Xử lý nước mặt làm nước cấp sinh hoạt - Pdf 33

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đại học quốc gia Hà Nội
Trường Đại học khoa học tự nhiên
Khoa Môi trường
---------------
Tiểu luận
Xử lý nước mặt
Xử lý nước mặt
làm nước cấp sinh hoạt
làm nước cấp sinh hoạt
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Trịnh Thị Thanh
Sinh viên thực hiện : Nhóm 3
Nguyễn Thị Lý
Nguyễn Quang Nam
Đinh Thị Nga
Phan Thị Quỳnh Nga
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Phạm Thị Nhung
Lê Thị Phương
Lớp: K49 Công nghệ Môi trường

Hà Nội -2007
Tổng quan
I. Nhu c u s d ng n c Vi t Namầ ử ụ ướ ở ệ
Nước là nhu cầu thiết yếu cho mọi sinh vật, đóng vai trò đặc biệt trong việc
điều hoà khí hậu và cho sự sống trên trái đất. Hàng ngày cơ thể con người cần 3
-10l nuớc cho các hoạt động sống, luợng nước này đi vào cơ thể qua con đường
thức ăn, nước uống để thực hiện các quá trình trao đổi chất và trao đổi năng lượng,
sau đó thải ra ngoài theo con đường bài tiết. Ngoài ra con người còn sử dụng nuớc
cho các hoạt động khác như tắm, rửa,…
Nước ta hiện nay nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng do sự phát triển dân

3
/người.năm, bằng 28% so với
mức trung bình của cả nước.
Bên cạnh đó, tài nguyên nước của Việt Nam cũng phân bố không đều theo
thời gian trong năm và giữa các năm. Lượng nước trung bình trong 4 đến 5 tháng
mùa mưa chiếm khoảng 75 – 85% trong khi những tháng mùa khô (kéo dài đến 7 –
8 tháng) lại chỉ có khoảng 15 – 25% lượng nuớc của cả năm.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không
đi đôi với việc làm tốt công tác bảo vệ môi trường đã gây ra những ảnh hưởng tiêu
cực tới tài nguyên nước ở nứơc ta. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt ngày càng
tăng về múc độ và quy mô, một số khu vực đồng bằng đã có biểu hiện ô nhiễm do
các chất hữu cơ khó phân huỷ và hàm lượng vi khuẩn cao. Các biểu hiện suy thoái,
cạn kiệt nguồn nước đang trở lên rõ rệt và phổ biến ở nuớc ta.
Với những đặc điểm về tính không bền vững của tài nguyên nước của nuớc
ta, công tác quản lý nhà nước với tài nguyên quý báu này cần phải đựơc tăng cường
ở tất cả các cấp ngay từ bây giờ trước khi quá muộn.
II. ánh giá ngu n n c m t c a Vi t NamĐ ồ ướ ặ ủ ệ
Nước ta có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, trong đó phải kể tới các sông
lớn, trong đó có hệ thống sông Mê Kông, tiếp theo là hệ thống sông Hồng, Đồng
Nai, sông Mã, sông Cả, sông Hương, sông Thái Bình, sông Thu Bồn, …, với diện
tích lưu vực mỗi sông trên 10.00 km
2
, lưu lượng các sông chính vào khoảng 880
Km
3
/năm.
Lượng mưa trung bình hàng năm 1960 mm, tạo ra nước tái tạo được khoảng
324 Km
3
/năm.

4
- Hàm lượng các ion chính: Chủ yếu là các ion Ca
2+
, Mg
2+
, K
+
, SO
4
2-
, CL
-
,
HCO
3
-
, ...
b. Nước hồ:
Nước ta có nhiều hồ tự nhiên như hồ Ba Bể, hồ Núi Cốc, và một số hồ nhân
tạo để phục vụ việc tưới tiêu cho nông nghiệp. Đặc biệt một số hồ có dung tich trữ
nước lớn của các công trình thuỷ điên Thác Bà, Hoà Bình, ...
Nhìn chung các hồ tự nhiên có trữ lượng nhỏ, chỉ một vài hồ lớn có khẳ năng
cung cấp nước cho các đối tượng vừa và nhỏ. Các hồ thuỷ điện có khẳ năng cung
cấp cho các đối tượng lớn.
Nước hồ có hàm lưọng cặn nhỏ hơn nước sông vì đã đựoc lắng tự nhiên và
khá ổn đinh. Tuy nhiên hàm lượng cặn cũng dao động theo mùa, mùa mưa có hàm
lượng cặn lớn, mùa khô hàm lượng cặn nhỏ, có hồ độ trong gần đảm bảo tiêu chuẩn
độ trong của nước sinh hoạt và ăn uống. Sự dao động về chất lượng nước thường
xảy ra ở các vùng ven bờ và phụ thuộc vào địa hình của vùng ven bờ. Vùng xa bờ
và giữa hồ có chất lượng nước ổn định hơn.

