp định hình mẫu vật và lưu trữ mẫu ............................. 14
3.3. Phương pháp tính số lượng và sinh khối ........................................ 14
3.4. Phương pháp định loại .................................................................. 14
CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ THẢO LUẬN
1. Thành phần loài giun đất ở quận Cái Răng – Cần Thơ .......................................15
1.1. Danh sách các loài giun đất ở quận Cái Răng – Cần Thơ ....................15
1.2. Đặc điểm chẩn loại các loài giun đất ở Cái Răng – Cần Thơ ................16
2. Biến động số lượng cá thể theo mùa của quần xã giun đất ở khu vực nghiên cứu
...................................................................................................................22
3. Đặc điểm phân bố của giun đất theo sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu ................36
CHƯƠNG V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận .............................................................................................................42
2. Đề nghị ..............................................................................................................43
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................44
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Một số đặc điểm phân loại giun đất (Nguồn Thái Trần Bái, 1986)................... 7
Hình 2: Các điểm thu mẫu ở quận Cái Răng – Cần Thơ ........................................10
Hình 3: Các sinh cảnh thu mẫu giun đất ở quận Cái Răng – Cần Thơ ...................12
Hình 4a: Hình dạng ngoài của một số loài giun đất ở quận Cái Răng – Cần Thơ
....................................................................................................................16
Hình 4b: Hình dạng ngoài của một số loài giun đất ở
quận Cái Răng – Cần Thơ (tiếp theo) .........................................................17
Hình 5: Pheretima bahli Gates, 1945 ...................................................................18
Hình 6: Hình chụp giải phẩu phần đầu cơ thể Pheretima campanulata (Rosa,
1890) .....................................................................................................................18
Hình 7: Pheretima elongata (Perrier, 1872) ..........................................................19
Hình 8: Pheretima posthuma (Vaillant, 1896)........................................................19
Hình 9: Mối quan hệ giữa mật độ, sinh khối và thành phần loài của các loài giun
đất ở quận Cái Răng – Cần Thơ qua các đợt thu mẫu .................................22
Hình 10: Biến động số lượng n (con) của các loài giun đất ở quận Cái Răng – Cần
Thơ qua các đợt thu mẫu (Tính theo %) ....................................................25
Hình 11: Biến động số lượng n (con) của từng loài giun đất được tìm thấy ở quận
Cái Răng – Cần Thơ qua các đợt thu mẫu (Tính theo %) ...........................27
Hình 12: Phân bố theo độ sâu của các loài giun đất ở quận Cái Răng – Cần Thơ
qua các tháng thu mẫu (Tính theo số cá thể [n (con/m2)] và sinh khối
[p(g/m2]) .....................................................................................................35
Hình 13: Mối quan hệ giữa thành phần loài, mật độ, sinh khối của giun đất trong
các sinh cảnh ở quận Cái Răng – Cần Thơ ..................................................37
giới áp dụng từ lâu. Ở Miến Điện, giun đất được người dân dùng để chữa bệnh
chảy mủ (Thái Trần Bái, 1989). Ở Việt Nam, nhân dân nhiều vùng nông thôn và
vùng núi đã dùng giun để chữa bệnh sốt rét. Ngoài ra, công ty dược Domesco –
Đồng Tháp đã dùng Pheretima aspergillum để sản xuất thuốc Doragon, có tác dụng
giảm nhanh cơn ngứa, khô vết thương và làm tăng sức đề kháng khi làm việc quá
sức (CMP, 2005).
Giun đất còn là nhóm chỉ thị môi trường và tính chất của đất. Ví dụ,
Pheretima posthuma chỉ thị cho đất cát pha và Pheretima posthuma thường gặp
trong đất trung tính (pH = 6,0 – 7,5), còn Pheretima elongata chỉ thị cho đất thịt
nặng. Như vậy, căn cứ vào thành phần loài và số lượng giun đất ta có thể xác định
được tính chất của một vùng đất, điều cần thiết khi khai thác một vùng đất cụ thể.
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp
1
Bộ môn Sư phạm Sinh học
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt lợi kể trên, giun đất còn là vật chủ trung
gian truyền bệnh như giun phổi, giun thận (Bùi Lập và Nguyễn Đức Tân, 1993).
Cơ thể giun đất còn là môi trường thích hợp của trực khuẩn gây bệnh ngộ độc thịt
ôi (Clostridium botulium), phát triển và lan truyền trong đất (Tạ Huy Thịnh, 1995).
