ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------
TRẦN THÙY LINH
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH
CỦA CÔNG NHÂN NHÀ MÁY DỆT NAM ĐỊNH
TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------
TRẦN THÙY LINH
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH
CỦA CÔNG NHÂN NHÀ MÁY DỆT NAM ĐỊNH
TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
1.3.3. Đấu tranh đòi lập ái hữu, nghiệp đoàn .................................................. 60
1.4. Phong trào công nhân Nhà máy những năm 1939 - 1945 ......................... 66
1.4.1. Phong trào công nhân trong điều kiện bị địch khủng bố
(1939 - 1943).................................................................................................. 66
1
1.4.2. Công nhân Nhà máy đấu tranh, tiến tới giành chính quyền
(1943 - 1945).................................................................................................. 73
Chương 2: PHONG TRÀO CÔNG NHÂN NHÀ MÁY DỆT NAM
ĐỊNH TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1954) ................................................................ 76
2.1. Phong trào công nhân Nhà máy giai đoạn từ sau Cách mạng tháng
Tám đến khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ (1945 - 1946) ........................... 76
2.1.1. Những thuận lợi và khó khăn trong tình hình mới ................................ 76
2.1.2. Phong trào công nhân giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám đến
khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ ................................................................ 80
2.2. Phong trào công nhân Nhà máy từ khi kháng chiến toàn quốc bùng
nổ đến năm 1954 ...........................................................................................97
2.2.1. Tình hình đội ngũ công nhân Nhà máy ................................................97
2.2.2. Phong trào công nhân Nhà máy trong điều kiện bị địch tạm chiếm
(1947 - 1954).................................................................................................100
Chương 3: NHẬN XÉT VỀ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN NHÀ
MÁY DỆT NAM ĐỊNH TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954 .......................116
3.1. Phong trào công nhân Nhà máy xuất hiện sớm, góp phần thúc đẩy sự
ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết
định sự phát triển của phong trào công nhân Nhà máy ..................................116
3.2. Phong trào công nhân luôn đi đầu trong cao trào cách mạng của địa
phương với mục đích, quy mô, hình thức, phương pháp đấu tranh phong
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay là bằng chứng
sinh động khẳng định chân lí: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản là nhân
tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong lịch sử lãnh
đạo đấu tranh cách mạng của Đảng ta, từ những năm vận động thành lập Đảng,
lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và
công cuộc đổi mới là những thời kỳ thể hiện đậm nét sự trưởng thành của Đảng
ta về tư duy cách mạng, năng lực lãnh đạo, tổ chức. Quá trình này đã để lại
những bài học, kinh nghiệm phong phú, có giá trị to lớn. Đảng khẳng định được
vị thế lãnh đạo cao nhất và duy nhất trên đất nước Việt Nam và trở thành đảng
của dân tộc.
Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân trở thành đi
đầu, là lực lượng trung tâm, tập hợp và đoàn kết các giai cấp, tầng lớp khác tạo
nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh để xây dựng đất nước và chiến
thắng mọi kẻ thù. Phong trào công nhân những năm đầu thế kỷ XX là một thực
tế hùng hồn khẳng định chân lý: sự ra đời chính Đảng Cộng sản ở nước thuộc
địa là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê nin và phong trào công nhân, phong
trào yêu nước. Sau khi có Đảng, công nhân Việt Nam cùng với các tầng lớp
nhân dân không ngừng đấu tranh giành độc lập, chủ quyền, thống nhất lãnh thổ
và các quyền lợi khác.
Tỉnh Nam Định có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời với vị rí địa
chính trị, địa kinh tế quan trọng của đồng bằng sông Hồng. Đây là vùng đất tập
trung nhiều tiềm năng tự nhiên, xã hội thuận lợi là tiền đề vật chất cho quá trình
phát triển kinh tế. Chính vì vậy, thực dân Pháp trong công cuộc khai thác thuộc
địa đã xây dựng ở Nam Định một cơ cấu các ngành công nghiệp nhẹ, công
4
Qua đó ta thấy rõ bản chất anh hùng cách mạng của công nhân Nhà máy nói
riêng, công nhân tỉnh Nam Định và giai cấp công nhân Việt Nam nói chung.