- Phá vỡ thế ổn địnhhệ keo
- Tạo bông nhỏ
- Kết dính các bông cặn
nhỏ thành bông cặn lớn
- Lắng tách bôngcặn
- Lọc các bông cặn còn
lại
- Tiêu diệt loại bỏ vi sinh
vật
MỤC ĐÍCH
6
Ti n x lýề ử
Xử lí sơ bộ nước bề mặt rất quan trọng. Trước khi dẫn nước vào dây chuyền
xử lí, người ta lưu nước một thời gian dài với mục đích:
- Tạo qúa trình lắng tự do của các hạt bụi và các kim loại nặng có nồng độ
cao trong nước thô không tách được bằng quá trình keo tụ như côban, niken,
xyanua (CN
-
), chì,cađimi và các kim loại độc hại khác cũng lắng xuống đáy.
- Xúc tiến làm sạch tự nhiên để tách được phần lớn các chất hữu cơ nhỏ và
các tạp chất vô cơ.
- Cps thể dùng các biện pháp trao đổi khí nhân tạo để tăng hàm lượng oxy
hòa tan trong nước.
-Xử lý sơ bộ với dịch vôi để duy trì độ cứng của nước từ 8.5-9.0
0
D.
Tóm lại, nhờ các quá trình hóa, lý, sinh học tự nhiên xảy ra trong hồ nên chất
lượng nước trong hồ tốt hơn nguồn nước đã đưa vào hồ. Nhờ bổ sung quá trình
nhân tạo nên nồng độ tảo thấp, độ cứng và nồng độ kim loại độc hại giảm đi, kết
quả là giảm đi rất nhiều chi phí cho giai đoạn tiếp theo.

vật cũng như các chất thải có chứa NH
4
+
, NO
3
-
, PO
4
3-
vào nguồn nước...Hoặc có thể
áp dụng các phương pháp tách chất dinh dưỡng ra nguồn thải như sau:
-Xử lý sinh hóa kết hợp với khử NO
3
-
trong điều kiện yếm khí.
Clo hóa nâng pH hoặc là làm thoáng khí
- Tách photphat ra khỏi nước bằng cách kết tủa với Fe
3+
, Al
3+
hoặcCa(OH)
2
.
c. Giảm cường độ ánh sáng tới hồ chứa
cường độ ánh sáng xuyên qua nưốc theo phương trình
I = I
o
. E
-zd
Trong đó:

bền và có xu thế co cụm để giảm năng lượng bề mặt. Mặt khác do hạt keo có cấu
tạo đặc biệt của lớp điện kép tạo nên lực đẩy tĩnh điện hạt-hạt nên chúng khó tiếp
cận gần nhau, hút nhau và co cụm thành hạt lớn hơn đủ nặng để có thể lắng được
nên hệ này có tính bền.
Cấu tạo đặc biệt của hạt keo có thể được làm rõ trên cơ sở ví dụ keo Fe(III):
Khi hoà tan FeCl
3
trong nước sẽ xảy ra phản ứng thủy phân:
9
FeCl
3
+ 3H
2
O → Fe(OH)
3
+ 3HCl (1)
Kết tủa Fe(OH)
3
co cụm dưới dạng tập hợp hạt [mFe(OH)
3
] rất nhỏ, được gọi
là hạt nhân, nó có khả năng hấp phụ những ion giống các thành phần tạo ra nó, ví
dụ hấp phụ các ion Fe
3+
, tạo thành lớp ion Fe
3+
trên bề mặt hạt được gọi là lớp hấp
phụ hay là lớp ion quyết định dấu:
[mFe(OH)
3

]nFe
3n+
+ 3(n-x)