Theo phân tích trên thế giới có khoảng 8000 loài giun đất, riêng ở Việt Nam
có khoảng 197 loài. Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long mới chỉ phát hiện được
17 loài. Riêng quận Cái Răng của thành phố Cần Thơ chưa có dẫn liệu cụ thể về
thành phần loài, mật độ, đặc điểm phân bố theo sinh cảnh và theo mùa của giun
CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1. Tình hình nghiên cứu giun đất ở khu vực nghiên cứu
Ở Nam Bộ, giun đất được nghiên cứu từ rất sớm. Mở đầu là công trình của
Perrier, 1872 đã mô tả Perichaeta aspergillum ở Đồng bằng sông Cửu Long
(Perrier, 1872). Đến năm 1875 ông bổ sung thêm 3 loài giun đất ở vùng này, trong
đó có 1 loài mới cho khoa học là Perichaeta juliani Perrier, 1875 và 2 loài giun đất
lần đầu gặp ở Việt Nam: Pheretima (Ph.) posthuma (Vaillant, 1896), Pheretima
houlleti Perrier, 1872 (Perrier, 1875).
Tiếp đến 1956, Omodeo trong công bố về giun đất ở Đông Dương và Địa
Trung Hải đã nhắc tới 6 loài giun đất ở khu vực Sài Gòn và Vũng Tàu. Trong đó có
một loài mới là Pheretima saigonensis Omodeo, 1955. Nhưng về sau Thái Trần
Bái đã tu chỉnh lại là tên động vật của Pheretima bahli Gates, 1945.
Từ năm 1975, việc nghiên cứu giun đất ở Việt Nam mới được chú trọng,
thực hiện rộng rãi và có hệ thống. Năm 1984, Thái Trần Bái công bố các loài mới
thuộc giống Pheretima ở Việt Nam, trong đó có 1 loài được tìm thấy ở Long An là
Pheretima polycheatifera (Thái Trần Bái, 1983). Năm 1896, ông xây dựng khóa
định loại các loài giun đất cỡ lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long gồm 12 loài. Đến
năm 2004, ông có thêm một số công trình nghiên cứu giun đất trên các đảo (Thái
Trần Bái và ctv, 2000).
Trong những năm gần đây, có công trình nghiên cứu “Khu hệ giun đất ở
vành đai sông Tiền” của Th.S. Nguyễn Thanh Tùng. Nguyễn Thanh Tùng và Trần
Thị Anh Thư đã công bố 17 loài giun đất trong khu vực nghiên cứu. Khi so sánh
với 13 loài giun đất đã ghi nhận trước đó thì có 8 loài giống nhau. Trong số 9 loài
còn lại, có 3 loài mới cho Nam Bộ là Dichogaster bolaui, Gordiodrilus elegans,
Pheretima campanulata và có đến 6 loài chưa xác định được tên khoa học (Nguyễn
Thanh Tùng và Trần Thị Anh Thư, 2008).
Như vậy, cho đến ngày nay việc nghiên cứu về giun đất ở Nam Bộ nói
chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng còn hạn chế và chưa tập trung.
2.2. Địa hình
Địa hình Cái Răng có dạng địa hình đồng bằng châu thổ với đặc điểm chung
là thấp và bằng phẳng (Lê Thông, 2001). Cao độ trung bình khoảng 1,0 m, có độ
dốc rất nhỏ và thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Quận Cái Răng nằm trong
khu vực có địa hình cao nhất ở Cần Thơ nhờ vào sự bồi đắp phù sa từ sông Hậu.
Cồn Ấu là một trong những cồn cát trên sông nằm giữa sông Hậu. Do tác động của
dòng chảy, Cồn Ấu có dạng thấu kính với thượng nguồn đỉnh khá nhọn, phía hạ
lưu có dạng đáy tròn.
2.3. Đất đai
Quận Cái Răng nằm trong vùng phân bố của đất phù sa. Quận Cái Răng có
6.253,43 ha diện tích tự nhiên với nhóm đất chính là đất phù sa ven sông. Đây là
loại đất hình thành do sự bồi đắp phù sa hằng năm của sông Hậu. Đất rất phì nhiêu,
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp
4
Bộ môn Sư phạm Sinh học
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
nhiều chất hữu cơ và thành phần cơ giới tốt thích hợp cho trồng lúa, hoa màu, cây
ngắn ngày và cây lâu năm.
