TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRẦN PHAN THỊ HẢI GIANG
CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG SÁNG TÁC
CỦA ĐẶNG TRẦN PHẤT QUA HAI TÁC PHẨM
CÀNH HOA ĐIỂM TUYẾT VÀ CUỘC TANG THƯƠNG
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. HUỲNH THỊ LAN PHƯƠNG
Cần Thơ, 02-2011
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Sự tồn tại và phát triển của nền văn học Việt Nam ta đã trải qua nhiều biến
động, lúc thăng lúc trầm. Và yếu tố quan trọng làm nên sự tồn tại và phát triển đó
chính là lực lượng sáng tác – các nhà văn, nhà thơ. Nền văn học Việt Nam đã có biết
bao tác giả dù lớn dù nhỏ, dù nổi tiếng hay không nổi tiếng, dù sáng tác nhiều hay ít
thì họ cũng đã có những đóng góp nhất định cho nền văn học nước nhà, về phương
diện này hoặc phương diện khác. Ta thiết nghĩ nên tri ân và nhìn nhận về họ cùng
những sáng tác của họ một cách khách quan và sát xao hơn nữa để không bỏ lỡ những
giá trị chân thiện mỹ mà đôi khi đã vì một thành kiến xã hội hay một sự hờ hững vô
Tài liệu đầu tiên chúng tôi tìm đến biết rõ về tác giả Đặng Trần Phất và tác
phẩm của ông là Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam do Vũ Tuấn Anh và Bích Thu
chủ biên (từ cuối thế kỷ XIX – 1945), NXB Văn học – 2001. Trong đó, Bích Thu đã
giới thiệu kèm theo những nhận xét về hai tác phẩm Cành hoa điểm tuyết và Cuộc
tang thương, cho rằng đây là hai tác phẩm đậm chất thế sự, đã “phản ánh sự lung lay,
đảo lộn của xã hội Việt Nam buổi giao thời trước cơn lốc thời đại”, “Viết Cành hoa
điểm tuyết, Đặng Trần Phất đã dựa trên cái nền hiện thực Việt Nam…”. [3; tr.79]
Tác giả còn nhấn mạnh: “Dưới ngòi bút của Đặng Trần Phất, bức tranh xã hội
Việt Nam đầu thế kỷ đã phơi bày những bất công ngang trái, những gì phi đạo lý,
những cám dỗ lừa lọc, những đau đớn tuyệt vọng của nhân vật…”. [3; tr. 90]
Bên cạnh đó, quyển Từ điển tác gia văn học Việt Nam thế kỷ XX của Trần Mạnh
Thường biên soạn, NXB Hội nhà văn, Hà Nội – 2003 cũng là quyển có nói kỹ về Đặng
Trần Phất hơn các sách khác mà chúng tôi tìm đọc được về các tác gia tác phẩm giai
đoạn đầu thế kỷ XX. Phần nói về Đặng Trần Phất bao gồm tiểu sử, cùng những lời
bình phẩm, đánh giá Cành hoa điểm tuyết và Cuộc tang thương của một số tác giả
đương thời. Như trong lời giới thiệu cho tập Văn thơ Đặng Trần Phất, nhà thơ Lữ Huy
Nguyên viết: “Ngòi bút hiện thực của ông thể hiện trên tác phẩm văn học đã hơn nửa
thế kỷ, nay đọc lại, chúng ta vẫn cứ như thấy hiển hiện trước mắt những con người có
thật, xương thịt hẳn hoi, đang nói cười điệu bộ đâu đó quanh ta với bức tranh toàn
cảnh xã hội “tang thương” ngày đó…”. Hoài Anh trong Chân dung văn học, hay Đọc
“Cuộc tang thương” trên báo Nam Phong số 175 -176 (1932) của Trúc Hà; trên Tạp
chí Văn hóa số 3 (1970), Ngô Văn Phú cũng có bài viết nêu lên nhận định về cảm
hứng thế sự trong Cuộc tang thương, cho đây là quyển tiểu thuyết lãng mạn có nhiều
yếu tố hiện thực phê phán; hay Tô Hoài trong Thể loại truyện lúc rạng đông cũng có ý
kiến về hai tác phẩm, rồi đến Thanh Châu cũng cho rằng Đặng Trần Phất rất đáng quý
vì đã sáng tạo và phản ánh được xã hội lúc bấy giờ vào trong tiểu thuyết của ông. [33;
tr.155 – tr.157]
Ngoài ra chúng tôi còn tìm thấy một số bài viết nghiên cứu phê bình văn học
giai đoạn này in rải rác trên các báo, tạp chí sau này đã được tập hợp in thành sách
tình cùng nhiều bài viết về Đặng Trần Phất và tác phẩm của ông. Các bài viết đã nêu ra
quan điểm đánh giá, sự đồng cảm của các tác giả đối với Đặng Trần Phất, đồng thời đã
vạch ra những hiện thực và giá trị tác phẩm của Đặng Trần Phất.
Tài liệu nghiên cứu gần đây nhất có nói đến cảm hứng thế sự và nhà văn Đặng
Trần Phất với Cành hoa điểm tuyết, Cuộc tang thương là bài “Cảm hứng thế sự - điểm
gặp gỡ và khác biệt giữa tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh với tiểu thuyết một số tác giả miền
Bắc cùng thời” của hai tác giả Nguyễn Văn Nở và Huỳnh Thị Lan Phương in trên Tạp
chí nghiên cứu văn học số 04 – 2010. Bài này có những đoạn nói về cảm hứng thế sự
trong hai tác phẩm Cành hoa điểm tuyết và Cuộc tang thương của Đặng Trần Phất ở ba
khía cạnh: đạo đức và lối sống con người trong buổi giao thời, hiện thực quan lại
thống trị và đời sống kinh tế nghèo nàn lạc hậu của Việt Nam.