Cl


→ {[mFe(OH)
3
]nFe
3n+
3(n-x)Cl

}
3x+
(3)
Phần còn lại 3x hạt Cl

“trôi nổi” trong dung dịch ở khoảng không gian gần
hạt, tạo nên lớp khuyết tán. Như vậy, nếu viết dưới dạng công thức hoá học hạt keo
có cấu tạo tổng thể như sau:
{[mFe(OH)
3
]nFe
3n+
3(n-x)Cl

}
3x+
3xCl

; tiếp theo là lớp ion trái dấu tích điện
ngược lại (âm hoặc dương). Hai lớp điện tích này tạo nên một cấu trúc tương tự
như hai bản cực song song của một tụ điện, trong đó một bản cực tích điện dương
11
X
A
A
A
Lớp ion trái dấu
Lớp ion quyết định dấu
hay lớp hấp phụ
Thế nhiệt động,
Thế dzeta,
Lớp điện kép
Hạt nhân
ϕ
(hoặc âm) gắn chặt với hạt nhân là lớp ion quyết định dấu, còn bản cực kia tích
điện trái dấu và tạo nên lớp điện kép. Đây là cấu tạo thông thường của tụ điện
phẳng.
Kĩ thuật xử lí nước cấp từ nước tự nhiên, và kể cả một số công đoạn trong
dây chuyền xử lí nước thải thông thường là kĩ thuật lắng – lọc. Để hình dung tốc độ
lắng của những hạt không tích điện dưới tác dụng của trọng trường và đánh giá khả
năng sử dụng bể lắng để xử lí làm trong nước xem bảng 2.1.
Ta thấy các kỹ thuật lắng - lọc thông thường trong ngành nước chỉ có hiệu
quả nhất định đối với hạt có kích thước cỡ µm, trong trường hợp lọc tốt nhất là lớn
hơn 0,1 µm. Đối với những hạt cỡ 0,1 µm trở xuống rất khó lắng và không thể lọc
được bằng lọc cát thông thường. Để có thể lọc chúng bằng lọc cát thông thường
phải biến chúng thành những hạt lớn hơn. Phương pháp phổ biến để thực hiện việc
này là phương pháp keo tụ nghĩa là xử lí nước bằng những chất keo tụ trước khi
lắng - lọc.

20 năm
Hạt keo 0,000001 6.10
9
200 năm
Ghi chú: Tính theo phương trình Stoke
II.2. C ch keo t - t o bôngơ ế ụ ạ
Đối với hệ phân tán có diện tích bề mặt riêng lớn (bụi trong không khí, bùn,
phù sa trong nước...) các hạt luôn có xu hướng co cụm lại tạo hạt lớn hơn để giảm
năng lượng bề mặt (tương tự hiện tượng giọt nước, giọt thủy ngân luôn tự vo tròn
để giảm diện tích bề mặt).
12
Hiện tượng các hạt keo cùng loại có thể hút nhau tạo thành những tập hợp
hạt có kích thước và khối lượng đủ lớn để có thể lắng xuống do trọng lực trong thời
gian đủ ngắn được gọi là hiện tượng keo tụ. Hiện tượng này xảy ra khi thế ξ được
triệt tiêu. Hiện tượng keo tụ có tính thuận nghịch nghĩa là hạt keo đã keo tụ lại có
thể tích điện trở lại và trở nên bền (xem phần tiếp theo). Các hoá chất gây keo tụ
thường là các loại muối vô cơ và được gọi là chất keo tụ.
Một cách khác làm các hạt keo co cụm thành bông cặn lớn dễ lắng là dùng
các tác nhân thích hợp “khâu” chúng lại thành các hạt lớn hơn đủ lớn, nặng để lắng.
Hiện tượng này được gọi là hiện tượng tạo bông được thực hiện nhờ những phân tử
các chất cao phân tử tan trong nước và có ái lực tốt với các hạt keo hoặc các hạt cặn
nhỏ. Khác với keo tụ có tính thuận nghịch, các chất có khả năng tạo bông được gọi
là các chất tạo bông hay trợ keo tụ, quá trình tạo bông là bất thuận nghịch.
Như vậy, để kết tủa hệ keo có thể sử dụng các cách sau đây:
1. Phá tính bền của hệ keo (do lực đẩy tĩnh điện) bằng cách thu hẹp lớp điện
kép tới mức thế ξ = 0, khi đó lực đẩy tĩnh điện hạt – hạt bằng không, tạo điều kiện
cho các hạt keo hút nhau bằng các lực bề mặt tạo hạt lớn hơn dễ kết tủa. Cách này
có thể thực hiện khi cho hạt keo hấp phụ đủ điện tích trái dấu để trung hoà điện tích
hạt keo. Điện tích trái dấu này thường là các ion kim loại đa hoá trị.
2. Tạo điều kiện cho các hạt keo va chạm với các bông kết tủa của chính chất