2.4. Khí hậu
Cái Răng nằm trong vùng thuộc ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa
cận xích đạo. Sự chênh lệch nhiệt độ trong năm của Cần Thơ rất thấp. Có hai mùa
rõ rệt trong năm là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau; gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình các tháng từ 260C đến 28 0C. Có số giờ
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
- Kiểu môi: mấu ở trên lỗ miệng. Tùy vị trí tương đối của môi đối với đốt I,
phân biệt các kiểu môi: môi trước, môi giữa và môi sau. Tùy theo vị trí kết thúc của
môi trên đốt I, phân biệt kiểu môi giữa 1/3, 1/2, 2/3.
- Đai sinh dục: sản phẩm của biểu mô ở một phần của cơ thể, tạo thành kén
giun đất sau khi ghép đôi. Phân biệt đai hở, hình yên ngựa và đai kín, hình nhẫn.
Đai của Pheretima thường chỉ chiếm 3 đốt (XIV – XVI), có khi ít hơn (1/3 XIV –
4/5 xvi) hoặc nhiều hơn (1/2 XIII – XVI).
- Nhú đực: nhú chứa lỗ đực, có kích thước và hình dạng thay đổi tùy loài.
Nhú đực có thể có hoặc không có buồng giao phối.
- Lỗ lưng đầu tiên: lỗ nằm giữa đường lưng, trên rãnh gian đốt, thường bắt
đầu ở một vùng nhất định.
- Lỗ nhận tinh: lỗ của túi nhận tinh đổ ra ngoài, thường ở rãnh gian đốt, có
khi ở ngay trên bề mặt đốt, ở trước hoặc sau vành tơ. Số lượng lỗ nhận tinh thay
đổi tùy theo loài có thể không có đến 5 đôi nằm trong khoảng gian đốt 4/5 – 8/9.
- Nhú phụ sinh dục và tuyến phụ sinh dục: nhú có kích thước và hình dạng,
nổi trên da, gắn với tuyến phụ ở trong và không gắn với tơ. Phân biệt nhú phụ đơn,
nhú phụ hợp, nhú phụ hình đĩa và nhú phụ lưỡi liềm. Phần tuyến của nhú phụ sinh
dục. Phân biệt dạng ẩn, dạng lát và dạng nấm. Tuyến dạng nấm có thể đơn hoặc hợp.
- Vách ngăn đốt: vách ngăn ngang, giới hạn các đốt, bám vào thành ruột và
thành cơ thể. Xác định sự xuất hiện và tình trạng của các vách ngăn đốt phía trước
đai sinh dục.
- Túi nhận tinh: cơ quan nhận tinh dịch của đối phương khi ghép đôi. Túi
nhận tinh có thể có ở nhiều mức độ phát triển: trong da hoặc trong thể xoang. Mỗi
túi nhận tinh có thể có: ampun, cuống ampun, diverticulum, buồng tinh. Ở
Pheretima, túi nhận tinh có thể có một hay nhiều đôi nằm trong vùng đốt IV – X.
- Tinh nang: túi nhận tinh nhận tinh từ túi tinh hoàn. Pheretima có 2 đôi tinh
- Tuyến bạch huyết: từng đôi túi ở 2 bên mạch máu lưng, sau mỗi vách đốt
của các đốt sau đai. Tuyến có hình túi hoặc hình quả ớt, chưa rõ chức phận.
- Tuyến canxi: tuyến tiết CaCO3 dưới dạng tinh thể, là các túi chuyên hóa từ
thành thực quản, có nhiều ngăn và tập trung nhiều mạch máu.
- Tuyến tiền liệt: tuyến dạng túi hoặc xẻ thùy, đổ ra ngoài chung với lỗ sinh
dục đực hoặc cạnh lỗ sinh dục đực. Chức phận chưa rõ có thể tiết dịch để làm loãng
tinh dịch trước khi ghép đôi. Xác định mức độ phát triển và sự phân thùy của tuyến
như xẻ thùy, nông, sâu, thô,...
- Manh tràng: nhánh tịt của ruột giữa, tập trung tế bào tiết men phân giải
xenlulơzơ. Ở Pheretima, manh tràng nếu có bắt đầu từ đốt XXII – XXVII, phần lớn
từ đốt XXVII. Phân biệt với các kiểu manh tràng đơn giản, xẻ thùy, hình lược và
hình lông chim hay không có manh tràng.