Thêm nữa, chúng tôi còn đọc được một số luận văn nghiên cứu về các đề tài
tương tự có liên quan và tìm thấy trong đó họ có nói về Đặng Trần Phất và cảm hứng
thế sự trong sáng tác của ông khi so sánh với các nhà văn khác cùng thời, từ đó chúng
tôi có thêm nền tảng để thực hiện công việc nghiên cứu đề tài.
Tóm lại qua các tài liệu tìm đọc, chúng tôi nhận thấy cũng có người nghiên cứu
phê bình về Đặng Trần Phất nhưng nhìn chung chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách
4
toàn diện, kỹ lưỡng để có thể đánh giá được sâu sắc tài năng và tấm lòng của ông đã
đóng góp cho nền văn học nước nhà, từ đó có cái nhìn khách quan và trân trọng lưu
giữ những thành tựu mà ông đã để lại cho đời. Hầu như các đoạn viết về ông chỉ rời
rạc từng ý kiến, chưa có sự liên kết và có một công trình nghiên cứu lớn nào về ông.
Các bài viết, bài nghiên cứu đã nói được những yếu tố thế sự và giá trị hiện thực trong
tác phẩm của Đặng Trần Phất nhưng chỉ mới là cái nền chứ chưa đi sâu. Đa số các tác
giả đều bắt đầu từ cảm xúc khi đọc tác phẩm mà dẫn tới viết bài nhận xét đánh giá,
chứ chưa phải là công trình nghiên cứu khoa học. Nhưng qua đó chúng tôi nhận ra họ
đã nói lên được ba vấn đề chính của thế sự trong tác phẩm của Đặng Trần Phất. Vì thế
mà đề tài luận văn chúng tôi thực hiện sẽ dựa trên cái nền sẵn có đó mà tiếp tục khảo
hoa điểm tuyết và Cuộc tang thương của Đặng Trần Phất. Vấn đề cụ thể cần tìm hiểu
là các vấn đề thế sự, những yếu tố nghệ thuật góp phần thể hiện cảm hứng thế sự đó
trong hai tác phẩm; khái quát quan niệm và cách lý giải của nhà văn về vấn đề thế sự
mà tác giả đặt ra trong tác phẩm của mình. Chúng tôi còn khảo sát những yếu tố khách
quan làm nên cảm hứng thế sự trong sáng tác của ông, như bối cảnh lịch sử xã hội,
cuộc đời nhà văn…, ngoài ra chúng tôi tìm đọc những tiểu thuyết của các nhà văn
khác cùng thời (chủ yếu là dòng văn học hợp pháp) để so sánh và rút ra những cái mới
của nhà văn trên con đường hiện đại hóa của văn học.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Với đề tài này chúng tôi vận dụng nhiều phương pháp để tiến hành nghiên cứu
như: phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh…
Chúng tôi bắt đầu công việc bằng cách tổng hợp những tài liệu có liên quan,
cần xem, cần nghiên cứu và hệ thống chúng lại, lựa chọn ra những tư liệu cần thiết
phục vụ cho đề tài. Do tư liệu về tác giả này không nhiều nên chúng tôi đi vào tiếp cận
văn bản tác phẩm, phân tích và tìm ra cảm hứng thế sự được phản ánh trong đó, đưa ra
những dẫn chứng thuyết phục; kết hợp những ý kiến đánh giá của các nhà phê bình
văn học.
Thêm nữa, chúng tôi so sánh đối chiếu sáng tác của Đặng Trần Phất với các nhà
văn khác (chủ yếu trong giai đoạn này) để làm làm sáng rõ nhân sinh quan và phong
cách riêng của nhà văn Đặng Trần Phất. Trong quá trình viết chúng tôi còn đưa ra
những bình luận đánh giá và những khám phá của bản thân dựa trên việc tự đọc và
cảm nhận tác phẩm cùng một số ý kiến của giáo viên hướng dẫn, bạn bè; tiếp thu
những kiến thức và kinh nghiệm của người đi trước, quan sát và thu thập những vấn đề
có ích cho việc nghiên cứu đề tài nảy sinh trong đời sống hàng ngày, xung quanh
mình…để hoàn thành luận văn này.
6
Từ trong di sản (những ý kiến về văn học từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX ở nước
ta), NXB Tác phẩm mới Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội – 1981 do Nguyễn Minh Tấn
chủ biên có một đoạn bàn về cái hứng trong thơ như sau:
7
“Người như sông như biển, chữ như nước, hứng thì như gió. Gió thổi tới sông
biển cho nên nước lay động làm thành gợn, thành sóng, thành ba đào. Hứng chạm vào
người ta cho nên chữ nổi dậy, không thể nín được mà sinh ra ở trong lòng, ngâm vịnh
ở ngoài miệng, viết nên ở bút nghiên, giấy mực. Gió không bám vào chỗ nào nhất
định, hứng cũng biến động, không ở yên; mỗi cái tuy ở hướng Đông, Tây, Nam, Bắc
mà buột ra rất nhanh. Người làm thơ không thể không có gió vậy. Có người nói: Tâm
người ta như chuông, như trống; hứng như chày và dùi. Hai thứ đó gõ, đánh vào
chuông, trống khiến chúng phát ra tiếng; hứng đến khiến người ta bật ra thơ, cũng
tương tự như vậy.” (Nguyễn Quýnh).