Hướng tới mục tiêu xây dựng thành phố Nam Định trở thành trung tâm
của vùng đông nam đồng bằng sông Hồng, việc nghiên cứu phong trào đấu tranh
của công nhân nhà máy Dệt Nam Định trong những năm 1930-1954 góp phần
làm sáng rõ và tôn vinh truyền thống anh hùng cách mạng của nhân dân Thành
phố, khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng, rút ra những
bài học, kinh nghiệm, đặc điểm của phong trào làm cơ sở cho quá trình xây
dựng và phát triện thành phố trong các giai đoạn tiếp sau. Chính vì những lí do
đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy
Dệt Nam Định từ năm 1930 đến năm 1954” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp
của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xuất phát từ vai trò và vị trí của giai cấp công nhân là lực lượng lao động
quan trọng trong sản xuất và là động lực chính của cách mạng Việt Nam, đã có
nhiều tác giả nghiên cứu về lịch sử phong trào công nhân, phòng trào công nhân
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi tìm hiểu vấn đề này, chúng
tôi đã nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử phong trào công nhân
nói chung, phong trào công nhân Nam Định và đặc biệt là phong trào công nhân
của nhà máy Dệt nói riêng.
Trong các tác phẩm nghiên cứu về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch
sử Đảng bộ Tỉnh có đề cập và phân tích phong trào công nhân dưới sự lãnh đạo
cuả Đảng, chủ trương, cách thức tổ chức, gây cơ sở và lãnh đạo phong trào đấu
tranh của đội ngũ công nhân như trong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định
(2001), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban
Nghiên cứu lịch sử Đảng ủy Hà Nam Ninh (1954), Sự kiện lịch sử Đảng Hà
6
Hồi ký của các đồng chí trực tiếp tham gia gây dựng, tổ chức, lãnh đạo
phong trào như Hồi ký của Nguyễn Cơ Thạch, Hồi ký của Trần Trí Đức,… cũng
có đề cập đến phong trào công nhân Nam Định, sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
đối với phong trào công nhân trong thời kỳ này.
Các tác phẩm trên phần nào phản ánh trình độ phát triển kinh tế công
nghiệp, chủ trương của Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc kỳ, Đảng bộ tỉnh đối với
phong trào công nhân, công tác dân vận và lịch sử phong trào công nhân thành
phố.
Luận văn “Phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy Dệt Nam Định
từ năm 1930 đến năm 1954” sẽ trình bày các chủ trương, biện pháp của Đảng
trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phong trào công nhân thành phố Nam Định nói
chung và phong trào công nhân nhà máy Dệt nói riêng để có một cái nhìn đầy đủ,
toàn diện hơn về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: phản ánh một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống, nhiều chiều
quá trình lãnh đạo của Đảng đối với phong trào công nhân qua thực tiễn nhà
máy Dệt Nam Định
Làm rõ lịch sử phát triển của đội ngũ công nhân, phong trào đấu tranh của
công nhân nhà máy từ năm 1930 đến năm 1954
Nhiệm vụ: sưu tầm, tập hợp các tài liệu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
đến phong trào đấu tranh của đội ngũ công nhân nhà máy Dệt từ năm 1930 đến
năm 1954, khai thác triệt để các thông tin lịch sử có trong các tài liệu này để
phục vụ đề tài nghiên cứu.
Trình bày rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với phong trào đấu
tranh của công nhân Nhà máy từ năm 1930 đến năm 1954
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
8
Về tư liệu: những nguồn tư liệu thu thập được trong quá trình tìm
hiểu phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy trong những năm từ năm
1930 đến 1954 góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống tư liệu về phong
trào công nhân Nam Định, về chủ trương của Đảng đối với phong trào công
nhân và công vận.
7. Bố cục
Luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Phong trào công nhân nhà máy Dệt Nam Định trong thời kỳ đấu
tranh giành chính quyền (1930 - 1945).
Chương 2: Phong trào công nhân nhà máy Dệt Nam Định trong thời kỳ kháng
chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
Chương 3: Nhận xét về phong trào công nhân nhà máy Dệt Nam Định từ năm
1930 đến năm 1954.
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan
tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là PGS.TS. Hoàng Hồng.
Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn Bảo tàng tỉnh Nam Định, Ban Quản lý Bảo
tàng ngành Dệt - May Việt Nam đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình tìm kiếm
tư liệu. Tuy nhiên, do trình độ nhận thức còn hạn chế, luận văn sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến
với tinh thần cầu thị để hoàn thiện thêm những nhận thức về đề tài trên. Chúng
tôi xin chân thành cảm ơn!