÷
18)
Đây là chất keo tụ phổ biến nhất, đặc biệt là ở Việt Nam. Khi dùng phèn
nhôm làm chất keo tụ sẽ xảy ra phản ứng thuỷ phân:
Al
2
(SO
4
)
3
+ 6H
2
O → 2Al(OH)
3
↓ + 6H
+
+ 3SO
4
2

(5)
Hình 2 4- ảnh hưởng của pH và liều lượng đến khả năng gây keo tụ của
phèn nhôm
Nếu trong nước thiếu độ kiềm (ĐK), pH sẽ giảm; nếu đủ ĐK sẽ có phản ứng:
Liều lượng
(mg/L)
15
5
10
15

4
+ 6CO
2
(6)
Theo phương trình (6) cứ 342 mg Al
2
(SO
4
)
3
khan, hàm lượng 100% cần 6
mdl ĐK (HCO
3

). Nếu ĐK trong nước không đủ thì cần bổ sung vôi hoặc sôđa để
bù, nếu không pH sẽ hạ. Lượng kiềm cần (K) tính theo công thức:
K = F
324
6
– ĐK + 1 = 0,0175F – ĐK + 1 (7)
Trong đó:
K = lượng kiềm cần thêm, mđl/L ;
F = lượng phèn, mg/L;
ĐK = độ kiềm của nước, mđl/L.
Để chuyển đổi ra đơn vị g/L, đối với vôi K sau khi tính theo pt. (7) cần nhân
với 37; đối với sôđa nhân với 58.
Khi sử dụng phèn nhôm hay bất kì chất keo tụ nào khác cần lưu ý nồng độ và
vùng pH tối ưu (hình 4), pH hiệu quả tốt nhất với muối nhôm là khoảng 5,5 ÷ 7,0.
Có thể dùng phèn kép KAl(SO
4

2
O
3
là khoảng 14% (đối với hoá chất tinh
khiết là 15,1%). Do độ ngậm nước rất thay đổi nên cần định lượng hàm lượng
nhôm khi sử dụng.
II.3.2 Muối sắt Fe
2
(SO
4
)
3
.H
2
O hoặc FeCl
3
.nH
2
O (n = 1
÷
6)
Muối sắt chưa phổ biến ở Việt Nam nhưng rất phổ biến ở các nước công
nghiệp. Hoá học của muối sắt tương tự như muối nhôm nghĩa là khi thuỷ phân sẽ
tạo axit, vì vậy cần đủ độ kiềm để giữ pH không đổi.
Fe
2
(SO
4
)
3

2
(OH)
2
4+
,
Al
3
(OH)
4
5+
và Al
13
O
4
(OH)
24
7+
và Al(OH)
3
rắn. Trong đó Al
13
O
4
(OH)
24
7+
gọi tắt là
Al
13
là tác nhân gây keo tụ chính và tốt nhất.

x
O
y
(OH)
x+r
(2x-2y-r)+
Trong công nghệ xử lí nước thông thường, nhất là nước tự nhiên với pH
xung quanh 7 quá trình thuỷ phân như đã nêu xảy ra rất nhanh, tính bằng micro
giây, khi đó hạt Al
3+
nhanh chóng chuyển thành các hạt polime rồi hyđroxit nhôm
trong thời gian nhỏ hơn giây mà không kịp thực hiện chức năng của chất keo tụ là
trung hoà điện tích trái dấu của các hạt cặn lơ lửng cần xử lí để làm chúng keo tụ.
17
Khi sử dụng PAC quá trình hoà tan sẽ tạo các hạt polime Al
13
, với điện tích
vượt trội (7+), các hạt polime này trung hoà điện tích hạt keo và gây keo tụ rất
mạnh, ngoài ra tốc độ thuỷ phân của chúng cũng chậm hơn Al
3+
rất nhiều, điều này
tăng thời gian tồn tại của chúng trong nước nghĩa là tăng khả năng tác dụng của
chúng lên các hạt keo cần xử lí, giảm thiểu chi phí hoá chất. Ngoài ra, vùng pH
hoạt động của PAC cũng lớn gấp hơn 2 lần so với phèn, điều này làm cho việc keo
tụ bằng PAC dễ áp dụng hơn. Hơn nữa, do kích thước hạt polime lớn hơn nhiều so
với Al
3+
(cỡ 2 nm so với nhỏ hơn 0,1 nm) nên bông cặn hình thành cũng to và chắc
hơn, thuận lợi cho quá trình lắng tiếp theo.
II.3.4 Chất trợ keo tụ - tạo bông