Vậy cảm hứng là một trạng thái hết sức tự nhiên, một quy luật của tự nhiên
trong mỗi con người chúng ta, sự xuất hiện của cảm hứng do khách quan bên ngoài
đưa đẩy va chạm vào tâm hồn là cái chủ quan ở mỗi con người và bộc lộ ra bằng “bút
nghiên, giấy mực”, kết quả của hứng và của sáng tạo nghệ thuật do cảm hứng mang
lại.
Trong quyển Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Lý luận – phê bình nửa đầu thế kỷ,
quyển 5 tập V), NXB Văn học Hà Nội 2005, PGS. TS Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên có
bài viết Theo Giòng - vài ý nghĩ về văn chương của Thạch Lam có nhắc đến quan niệm
về cảm hứng của một “nhà nghệ sĩ trau dồi và yêu mến hình sắc đẹp tha thiết nhất
trong làng văn Pháp” – Flaubert:
“Cảm hứng tức là ngồi vào bàn làm việc đúng giờ đã định”, quan niệm này
ngắn gọn và có vẻ cho là cảm hứng rất cứng nhắc, nguyên tắc, chỉ là công việc đã định
sẵn, đúng giờ là ngồi vào bàn làm việc ngay, nhưng thực chất có thể hiểu câu nói trên
của Flaubert ngụ ý rằng cảm hứng nó bộc phát ra từ trong suy nghĩ và ý thức của trí
óc, tâm thần chúng ta, buộc chúng ta phải bắt tay vào công việc mà mình suy nghĩ và
đó nhà văn bắt đầu khám phá khơi nguồn, do đó tác phẩm nghệ thuật có mang nhiều
yếu tố chủ quan của tác giả.
Tóm lại cảm hứng là yếu tố quan trọng mở đầu cho một công việc cao cả trong
sáng tác nghệ thuật, trong việc tạo dựng cái đẹp và chân lý cuộc sống. Nó “tạo nên tư
duy để phát triển về mặt tinh thần cao độ”, nên để đánh giá giá trị của một tác phẩm
cần xét đến yếu tố cảm hứng trong tác phẩm.
1.1.2 Khái niệm về cảm hứng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo:
Tư tưởng (tư: suy nghĩ; tưởng: nghĩ ngợi) là sự suy nghĩ hay ý nghĩ; phản ánh
hiện thực của ý thức, biểu hiện quan hệ của con người với thế giới xung quanh. Tư
tưởng còn có một nghĩa khác nữa, đó là phản ánh bản chất và ý nghĩa triết học của sự
vật: tính tư tưởng của tác phẩm. Vậy cảm hứng tư tưởng là cảm xúc mãnh liệt theo
một khuynh hướng rõ rệt, suy nghĩ về con người, sự vật hiện tượng thông qua hiện
thực khách quan, từ đó nâng nó lên thành một triết lý, hướng con người đến những
điều tốt đẹp, cao cả. “Nội dung của cảm hứng tư tưởng trong tác phẩm bao giờ cũng
là một tình cảm xã hội đã được ý thức. Đó có thể là những tình cảm khẳng định như
ngợi ca, vui sướng, biết ơn, tin tưởng, yêu thương, đau xót , thương tiếc…” và ngược
lại cũng có thể là “những tình cảm phủ định các hiện tượng tiêu cực”. [27; tr.207]
Cảm hứng chủ đạo là “Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác
phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây
tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm”. [27; tr.44]
9
Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng chính, chủ yếu làm nên tác phẩm, như cảm
hứng chủ đạo của Truyện Kiều (Nguyễn Du) là cảm hứng nhân đạo; cảm hứng chủ đạo
trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là cảm hứng về người
anh hùng nông dân; cảm hứng thế sự trong sáng tác của Tú Xương, Nguyễn
Khuyến…. Nói chung cảm hứng chủ đạo được thể qua tác phẩm, từ hình tượng nhân
vật, giọng văn, cách xây dựng nội tâm nhân vật, tình huống truyện, hay cảm xúc của
10
1.2 Một số yếu tố góp phần tạo nên cảm hứng thế sự trong văn học đầu
thế kỷ XX:
Nửa cuối thế kỷ XIX nhân dân ta đã đấu tranh anh dũng và hy sinh không ít để
bào vệ độc lập cho tổ quốc, chống lại bọn thực dân Pháp xâm lược. Tuy nhiên ở giai
đoạn đầu của cuộc đấu tranh, phía ta chưa đủ lực lượng và đường lối đúng đắn, thế lực
ta còn non yếu, như trứng chọi với đá, các cuộc đấu tranh đều tạm thời thất bại. Thực
dân Pháp khi đó căn bản đã hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam, bắt tay vào
khai thác thuộc địa Việt Nam nói riêng cũng như Đông Dương nói chung một cách
quy mô. Ý đồ xấu xa của chúng thông qua Dự án chương trình hành động của toàn
quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doume) gửi cho bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp
ngày 23/3/1897 cho ta thấy rõ ràng chúng muốn thâu tóm quyền lực và cai trị nước ta
toàn diện trên mọi lĩnh vực, từ chính trị đến kinh tế và cả văn hóa giáo dục. Dã tâm
của chúng không sao che dấu nổi dưới bức bình phong nước bảo hộ đi khai hóa văn
minh cho các nước nghèo kém phát triển.