10
Chương 1:
PHONG TRÀO CÔNG NHÂN NHÀ MÁY DỆT NAM ĐỊNH THỜI KỲ
một chương trình xây dựng toàn bộ hệ thống đường sắt, trước hết là gấp rút xây
dựng các đoạn quan trọng như Hà Nội - Nam Định, Sài Gòn - Nha Trang. Năm
1903, đường sắt xuyên Đông Dương được khởi công và đến năm 1905, đoạn
đường sắt Hà Nội - Nam Định được hoàn thành. Giao lưu đường sông trên sông
Đào cũng trở nên tấp nập. Thực dân Pháp đặt một tuyến đường sắt dài 2.500 m
từ ga ra bến Đò Chè cho xe lửa vận chuyển hàng hóa. Cảng Nam Định trở thành
cảng sầm uất bậc nhất ở duyên hải Bắc Bộ, chiếm vị trí chiến lược quan trọng về
kinh tế, quốc phòng và là yết hầu của thành Hà Nội. Một số tuyến giao thông
quan trọng nối thành phố Nam Định với các địa phương khác như tuyến từ sông
Hồng ra biển qua cửa Ba Lạt, tuyến kênh Nam Định, kênh Đáy ra biển,… Hệ
thống đường bộ phát triển với các tuyến đường nội thị và các tuyến đường nối
liền thành phố Nam Định với các huyện trong tỉnh và với các tỉnh trong nước.
Cuối thế kỷ XIX, thành phố có 12 phố, đến đầu thế kỷ XX, người Pháp quy
hoạch lại còn 10 phố và 40 đường1. Bên cạnh tuyến đường nội thị là các tuyến
đường bộ nối Nam Định với các vùng kinh tế khác như đường số 1 thuộc địa,
đường 21, đường 10…
Nguồn nguyên liệu tại chỗ giá thấp, nhân công rẻ, khéo léo, kiên trì, và thị
trường tiêu thụ rộng lớn là tiền đề xã hội để hình thành và phát triển các ngành
công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến. Khu vườn Dâu, cồn Chuối xưa người
làng Phù Long trồng dâu chăn tằm, trồng chuối lấy quả. Khi thực dân Pháp
chiếm được thành Nam Định, chúng lợi dụng ngay và thuê người trồng dâu,
1
10 phố là Định Tả, Định Hữu, Định Tân, Định Tiền, Định Trung, Nam Long, Nam An, Nam Mỹ, Nam Xuyên,
40 đường là Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ, Hà Nội, Bắc Ninh, Ninh Bình, Tuyên Quang, Hưng Yên, Gia Định,
Lào Cai, Phủ Lý, Hòn Gai, Vị Xuyên, Khoái Đồng, Phụ Long, Năng Tĩnh, Phúc Châuu, Đại Pháp, Phố Khách,
Bến Gỗ, Đông An, Chassloup Laubat, Francis Garnier, Lamathe Piquet, Harmand, Champeaux, Richaud, Jules
Jerry, Herri Rivière, Paul Bert, Carreau Rue de France, Rue de Protectorat, Paris, Mirador, Ruyelle de la Foudre
1.013
1.056
1.233
15.584
17.702
18.792
22.612
Dân số cả nước
Nguồn: Tổng cục thống kê (2004), Số liệu thống kê Việt Nam thế kỷ XX, NXB Thống kê, Hà Nội.
Thành Nam từ xưa đã nổi tiếng là đất dệt. Các sản phẩm từ nghề dệt là
sản phẩm buôn bán, trao đổi giữa các phường nghề, phố thợ. Nhiều làng vành
đai làm nghề dệt như Quả Linh (Vụ Bản), Nhân Hậu (Hà Nam), Báo Đáp (Nam
Trực), Thịnh Hưng (Mỹ Lộc), Cổ chất, Dịch Diệp, Lạc Quần (Trực Ninh), Quần
Anh (Hải Hậu),… có quan hệ chặt chẽ với các phường nghề, phố nghề. Thành
phố Nam Định là nơi buôn bán các sản phẩm vải sợi, vải lụa nổi tiếng khắp cả
nước và “vải tơ Nam Định” đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng về chất
lượng. Phát triển nghề dệt, sợi trên một vùng đất có truyền thống dệt vải thủ
công lâu đời, thực dân Pháp tận dụng được những lợi thế như nguồn nhân lực
sẵn có am hiểu về nghề dệt, sợi, thị trường tiêu thụ sợi cho các làng nghề dệt vải.