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp
7
Bộ môn Sư phạm Sinh học
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
4. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến giun đất
4.1. Nhiệt độ
Các hoạt động sống, trao đổi chất, tăng trưởng, hô hấp và sinh sản của giun
đất đều chịu tác động lớn từ nhiệt độ. Chẳng hạn, khi nhiệt độ môi trường tăng cao,
giun đất có xu hướng di chuyển xuống các lớp đất sâu và giảm quá trình trao đổi
Bộ môn Sư phạm Sinh học
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
giun đất thích hợp với pH trung tính, tuy nhiên chúng vẫn có thể hoạt động với pH
từ 5 – 8 (Edward và Bohlen, 1996).
4.4. Thuộc tính đất
Giun đất bị ảnh hưởng bởi loại đất và kết cấu của đất. Độ phù sa của đất
ảnh hưởng đến độ phong phú của giun đất. Ngoài ra, kết cấu của đất cũng có thể
tác động đến mật độ giun đất vì thuộc tính đất ảnh hưởng lên các đặc tính khác của
đất như ẩm độ, chất dinh dưỡng, khả năng trao đổi ion. Mỗi loại cơ giới đất có
những loài ưu thế Pheretima elongata (đất thịt nặng), Pheretima posthuma (đất cát
pha),…
4.5. Chất hữu cơ, thức ăn và chất hóa học
Sự phân bố chất hữu cơ trong đất ảnh hưởng lớn đến sự phân bố của giun
đất. Vật chất hữu cơ là nguồn thức ăn chính cho giun đất. Đất nghèo chất hữu cơ
không thích hợp cho sự phát triển của giun đất.
Số lượng và loại thức ăn có sẵn không chỉ ảnh hưởng đến kích cỡ mật độ
của giun đất mà còn tác động đến sự hiện diện của loài, mức tăng trưởng và độ
phong phú của chúng.
Chất hóa học chủ yếu ở đây là thuốc trừ sâu. Thuốc trừ sâu thường được sử
dụng chủ yếu ở vườn cây ngắn ngày. Việc sử dụng nhiều thuốc trừ sâu hóa học sẽ
làm tăng nồng độ kim loại trong đất tạo điều kiện bất lợi cho các hoạt động của
giun đất, ngăn cản hoạt động hô hấp, làm giảm sinh khối và thậm chí sẽ làm giun
đất chết.
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp
Bộ môn Sư phạm Sinh học
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
Bảng 1: Địa điểm, thời gian, và sinh cảnh thu mẫu trong khu vực nghiên cứu
STT
Địa điểm
Thời gian
Sinh cảnh
1
Ba Láng
09/2010, 10/2010, 12/2010, 01/2011
Vườn cây ngắn ngày (chuối,
đậu), bờ đường , bãi hoang
& 02/2011
2
5
Tân Phú
6
Phú Thứ
Vườn cây lâu năm (mít), bãi
09/2010, 10/2010, 12/2010, 01/2011
Cạnh mép nước
Vườn cây ngắn ngày (chuối,
dưa leo, đậu)
& 02/2011
09/2010, 10/2010, 12/2010, 01/2011
& 02/2011
Bờ đường
Vườn cây lâu năm (xoài,
Cồn Ấu –
09/2010, 10/2010, 12/2010, 01/2011
Hưng Phú
D. Cạnh mép nước (01/2011)
( Cồn Ấu – Hưng Phú – Cái Răng – Cần Thơ)
E. Vườn cây lâu năm (02/2011)
(Lê Bình – Cái Răng – Cần Thơ)
Hình 3: Các sinh cảnh thu mẫu giun đất ở quận Cái Răng - Thành phố Cần Thơ
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp
12
Bộ môn Sư phạm Sinh học
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
- Vườn cây lâu năm: gồm các vườn cây ăn quả như xoài và mít thường
xuyên chịu tác động của con người. Sinh cảnh này gặp thường trong khu vực
nghiên cứu.
- Vườn cây ngắn ngày: chủ yếu là chuối và hoa màu như bồ ngót, xả, dưa
leo, cải và đậu, gặp phổ biến trong khu vực nghiên cứu. Sinh cảnh này chịu tác
động thường xuyên của con người do chế độ luân canh thường xuyên.
- Bãi hoang: gồm các bãi đất trống, bị hoang hóa và ít hoặc không chịu sự
tác động từ con người. Sinh cảnh này gặp phổ biến trong khu vực nghiên cứu.