Chính vì cuộc khai thác thuộc địa và những thủ đoạn thâm hiểm của thực dân
Pháp đã khiến cho xã hội Việt Nam sang đầu thế kỷ XX đã nảy sinh những mâu thuẫn
gay gắt, những vấn đề hết sức nóng hổi và thu hút sự quan tâm của đại đa số quần
chúng nhân dân, tạo sự tác động mạnh mẽ đến việc sáng tác văn học nghệ thuật và thái
độ của các nhà văn thời kỳ này, nhất là những nhà Nho thất thế, yêu nước, có cái tâm
với đời.
1.2.1 Tình hình chính trị - xã hội:
Tình hình chính trị - xã hội ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ hết sức rối ren
và phức tạp. Chính sự rối ren phức tạp ấy đã góp phần tạo nên cảm hứng thế sự trong
văn học lúc bấy giờ. Bọn thực dân Pháp thì ra sức củng cố bộ máy thống trị bằng đủ
mọi cách và bóc lột nhân dân, quan lại trong nước thì nhu nhược làm tay sai bán
thống trị nước ta dễ dàng hơn.
Tăng cường bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án và nhà tù: Phong trào yêu nước bị
đàn áp dã man, chúng khủng bố điên cuồng, mưu đồ đồng hóa người Việt nhằm gây
ảnh hưởng lâu dài của chúng trong quần chúng nhân dân.
Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX chuyển biến phức tạp, những tầng lớp và giai
cấp mới ra đời, mâu thuẫn dân tộc với thực dân Pháp ngày càng gay gắt. Ở nông thôn,
địa chủ phong kiến phát triển hơn trước, làm tay sai cho Pháp. Người nông dân bị
chiếm đoạt ruộng đất trở thành tá điền, bị bóc lột nặng nề, trở thành tầng lớp bần cùng
trong xã hội…
1.2.2 Tình hình kinh tế:
Thực dân Pháp đã triệt để thực hiện chính sách dùng “người Việt trị người
Việt”, dùng binh lính thuộc địa để bảo vệ thuộc địa, hoặc để lấn chiếm thuộc địa bằng
những biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa… Riêng về mặt kinh tế, chúng đã
thi hành nhiều chính sách mị dân như: duy trì chế độ ruộng lính ở các làng xã, hay
miễn thuế thân cho những người đi lính và cảnh sát. Chúng nhìn nhận Việt Nam ta là
“không một xứ sở nào trên thế gian này… lại có nhiều nguồn lợi như cái xứ Bắc Kỳ”
và nuôi mộng tưởng “tha hồ mà bòn rút đầy tay của cải để đưa về nước”, rồi lại tận
dụng xứ thuộc địa làm thị trường tiêu thụ hàng hóa của chúng.
Pháp còn là đế quốc cho vay nặng lãi, ăn lời cắt cổ, nắm giữ ngân hàng Đông
Dương – cơ quan đầu mối tập trung nhất – thu lợi, bóp nặn nhân dân, chèn ép các ngân
hàng khác của Hoa Kiều và Ấn Kiều. Nhân dân phải chịu cảnh lầm than, gánh món nợ
12
của đế quốc và còn bị bóc lột tàn nhẫn, còn bọn thực dân và chủ ngân hàng chỉ việc
ngồi mát ăn bát vàng, ăn bám và hút máu nhân dân.
Chúng cho phát triển giao thông vận tải, một ngành cần thiết cho việc vơ vét
nguyên nhiên liệu ở Việt Nam và dùng để kịp thời đàn áp các cuộc nổi dậy. Đường bộ
được mở rộng đến những khu vực đồn điền, hầm mỏ, bến cảng… Đường thủy được
sự giàu có của xứ sở” (theo Đông Dương – những sai lầm và nguy hiểm), chỉ làm tăng
thêm sự nghèo khổ cho người Việt Nam.
13
Để vơ vét tài chính chúng ra chính sách sưu cao thuế nặng khiến nhân dân Việt
Nam lâm vào cảnh cùng khổ, bức bối đến thảm thiết. Thuế cũ tăng vọt, lại thêm nhiều
thuế mới ra đời hết sức vô lý mà nhân ta phải gánh chịu như: thuế thân, thuế thuốc
phiện, thuế rượu, thuế vệ sinh, thuế cưới xin… Chúng độc quyền sản xuất rượu và
thuốc phiện, đầu độc nhân dân ta bằng rượu cồn và thuốc phiện, làm suy yếu nòi giống
Việt Nam. Chúng công khai mở các tiệm hút, tiệm rượu và sòng bạc dưới hình thức
phổ biến là nhà hát ả đào.
Đô thị phát triển, nhất là Hà Nội đầu thế kỷ XX đã là nơi sầm uất có nhiều
người buôn bán, trở thành nơi phồn hoa thu hút nhiều người đến đây ăn chơi, bằng
không thì mở cuộc bán buôn kiếm sống. trong quyển Văn học trên hành trình của thế
kỷ XX của Phong Lê, NXB Đại học quốc gia Hà Nội – 1997 có đoạn: “nếu trước đây
môi trường văn hóa Việt Nam chỉ có những làng quê, chợ quê với những đô thị nơi lị
sở chính quyền nhà vua hoặc cái đạo, lộ, tỉnh, ở đó có thêm một cái chợ (thị) phục vụ
nhu cầu của vua quan, quân lính, thì nay do sự khai thác của Pháp, nhiều đô thị đã trở
thành thành phố, nơi có các công sở nhà nước, có ngân hàng, bưu điện, nhà máy, các
đường phố mở ra buôn bán, sản xuất thủ công, các trường học hoạt động”. Đây chính
là những yếu tố làm con người thay đổi về lối sống, cách sống và cách suy nghĩ, “dần
biết tính toán lỗ lãi làm ăn” và nhiều vấn đề khác nảy sinh: con người ăn chơi nhiều
hơn, hám tiền, hám lợi… Đời sống của viên chức, trí thức tuy có khá hơn công nông
nhưng luôn bị chèn ép về chuyên môn, áp bức về chính trị, bấp bênh về kinh tế, do đó
phần đông họ đều thấy xót xa trước cái nhục mất nước và rất có tinh thần yêu nước.