14
Nam Định, “sự ra đời và phát triển của các thành phần kinh tế mới có tính
chất tư bản chủ nghĩa đã tác động mạnh tới cơ cấu kinh tế truyền thống, làm
thu hẹp và biến dạng các quan hệ kinh tế cũ, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển
biến cơ cấu xã hội cổ truyền, hướng nó vào quỹ đạo phát triển mới” [74, tr
108].
1.1.1.3. Cơ cấu các nhà máy công nghiệp hình thành ở thành phố Nam Định
dưới thời Pháp thuộc
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở thành phố Nam Định
đã tác động và dẫn đến sự ra đời của các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp. Đây là
các ngành công nghiệp nhẹ, thuộc nhóm hàng tiêu dùng yêu cầu ít vốn đầu tư,
thu lợi nhanh, tận dụng được nguồn tài nguyên sẵn có, nguồn lao động rẻ mạt,
dồi dào của địa phương và có thị trường tiêu thụ rộng lớn như sản xuất vải, sợi,
chăn, chiếu, nấu rượu,…
Nhà máy đầu tiên được xây dựng là nhà máy Tơ. Nhận thấy Nam Định
nằm trong vùng tơ tằm lớn, các công ty tư bản Pháp đã đầu tư xây dựng nhà
xưởng, máy móc để sản xuất. Hoạt động chính của nhà máy Tơ trong thời kỳ
này là sản xuất sợi, dệt xe tơ, nhuộm, buôn bán tơ, nhập khẩu và xuất khẩu
các mặt hàng tơ sống, tơ chế biến, tơ phế phẩm, tơ nõn, lụa, cơ rếp, sa tanh,
tuyn, chiếu, dừa cói.
Nhà máy Rượu Nam Định được xây dựng năm 1894 dưới chính sách thiết
lập chế độ độc quyền nấu và bán rượu, không cho nấu rượu tự do và quy định
mức tiêu thụ rượu đối với dân bản xứ ngày càng tăng. Trung bình sản lượng mỗi
năm của nhà máy đạt ba triệu lít, tương đương với 8.000 tấn gạo. Nhờ thu mua
gạo trong nước với giá rẻ, bóc lột nhân công, sản xuất bằng máy và bán giá độc
quyền, nhà máy đã thu về số lợi nhuận rất lớn.
Nhà máy Chai cũng được xây dựng để sản xuất chai, lọ đựng sản phẩm
Đặng Vũ Tiêu, xưởng ô tô của Lê Trường Xuân, Nguyễn Công Thơm.
16
Như vậy, dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp, đầu thế kỷ XX, ở Nam Định đã xuất hiện một số các nhà máy, xí nghiệp
công nghiệp với quy mô phát triển khác nhau. Thành phố Nam Định trở thành
thành phố lớn thứ ba ở miền Bắc và là trung tâm công nghiệp có vị trí quan
trọng. Tuy nhiên, trình độ kỹ thuật trong các nhà máy chỉ hiện đại hơn so với
tính chất sản xuất ở các xưởng thủ công.
1.1.1.4. Sự ra đời của nhà máy Dệt Nam Định
Nhà máy Sợi là tên gọi của nhà máy Dệt Nam Định trong thời kỳ Pháp
thuộc. Trước hết cần phải khẳng định, sự ra đời của Nhà máy nằm trong chính
sách khai thác thuộc địa chung của thực dân Pháp ở Đông Dương. Lựa chọn
thành phố Nam Định để xây dựng xưởng sản xuất sợi, dệt, chăn,… là sự tính
toán có kế hoạch của chủ nghĩa thực dân trên cơ sở những lợi thế so sánh của địa
phương này với những nơi khác, “nghề dệt ở đây quả thực chiếm vị trí hàng đầu
trong số những công nghệ khiến ta phải lưu ý”. Thực tế đã chứng minh, đây là
một thành công lớn trong công cuộc khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân.