thành cũng nặng hơn. Cũng như AS, bột sét ở liều lượng thích hợp dùng tốt khi
phối hợp với phèn nhôm và muối sắt.
4. Các chất tạo bông hữu cơ - cao phân tử
Đây là nhóm chất có tác dụng tạo bông tốt nhất. Các polyme dùng làm chất
tạo bông cho quá trình xử lý nước phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Tan tốt trong nước;
- Không độc;
- Có khả năng tạo bông tốt nhờ ái lực cao đối với hạt keo và bông cặn nhỏ
trong nước xử lí.
Tùy vào bản chất nhóm chức mà người ta phân ra làm 3 loại:
- Loại không phân ly (nhóm chức amid −CONH
2
).
- Loại tạo anion (nhóm chức axit −COO

)
- Loại tạo cation (nhóm chức amin bậc cao ≡N
+
Cl
-
)
Tạo bông hữu cơ bao gồm các hợp chất tự nhiên và các hợp chất tổng hợp.
Các hợp chất tự nhiên chủ yếu có cấu trúc đuờng, bao gồm:
- gôm thực vật
- pectin
- xantan (sản phẩm lên men yếm khí đường mía) ...
Các hợp chất tổng hợp:
Thường chúng là các hợp chất cao phân tử, có phân tử khối ở mức 10
4
-10

OH
n
- poly(dialyl-dimetyl amôni clorua):
CH
CH
2
CH
CH
2
CH
2
CH
2
N
CH
3
CH
3
Cl
n
- Nhóm phổ biến nhất hiện nay là các polyacrylamit (PAA) tan trong nước,
hiện nhập ngoại. Liều dùng trong xử lí nước cấp của chúng là 5÷15 phần triệu. Tốt
nhất là dùng PAA kết hợp với phèn. Khi dùng PAA, dung dịch PAA thường được
đưa vào sau khi khuấy trộn phèn khoảng 1 ÷ 2 phút. Điểm khác cơ bản của quá
trình tạo bông là tốc độ tạo bông lớn (trong vòng 2 phút so với phèn cần 20 phút)
và kích thước bông cặn cũng như độ bền bông cặn hơn hẳn bông cặn phèn.
PAA còn được sử dụng phổ biến trong xử lí nước thải, xử lí bùn và nhiều
ngành công nghiệp với liều dùng lên tới 5-50 g/m
3
.

2
NH
2
C=O
CH
CCH
2
C=O
O
CH
2
2
N
CH
3
CH
3
R
m
Cl
Hình 2.5- Công thức cấu tạo của các loại PAA xử lý nước
II.4 Các y u t nh h ng n quá trình keo tế ố ả ưở đế ụ
Ngoài yếu tố bản chất của chất keo tụ (nhất là giá trị và dấu điện tích) và tạp
chất có trong nước các yếu tố sau là quan trọng nhất.
II.4.1 Y u t pHế ố
Mỗi chất keo tụ, dù là muối nhôm hay sắt, đều có khoảng pH tối ưu cho sự
hình thành kết tủa hyđroxit tương ứng. Thấp hơn giá trị này các bông Me(OH)
3
tạo
thành sẽ bị hoà tan bởi axit. Cao hơn giá trị này sẽ tạo thành các muối bazơ khó kết