1.2.3 Đời sống văn hóa giáo dục:
Trước thế kỷ XX nước ta có nền văn hóa phong kiến mang đậm bản sắc Đông
Nam Á. Tuy nhiên từ khi thực dân Pháp vào xâm lược và cai trị nước ta cũng là lúc
Quốc, như triết học Khổng Tử, Mạc Tử, Hàn Phi Tử và các loại tiểu thuyết cổ Trung
Quốc… nhằm duy trì và củng cố ý thức hệ phong kiến đã lỗi thời. Chúng cho dịch
những áng văn cổ Việt Nam không phải để giúp thanh niên Việt Nam tìm hiểu vốn văn
học dân tộc mà là nhằm hướng họ vào mê tín, dị đoan, hoặc đưa họ vào con đường hư
văn, lãng quên đấu tranh giải phóng dân tộc. Duy trì cựu học để thu hút một số Nho sĩ
cam tâm làm tay sai cho chúng, còn phát triển tân học là để đào tạo bọn tay sai mới
cho khai thác thuộc địa. Mở một số trường học với mục đích chèn ép phong trào đấu
tranh của thanh niên như trường Học quy tân trường, gọi tắt là trường Tân quy thu hút
thanh niên, chèn ép Đông Kinh Nghĩa Thục; 1908, toàn quyền Bô cho mở Trường đại
học để tuyên truyền cho thế lực của Pháp ở Viễn Đông… tất cả chỉ là hình thức, tuy
nhiên ngoài ý muốn của chúng cũng có mang lại chút lợi ích cho ta.
Về báo chí, 30/01/1899, tổng thống Pháp ra sắc lệnh về chế độ báo chí ở Đông
Dương, quy định rõ chủ nhiệm, chủ bút phải là người Pháp, hoặc có quốc tịch Pháp;
tuyệt đối cấm lưu hành sách báo có hại cho chính phủ thực dân. Mục đích của báo chí
là nằm thông báo các chính sách thực dân và ca ngợi “Công ơn khai hóa, truyền bá
văn minh Đại Pháp”. Vai trò của báo chí thực dân trong việc củng cố bộ máy thống trị
như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận định: “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí
phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của Chính phủ.
Máy chém và nhà tù sẽ làm nốt phần còn lại”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, tr9)
15
1.3 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Đặng Trần Phất:
Đặng Trần Phất (1902 – 1929) là nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình, bút danh
Như Hiền, sinh 1902 tại 37 phố Hàng Thiếc, Hà Nội. Quê quán làng Trung Tựu, xã
Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ông là con trai thứ tư của cụ Đặng Trần
Vỹ, đậu giải Nguyên (Thủ khoa) khoa thi Hương năm Tân Mão (1891) triều Thành
Thái, làm tuần phủ tỉnh Phú Thọ rồi tổng đốc tỉnh Bắc Ninh. Mẹ ông là bà Lê Thị
Bình, một người phụ nữ rất yêu thương chồng con, mất sớm lúc Đặng Trần Phất mới
danh lợi ồn ào. Giữa những năm 20 – 21 buổi đầu thế kỷ XX, khi mà ảnh hưởng phong
kiến đã bắt đầu suy tàn, do việc người Pháp xâm nhập vào Việt Nam… hình thành rõ
rêt hai tầng lớp: người giàu càng giàu, người nghèo càng nghèo, ngòi bút Đặng Trần
16
Phất đã toát lên một quan điểm nhân văn rõ rệt. Qua tác phẩm còn lưu lại đến ngày
nay, chúng ta thấy rõ một Đặng Trần Phất nhân ái trung hậu, biết nghiêng mình
xuống ngậm ngùi chia sẻ cùng những số phận cơ nhỡ bất hạnh…” đã thể hiện tình
cảm sâu sắc của người đọc đối với cái tâm cái tài của ông. (Theo Lữ Huy Nguyên
trong lời giới thiệu cho tập “Văn thơ Đặng Trần Phất” in trong Từ điển tác gia văn
học Việt Nam thế kỷ XX của Trần Mạnh Thường biên soạn).