Nhờ tận dụng các nguồn lực về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở xã hội,
lao động, thị trường tiêu thụ, hệ thống giao thông thuận lợi và bóc lột tối đa sức
sản xuất của nguồn nhân công dồi dào, không cần công nghệ sản xuất hiện đại
cũng như lượng tư bản đầu tư thấp hơn các ngành kinh tế khác, từ quy mô nhỏ
lúc ban đầu, Nhà máy đã trở thành trung tâm sản xuất sợi, dệt lớn nhất Đông
Dương thời Pháp thuộc, là một trong những trung tâm công nghiệp lớn và quan
trọng ở Bắc Kỳ và đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho chủ tư sản.
Cơ sở đầu tiên của Nhà máy là một xưởng sản xuất sợi nhỏ của tư sản
Hoa kiều. Năm 1889, Bá Chín Hội đã thành lập một xưởng kéo sợi thủ công nhỏ
với chín máy kéo sợi và gần 100 công nhân. Bằng những thủ đoạn, tư sản Pháp
Ngày 29 tháng 6 năm 1925, chủ Nhà máy khẳng định:“mua thật nhiều đất bất
cứ chỗ nào” và chủ trương chung về việc đổi đất của nhà máy lấy đất của thành
phố sao cho có lợi về giá và diện tích. Diện tích Nhà máy ngày một lớn, cho đến
năm 1928, diện tích là 230.000 m2, năm 1941 đã chiếm 339.581,41 m2 đất,
18
chiếm 3/4 diện tích đất của làng Năng Tĩnh và 1/6 đất nội thành. Nhà máy được
xây dựng và mở rộng trên một khu đất lớn phía tây nam thành phố, tập trung
nhiều đầu mối giao thông lớn của tỉnh như đường quốc lộ 10, 21, 55,..., trục
đường chính của thành phố đi giữa trung tâm Nhà máy, cách ga đường sắt 500
m về phía tây, cách sông Đào (cảng) 200 m về phía nam. Nguồn lợi nhuận thu
được ngày càng lớn khiến cho giới chủ tư sản không ngừng đầu tư, mở rộng sản
xuất nhằm tăng cường bóc lột giá trị thặng dư ngày càng nhiều. Về mặt hành
chính, Nhà máy có một hệ thống quản lý khá đồ sộ. Ông Dupré là giám đốc, trực
tiếp nắm quyền quản lý và chỉ đạo sản xuất nhưng thường xuyên vắng mặt nên
trực tiếp trông coi Nhà máy là Marchand, làm việc dưới quyền Dupré. Nhà máy
xây dựng và duy trì một đội ngũ đốc công, cai ký có nhiệm vụ trông coi, đốc
thúc thợ làm việc và đội ngũ canh gác khá đông. Với tốc độ phát triển nhanh,
Nhà máy đã trở thành nhà máy lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ với vai trò hết
sức quan trọng trong hệ thống các ngành kinh tế, tạo ra những biến đổi to lớn
trong cơ cấu kinh tế xã hội của vùng đông nam đồng bằng sông Hồng.
Cơ cấu các phân xưởng
Nhà máy
Xưởng
Sợi A
Xưởng
Xưởng Dệt
A
B
C
1.1.2. Phong trào công nhân Nhà máy trong thời kỳ vận động thành lập Đảng
1.1.2.1. Đội ngũ công nhân Nhà máy ra đời
19
Cùng với sự hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp, đội ngũ công nhân
tỉnh Nam Định đã ra đời, trong đó, những người công nhân sợi, dệt chiếm đa
số. Công nhân Nhà máy gồm các bộ phận: thợ đứng máy sợi, thợ đứng máy
dệt, thợ đứng máy lờ, thợ nề, thợ nhuộm, thợ cơ khí, thợ điện… dần phát triển
về số lượng và chất lượng, trở thành lực lượng nòng cốt và đứng lên lãnh đạo
phong trào đấu tranh của đội ngũ công nhân Thành Nam nói riêng, công nhân
tỉnh Nam Định nói chung.