Muối nhôm thường sử dụng ở mức trên 10 mg/L, PAC sử dụng ở mức bằng
1/2÷1/4 muối nhôm, PAA sử dụng ở mức 0,2÷0,5 ppm.
- Giảm hàm lượng SS trước khi vào xử lí sinh học (xử lí nước thải)
- Tăng cường khả năng lắng của bể lắng cấp 2 trong xử lí nước thải
- Lọc trực tiếp nếu SS không quá cao
22
Trong một số trường hợp các chất keo tụ ở liều cao có thể áp dụng để xử lí
màu trong nước thải công nghiệp, ví dụ nước thải dệt nhộm, nước thải giấy.
Quá trình keo tụ được thực hiện bằng cách trộn nước với chất keo tụ trong
các thiết bị khuấy trộn nhanh, sau đó nước được đưa vào bể tạo bông với sự khuấy
trộn nhẹ nhàng nhằm tăng cường tiếp xúc hạt - hạt làm cho bông phát triển kích
thước, tránh vỡ bông. Tiếp theo nước vào bể lắng thực hiện quá trình tách rắn/lỏng.
Sự keo tụ - tạo bông được coi là hiệu quả nếu bông cặn tạo ra dễ dàng nhìn
thấy bằng mắt thường (kích thước gần 1 mm trở lên), khi đó nước sẽ lắng trong
nhanh trong ống quan sát trong vòng 10 - 15 phút để yên.
Ngoài những ứng dụng trong xử lí nước chất keo tụ tạo bông còn áp dụng
nhiều trong việc xử lí bùn nhằm tăng khả năng tách nước khỏi bùn, áp dụng trong
công nghiệp giấy nhằm điều chỉnh đặc trưng lưu biến của hỗn hợp bột...
15.7.1 Khuấy trộn
Khuấy trộn là quá trình mà hầu hết các hệ phản ứng đều cần thực hiện. Mục
đích chính của nó là tạo tiếp xúc tối đa giữa các phân tử, ion, các thành phần phản
ứng, giảm thiểu cản trở gây ra do khuếch tán chậm.
Đối với hệ lỏng hoặc rắn(ít)/lỏng(nhiều) ta dùng thuật ngữ khuấy (hoặc cả
khuấy trộn), đối với hệ rắn/rắn hoặc rắn(nhiều)/lỏng(ít) ta thường dùng thuật ngữ
trộn.
Ngoài việc tạo điều kiện cho phản ứng xảy ra nhanh hơn, giảm thiểu tác
động của yếu tố khuếch tán, khuấy trộn còn có các tác dụng quan trọng khác như:
- Làm đều hỗn hợp (trong công nghệ vật liệu bột)
- Làm vỡ các hạt, giọt lớn (trong công nghệ hoá học).
- Tăng cường tốc độ truyền nhiệt, giảm nhẹ hiện tượng tăng giảm nhiệt độ

=
Trong đó: G = građien vận tốc, s
-1
P = Công suất tuyền vào chất lỏng, w
V = Thể tích cần khuấy, m
3
µ = Độ nhớt động học chất lỏng, Pa.s
Q = lưu lượng, m
3
/s
V = thể tích cần khuấy, m
3
t
0
= thời gian lưu nước, s
Tuỳ mỗi nhiệm vụ cụ thể ta chọn giá trị G thích hợp. Hiệu quả khuấy (tổng
số va chạm hạt – hạt) đo bằng Gt
o
, trong đó t
o
là thời gian lưu nước trong vùng
khuấy.
Bảng 2.3, 2.4 cho ta các dữ liệu kinh nghiệm để tính các đại lượng G, Gt
o
ứng với mỗi quá trình.
Bảng 2.3 – Các giá trị G để tính khuấy nhanh
24
Các giá trị thời gian lưu t
o
(s)

ion Al
3+
hình thành chưa kịp tiếp xúc hạt keo để thực hiện chức năng trung hoà điện
tích, gây keo tụ, nó đã thuỷ phân tạo Al(OH)
3
, khi đó nó chỉ có thể tác động như
một chất tạo bông.
Phân loại các phương pháp khuấy nhanh:
- Khuấy cơ khí bằng máy khuấy (tốt nhất)
- Khuấy bằng khí nén.
- Khuấy bằng cách bơm chất lỏng tuần hoàn
- Khuấy tĩnh: tận dụng các cơ cấu dòng chẩy, ví dụ: khuấy trong ống trộn;
khuấy kiểu rãnh thu – dãn (rãnh Parshall); ”thác” nước; vách đục lỗ, vách đảo chiều
...
Bồn khuấy trộn cơ học
25
Nước vào
Nước ra
Động cơ

Trích đoạn Nhà máy nước Cẩm Thượng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status