17
CHƯƠNG II: CẢM HỨNG THẾ SỰ QUA NỘI DUNG SÁNG
TÁC CỦA ĐẶNG TRẦN PHẤT
2.1 Những vấn đề thế sự được phản ánh trong hai tác phẩm Cành hoa
điểm tuyết và Cuộc tang thương:
2.1.1 Vấn đề đạo đức và lối sống trong buổi giao thời:
Xã hội đầu thế kỷ XX là một xã hội giao thời có nhiều biến động. Sự thay đổi
về nhiều mặt khiến không ít người lo lắng, băn khoăn về phong hóa, về đạo đức,
truyền thống… của nước nhà. Nhu cầu và nếp sống của con người cũng khác hẳn ngày
xưa với việc dần dần giải phóng con người khỏi sự áp chế nặng nề của lễ giáo phong
kiến. Tuy nhiên xã hội đổi mới vừa có cái hay vừa có cái dở, và con người cũng phân
chia thành nhiều cực, nhìn nhận cuộc sống đương thời với cái nhìn rất khác nhau,
thành ra vấn đề thế sự trong một thời buổi như thế rất được chuộng. Ngày xưa trong
các tác phẩm văn học ít khi đề cập đến những vấn đề nhỏ nhặt trong cuộc sống. Các
nhà văn nhà thơ trung đại sùng cổ, thường lấy những sự thanh cao, khí tiết của người
nhận được. Tuy trong cái nhìn về xã hội và con người lúc bấy giờ có một số nhà văn
quá bi quan nhưng khi đọc tác phẩm của họ chúng ta sẽ thấy rất rõ trong đó những
mảng hiện thực vô cùng sống động về sự sa sút của đạo đức con người khi tiếp nhận
cái mới không có chọn lọc, không đúng cách. Đặng Trần Phất đã rất tiến bộ khi có suy
nghĩ rằng nước ta theo “nền luân lý Á Đông” lại nhờ “cái tư tưởng bên Châu Âu
truyền bá cho ta, Âu Á giao thông, chẳng phải là một cái hạnh phúc cho ta ru?”. Ông
không cho rằng cái mới, cái văn hóa phương Tây mang lại là hoàn toàn xấu, theo ông
nếu hai nền văn hóa hòa hợp để tìm ra những cái hay cho dân ta học tập thì quá tốt,
quá hạnh phúc. Một mặt nhà văn nhìn ra cái sai của những người chạy theo cái mới
như một phong trào, chạy đua với cái mới nhưng không biết nhìn lại bản thân để có
hướng đi thích hợp cho mình: “...đương buổi giao thời, người nước mình thường
nhiều người hiểu nhầm cái phong trào tự do bình đẳng, giữ theo cái thái độ quá ư vô
tình với đường đạo đức, rẻ rúng phong hóa, ngoài xã hội, trong gia đình, thường thấy
thói kiêu bạc, phóng đãng của người mình hiển hiện ra hàng ngày đâu xa…”.
Thực dân Pháp với những âm mưu thủ đoạn xấu xa, lập bao kế hoạch nhầm
khiến người Việt mất gốc, không còn nhớ con đường chính để đi đến khuất phục
chúng một cách ngoan ngoãn, không còn cái tinh thần chống đối chúng nữa. “Trong
bối cảnh tràn ngập thị trường những sách báo phương Tây kèm theo nhiều lối sống lai
căng mất gốc…”, Cành hoa điểm tuyết và Cuộc tang thương của Đặng Trần Phất như
gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh con người về một lối sống sa đọa, tự do thái quá, con
người chỉ lo hưởng thụ theo đúng tinh thần của chủ trương “khai hóa”, đi vào con
đường bê tha, hủy hoại cả tương lai của một thế hệ thanh niên theo tân học. Tỉ như lối
hát ả đào là một trong những môn nghệ thuật của “nền âm nhạc cũ Việt Nam ở Bắc
Kỳ” thịnh hành hơn cả chèo, sẩm. Nguyễn Xuân Khoát trong bài “Hát ả đào” viết:
“Không biết xưa kia thế nào chứ bây giờ thì từ nhà quê cho đến tỉnh thành không đâu
là không có nhà hát “cô đầu” là nơi còn lưu giữ lại những tiếng vang của một thế hệ
ca nhạc rất đáng yêu quý” [15; tr.596]. Nhưng Pháp đã lợi dụng lối hát ả đào để đầu
độc người An Nam, quyến dụ họ chỉ biết hưởng lạc, nhà hát bấy giờ không còn là nơi
thưởng thức nghệ thuật như ngày xưa mà là nơi các gã quan tham, những thanh niên
tân thời, những cụ già không biết gìn giữ đạo đức,…vào đó để hút á phiện, để nhìn
bồ, bon chen nhưng tâm tưởng cậu không mảy may để ý, chỉ chuyên tâm học hành, tu
rèn đạo đức bản thân. Một con người có phẩm cách như thế cứ tưởng sẽ không bị cái
đời ăn chơi nó quyến dụ, cái hư hỏng sa đọa nó mời gọi được, vậy mà theo dõi câu
chuyện Liễu Oanh đã sa ngã vào cuộc ăn chơi, trai gái, quên mất những tư tưởng tốt
đẹp khi xưa. Cái thế lực của cuộc vui chơi ấy quả có sức mạnh ghê gớm lôi kéo con
người quấn quýt vào vòng, không thể cưỡng lại sức hút của nó. Khởi đầu cho sự hư
hỏng là lời rủ rê của cậu ấm Hai, Liễu Oanh đã không thể từ chối cái thú vui lúc đầu là
tiêu khiển, sau là cuộc truy hoan trụy lạc khiến con người trở nên nhếch nhác, không