- Cạnh mép nước và dưới nước: gặp chủ yếu ở Cồn Ấu. Đây là sinh cảnh ít
ổn định nhất.
- Bờ đường: đây là sinh cảnh thường gặp trong khu vực nghiên cứu. Đất ở
- Phương pháp thu mẫu định lượng: mẫu định lượng giun đất được thu trong
các hố đào có kích thước 50 cm x 50 cm (= 0,25 m2), thu theo lớp đất dày 10 cm
cho đến khi không gặp giun nữa. Phương pháp này áp dụng theo cách lấy mẫu
động vật của Ghilarov (1975).
- Phương pháp thu mẫu định tính: việc thu mẫu định tính tiến hành song
song với thu mẫu định lượng trong cùng 1 thời điểm, phạm vi mẫu định tính mở
rộng hơn so với mẫu định lượng trong tất cả các sinh cảnh. Gặp con nào thu con
đó, kể cả những con tự bò lên mặt đất sau khi mưa, nước ngập hay vào sáng sớm
gặp được tại các điểm thu mẫu.
3.2. Phương pháp định hình mẫu vật và lưu trữ mẫu
Các mẫu giun đất được định hình trong dung dịch formol 4% ở trạng thái
duỗi. Trước khi định hình mẫu được rửa sơ bộ cho sạch đất và vụn hữu cơ bám
ngoài. Sau đó, làm cho giun đất chết bằng dung dịch Formol 2%. Khi giun đã chết,
chuyển sang định hình cố định bằng dung dịch Formol 4% trong 24 giờ và sau đó
lưu trữ mẫu trong dung dịch Formol 4% mới.
3.3. Phương pháp tính số lượng và sinh khối
- Tính số lượng (n): Đối với con nguyên vẹn là tính cả con non và con
trưởng thành. Đối với những con bị đứt đoạn chỉ tính phần đầu mới là 1 con, phần
đuôi không tính.
- Tính sinh khối (p): Sinh khối được tính bằng trọng lượng cơ thể sau khi
định hình bằng Formol 4% (kể cả phần đất có trong ruột). Cân bằng cân điện tử có
độ chính xác đến 0,01g.
3.4. Phương pháp định loại
Định loại giun đất là một công việc vô cùng phức tạp vì hình thái và các
thành phần của hệ sinh dục được coi là ổn định đối với nhiều nhóm động vật nhưng
ở giun đất có thể có nhiều biến đổi trong phạm vi rộng, nhất là các quần thể vượt
xa vùng phân bố gốc của loài đó. Khi định loại giun đất, chúng tôi sử dụng nhiều
tài liệu khác nhau từ khóa định loại đến các mô tả từng loại của Thái Trần Bái
(1986), Gates (1972), Blakemore (2002),… và căn cứ vào các đặc điểm phân loại
trong lược khảo tài liệu.
+
++
++
++
++
++
Địa điểm thu mẫu
STT
Taxon
Hưng Thạnh
Ba Láng
Bảng 2: Thành phần loài giun đất ở Quận Cái Răng – Thành Phố Cần Thơ
Glossoscolecidae (Michaelsen, 1900)
Pontoscolex Schmarda, 1861
1
Pontoscolex corethrurus (Muller, 1856)
Megascolecidae (Part Rosa,1891)
Perionyx Perrier, 1872
Pheretima campanulata (Rosa, 1890)
+
+
+
+
+
5
Pheretima houlleti (Perrier, 1872)
+
+
+
+
+
6
Pheretima bahli Gates, 1945
Microchaetidae (Beddard, 1891)
Glyphidrilus Horst, 1889
9
Glyphidrilus papillatus (Rosa, 1890)
+
Moniligastridae Claus, 1880
Drawida Michaelsen, 1900
10
Drawida sp. 1
+
++
+
+
+
(++) Loài chiếm ưu thế trong điểm thu mẫu (có độ phong phú cao nhất)
(+) Loài được phát hiện ở khu vực thu mẫu
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp
Bộ môn Sư phạm Sinh học
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
D
E
F.1
F.2
Hình 4b: Một số loài giun đất ở quận Cái Răng – Thành phố Cần Thơ
D. Pontoscolex corethrurus; E. Pheretima elongata; F. Pheretima houlleti
(1. Hình dạng ngoài; 2. Hình chụp giải phẩu)
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp
17
Bộ môn Sư phạm Sinh học
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 33 – 2011
Trường Đại học Cần Thơ
Bộ môn Sư phạm Sinh học