Đội ngũ công nhân Nhà máy có nguồn gốc từ những người nông dân, nạn
nhân của chính sách bần cùng hóa nông thôn và những người thợ thủ công bị
chính sách cạnh tranh khốc liệt của thực dân Pháp làm cho phá sản. Họ buộc
phải đi đến các nhà máy, xí nghiệp làm thuê cho các chủ tư bản. Khi các nhà
máy Tơ, nhà máy Sợi đưa ra yết thị tuyển thợ thì “những vùng lân cận Nam
Định như Mỹ Lộc, Bình Lục, Nam Trực, Lý Nhân, Vụ Bản, từng đoàn người đổ
về nhà máy” [75, tr 15]. Với một đặc điểm chung là hết sức nghèo đói, cơ cực,
họ gia nhập vào hàng ngũ vô sản, sống dưới thân phận người công nhân trong xã
hội thuộc địa, nhưng cuộc sống khổ cực thì vẫn thế, chỉ là chuyển từ thân phận
hơn so với lương của công nhân nam cùng làm công việc có tính chất giống
nhau, cường độ lao động và thời gian như nhau. Trẻ em từ 9 tuổi đến 10 tuổi
phải làm những công việc như của người lớn. Thợ học nghề không được trả
lương trong ba tháng đầu, sau đó phải đút tiền cho cai ký để trở thành thợ chính
thức. Tiền lương thực tế mà công nhân được hưởng còn thấp hơn nhiều so với
tiền lương danh nghĩa vì bị ăn chặn, cúp phạt. Ở Nhà máy quy định mười chín
khoản phạt vào lương. Không chỉ bị bóc lột về thể xác, họ còn bị trói buộc về
tinh thần. Sống cuộc sống quá khổ cực, công nhân Nhà máy - tiêu biểu cho đội
ngũ công nhân Nam Định khát khao được ánh sáng của cách mạng soi rọi, chỉ ra
con đường đấu tranh đúng đắn. Ở xứ thuộc địa, “bị khuất phục bằng vũ lực, bắt
buộc phải chịu đựng bao nhiêu điều nhục nhã, bị áp bức, bóc lột, dân Đông
21
Dương không thể ngồi yên mà không phá gông xiềng của đế quốc thực dân
Pháp” [78, tr 16].
Công nhân Nhà máy được kế thừa truyền thống của quê hương yêu nước,
giàu truyền thống văn hóa, nhân văn, trình độ dân trí cao. Con người Nam Định
ham học hỏi, ham hiểu biết, có truyền thống học hành, khoa bảng, nhiều người
đỗ đạt, thành tài. Hơn nữa, với vị trí là trung tâm, điều kiện đi lại, thông thương
dễ dàng, những tư tưởng, trào lưu tiến bộ đã đến được với người dân Nam Định.
Là công nhân trong một nhà máy công nghiệp sợi, dệt lớn nhất Đông Dương,
trung tâm kinh tế lớn thứ ba ở Bắc Kỳ sau Hà Nội và Hải Phòng, với điều kiện
sản xuất tập trung, các khâu sản xuất chuyên môn hóa và quan hệ mật thiết với
nhau, đội ngũ công nhân là lực lượng sản xuất tiên tiến nhất trong xã hội, tiếp
thu kỹ thuật sản xuất hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất mới. Là một
bộ phận của giai cấp công nhân thế giới, họ đã tiếp nhận các học thuyết cách
mạng vô sản, trở thành lá cờ đầu, là lực lượng nòng cốt và đảm bảo cho sự thành
công của cách mạng vô sản.
của công nhân. Họ nhận thức được rằng, phải tự mình đứng lên đấu tranh chống
lại sự đàn áp, bóc lột, tự cứu lấy cuộc đời của chính bản thân mình chứ không
phải trông chờ vào thế lực siêu nhiên hay những thế lực phong kiến, tư sản mang
đến.
Những hành động tranh đấu, phản kháng đầu tiên của người công nhân
Nhà máy là những hành động mang tính chất cá nhân, tự phát, lẻ tẻ, như lợi
dụng lúc cai, ký, đốc công vắng mặt, công nhân tự động đóng máy ngồi nghỉ hay
bố trí một bộ phận gác để anh em được nghỉ ngơi, đón đánh những tên cai, ký đã
đánh đập, cúp phạt, ức hiếp mình, nhằm những lúc mất điện để đánh những tên
đốc công đang sục xạo trong buồng máy. Các trận đánh cai, ký xuất hiện vào
những năm 1920, 1921, 1922, 1923, 1924,… lôi cuốn được nhiều người tham
gia. Tuy nhiên, tất cả những hành động đấu tranh riêng lẻ, tự phát của công nhân
Nhà máy chống lại giới chủ đều không mang lại kết quả. Vì nếu ngồi nghỉ
2
3
Tài liệu lưu ở Bảo tàng Nhà máy
Tài liệu lưu ở Bảo tàng Nhà máy
23