còn sức sống, tính tình cũng thay đổi hẳn. Trong Cành hoa điểm tuyết, Đặng Trần Phất
đã dùng ngôn từ vẽ nên những cảnh như: “khay khảm, đèn pha lê, giọc đồi mồi, tiêm
móc bằng bạc, tẩu bằng sứ, nào kéo, nào cái để nạo, nào lọ dầu lạc bằng chai bia to
tướng, hoa đèn trông sáng trưng, mùi thuốc phiện thơm nực mũi, mỗi cái sèo sèo, là
một câu chuyện như pháo ran, mỗi giọt thuốc nhỏ xuống là một câu văng tục, khi tiếng
cười giòn, khi câu chửi nặng, mỗi một hớp hãm thuốc là phì ra một đám khói, thơm
tho và ngon làm sao?”, “cậu cả đương nằm hút trong giường, quần vén tận bẹn, cởi
trần trùng trục, đầu tóc bù xù, vừa thọc tay gãi nách, vừa cầm tẩu hút, trong mình cậu
lúc đó khó chịu lắm…”… đủ cho ta thấy sự nguy hại của thuốc phiện và những trò
quyến rũ ở các nhà cô đầu, các nhà hát ả đào trá hình. Con người là một thực thể sống
20
có suy nghĩ, có tình cảm, con người có thể tránh được những điều xấu xa tội lỗi để đi
đến hoàn thiện bản thân, làm phần người phát triển, nhưng ở đây Liễu Oanh đã không
thể chống chọi lại cái xấu đến cùng mà còn bị lôi kéo đến nỗi vướng vào vòng những
cám dỗ sa đọa, phần con trong người chàng ta càng ngày càng lớn vì những ham muốn
khoái cảm không chánh đáng. Tầng lớp thanh niên trẻ là rường cột nước nhà mà lại
không thể giữ mình trước cám dỗ, dấn thân vào cuộc chơi không cần biết tương lai hậu
họa ra sao, đó là điều Pháp mong muốn nên Đặng Trần Phất đã đau lòng biết bao khi
nhìn những cảnh hút sách, trai gái lả lơi nơi chốn công cộng… Nhà văn mặc dù theo
Tây học nhưng lại viết một câu chuyện ta, về người dân ta, về lối sống và những đổi
21
bao năm cùng mặn nồng chia sẻ đắng cay ngọt bùi với nhau, “thật là đời bây giờ
duyên hờ hững thì nhiều, ai cũng nói có tình tri kỷ, mà tri kỷ đến lừa lọc nhau là hết,
bọn chị em thời lả lơi vờ vĩnh, duyên ông bám duyên bà, đến đồng bạc trắng là xong,
còn bọn nam nhi họ, thời phần nhiều không như các cụ nho ngày trước cho là một
cách chơi phong nhã nữa, họ cũng chỉ chơi cho hoa tàn, chơi cho liễu chán hoa chê,
thế rồi là thôi”; Liễu Oanh và vợ lúc đầu tình tứ yêu thương bao nhiêu thì càng về sau
càng gây cho nhau đau khổ bấy nhiêu, “cậu xem mợ như vàng, mợ xem cậu như ngọc”
được thay bằng thái độ hờ hững lạnh lùng với nhau, thậm chí là nhục mạ mạt sát nhau,
không còn cậu với mợ nữa mà là mày với tao: “Đồ chó mầy tưởng mầy làm ra tiền mà
khinh được ông sao?”, Bạch Thủy dịu dàng đoan trang nết hạnh mà nay phát ngôn
cũng trở nên cục cằng thô thiển để trả đũa lại chồng mình “Đừng có thì mày làm gì?
Tao đây bây giờ không có vợ chồng gì với mày nữa, bảo cho mày biết…”.
Hiện thực về sự gả bán một con người, vợ cả phải cưới thêm vợ lẽ, nàng hầu
cho chồng trong Cuộc tang thương cũng chua chát làm sao. Theo sách “Nếp cũ con
người Việt Nam” của Toan Ánh, NXB TP HCM thì nàng hầu là “hình thức của chế độ
nô lệ thời xưa còn lại, theo phong tục của người Trung Hoa truyền sang”, nàng hầu
thường là con nhà nghèo do thiếu nợ hay quá túng bấn mà phải bán thân làm nô tì cho
nhà giàu nhưng khác nô tì ở chỗ không chỉ lao động cho gia chủ mà còn phải phục
tùng khi ông chủ cần đến, nghĩa là còn thấp bé hơn cả vợ lẽ. Các bà vợ khi xưa đi mua
hầu cho chồng cốt ý để có một người làm không công cho mình vô thời hạn, và khi
mua nàng hầu cũng không cần phải nộp cheo hay một lễ nghi gì nên đỡ tốn kém hơn
nhiều so với cưới vợ lẽ. Xét thấy việc mua nàng hầu là một việc vô nhân đạo, chà đạp
lên quyền sống và tự do của người phụ nữ. Trong Cuộc tang thương ông Hàn đã có vợ
đảm con ngoan, gia đình đề huề, ấm no hạnh phúc nhưng vẫn mang tính trăng hoa, háo
sắc, cái sự “bôn ba trên đường hành lạc” vẫn đeo đẳng trong tâm trí ông khiến ông
cứ nhớ lúc chung chạ với các cô đầu nổi tiếng, cái ham muốn không thể nguôi ngoai
nên đèo bòng thêm vợ lẽ nàng hầu làm vợ buồn con khổ. Ông Hàn lợi dụng những hủ
truy phong, hất hủi thị một cách tàn nhẫn, cảnh ba quan “sang trọng” trốn vợ đến nhà
hát ấp ôm các cô đầu thật chẳng ra thể thống gì… Bấy nhiêu đó để ta thấy rõ những
con người va vào cuộc ăn chơi đã trở nên tha hóa, đạo đức xuống dốc trầm trọng.
Ngòi bút nhà văn đã đi sâu vào ngóc ngách của từng vấn đề thế sự, ông bẽ
bàng, chua chát khi nhận ra cuộc đời bạc bẽo, nhân tình thế thái trắng đen lẫn lộn, thật
giả khó lường. Có lẽ cũng vì lòng vị kỷ cá nhân và cái sự hiểu lầm những văn hóa
phương Tây mang lại mà sinh ra những khúc mắc khó giải quyết trong đời sống con
người lúc bấy giờ. Đặng Trần Phất mất quá sớm nhưng những trang viết của ông
“cũng tạm đủ để giới thiệu một cuộc đời, một con người, một quan điểm nhân văn,
tấm lòng chí hiếu luôn nghiêng xuống những số phận tận cùng của xã hội, phản đối
những cái phi đạo lý, những thói đời bạc ác bất nhân. Các nhân vật trong “Cành hoa
điểm tuyết” và “Cuộc tang thương” hiểu là hư cấu cũng được nhưng cứ y như là bằng
xương bằng thịt có thật đang hiển hiện đâu đó quanh ta Hôm Xưa và Ngày Nay trong
mỗi gia đình, mỗi thời đại.” [13; tr.571]
Nàng Bạch Thủy chỉ vì một phút nông nổi và chút vật chất tầm thường đã mắc
mưu Bạc Sở, không giữ được sự chính chuyên, bỏ chồng con chạy theo tình ái mới để
phải mang tiếng đời dị nghị, gánh chịu những khổ đau về sau. Đáng trách nhất khi
Bạch Thủy đã bỏ con mình ở lại cho Liễu Oanh mà vẫn vui vẻ bên Bạc Sở sống những
tháng ngày sung sướng không hề lo nghĩ nhớ mong. Còn Trương Văn Nhượng hám
của mà bán con; Thị Hạnh thì hư hỏng mất nết dan díu cùng một người lính chào mào
có chửa hoang là đã vi phạm một cách nghiêm trọng đạo đức truyền thống, vi phạm
thuần phong mỹ tục và đáng xấu hổ lắm rồi, giờ lại vì ham giàu sang, thích xa hoa,
thích xài tiền không cần lao động, chịu về làm nàng hầu cho ông Hàn già nua đã có vợ
23
con đùm đề: “trông thấy ông râu dài má hóp, hình dáng thấp nhỏ, bụng đã chán,
nhưng lại thấy cha mình một hai bẩm quan lớn, thì chợt nghĩ ngay đến của cải giàu
có; ả bèn ăn miếng giầu cau tươi rồi ngồi trong buồng chờ cha gọi thì ra”. Dân gian
có câu “Tiền tài như phấn thổ còn nhân nghĩa tợ thiên kim”, thế mà nhân nghĩa lúc
hại, không phân biệt tốt xấu, phải trái, chỉ để mình buông thả theo những trò vui vô bổ,
tự làm hại bản thân mà cứ tưởng mình sống kiểu ấy là “ăn theo thuở ở theo thời”, là
phù hợp với xu thế thời đại lắm. Bởi người đời này thường có cái suy nghĩ sai lầm
rằng “Đạo đức mà chi, chẳng chơi thì cũng thiệt một đời, nếu cứ bo bo giảng minh
đạo đức, thực hành những lý tưởng luân thường lễ nghĩa thì có bao giờ được hưởng
cái lạc thú sắc đẹp này”, “Ôi còn sướng gì cho bằng ăn mặc xa hoa, lên xe xuống
24
ngựa, kẻ hầu người hạ đông đúc, ngồi trong lầu son gác tía”…, nên thật đáng ngao
ngán, giá trị đạo đức rõ ràng đang đi vào bế tắc như thể không còn cách cứu vãn được
nữa vậy.
Bên cạnh những vấn đề về sự xuống dốc của con người thời này, sáng tác của
Đặng Trần Phất còn phản ánh một vấn đề thuộc về thế sự nữa, đó là sự mâu thuẫn giữa
lối sống tư tưởng cũ, truyền thống với lối sống tư tưởng mới, lối sống phương tây.
Quan niệm tư tưởng thời phong kiến đi theo một lề lối hết sức nghiêm khắc để
áp chế, bắt buộc con người phải thuần phục và tuân thủ nó mà không được có sự phản
kháng hay chống đối. Ban đầu nó là những bài học từ những câu chuyện xưa, từ sự ghi
nhận và sáng lập ra các đạo để con người học tập, lấy đó làm chuẩn mực đạo đức để
con người có cuộc sống tốt hơn nhờ sự tu dưỡng đạo đức và rèn luyện, làm theo các
sách vở học được, gây lẽ phải trên đời, giúp ích nhân loại, phủ nhận cái xấu. Tuy nhiên
về sau các chế độ phong kiến muốn dễ bề thống trị nhân dân, bình ổn thiên hạ nên mới
lấy các thuyết từ Nho giáo của Khổng Tử làm cơ sở để răn đe con người, an dân, trị
nước bình thiên hạ. Dần về sau có nhiều luật lệ được xem là chuẩn mực trong các
thuyết ấy đã lạc hậu, không còn phù hợp với xã hội đang ngày một thay đổi, ngày một
phát triển. Rồi thêm nữa, có một số người vì tự tư tự lợi, muốn trục lợi cho bản thân
hay muốn thỏa mãn bản thân điều gì thì cứ kiếm cách dựa vào một số quan niệm trong
lễ giáo phong kiến đó mà tự bênh vực mình, làm cái lý để bắt người khác phải theo ý
mình. Ông Hàn trong Cuộc tang thương đã lợi dụng quan niệm ngày xưa đàn ông có
quyền năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên có một chồng để ép bà Hàn đi mua hầu về