Tư tưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện,giành thắng lợi quyết định của đảng trong sự nghiệp kháng chiến chống mỹ, cứu nước - Pdf 33

Đại học quốc gia hà nội
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
---------------------------------

Phạm Thị Trọng Hiếu

Tư tưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện
giành thắng lợi quyết định của đảng trong
sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử

Hà Nội - 2008

1


Đại học quốc gia hà nội
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
----------------------------------

Phạm Thị Trọng Hiếu

Tư tưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện
giành thắng lợi quyết định của đảng trong
sự nghiệp kháng chiến chống mỹ, cứu nước

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số

: 602256


Miền Bắc Việt Nam

MBVN

Miền Nam Việt Nam

MNVN

Nhà xuất bản

Nxb

Tổng công kích, tổng khởi nghĩa

TCK,TKN

Tư bản chủ nghĩa

TBCN

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

3


Mục lục


2.3. Chỉ đạo tiến lên giành thắng lợi quyết định trong những năm (1969 - 1973)

102

một số vấn đề rút ra từ chỉ đạo và tổ chức thực hiện giành thắng lợi quyết
định của Đảng trong kháng chiến chống mỹ, cứu nước

130

3.1. Bám sát thực tiễn cách mạng, đề ra đường lối chiến lược đúng đắn, tổ
chức thực hiện sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả cao

130

3.2. Tuân thủ những nguyên tắc trong thực hành tư tưởng chiến lược tấn
công; thực hiện những “quả đấm chủ lực”, đảm bảo giành thắng lợi
quyết định, buộc địch từng bước xuống thang chiến tranh

133

3.3. Trên cơ sở quán triệt tư tưởng chiến lược tấn công, nắm vững và giải
quyết tốt mối quan hệ giữa đánh lâu dài với tranh thủ thời cơ, giành
thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, tạo ra bước ngoặt
mới về chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến tranh

139

3.4 Đánh giá đúng kẻ thù, nắm vững mục tiêu cuối cùng của cách mạng, để
ra các nghị quyết đúng đắn để chỉ đạo toàn quân, toàn dân, giành thắng
lợi quyết định trong những điều kiện cụ thể, tiến tới giành thắng lợi

trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta. Thắng lợi của cuộc đấu tranh
này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế
giới. Thắng lợi này “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong
những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ
nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như
một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế
to lớn và có tính thời đại sâu sắc” [42, tr.471]. Nó đã chấm dứt sự thống trị
của chủ nghĩa đế quốc và xóa bỏ chế độ phong kiến ở nước ta, đưa nước ta
bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã
hội. Đến nay, ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm của cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn còn giữ nguyên giá trị, đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay, những kinh nghiệm đó sẽ góp phần quan trọng giúp ta thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã chiến đấu anh dũng, đánh
thắng các chiến lược chiến tranh nằm trong chiến lược toàn cầu phản
cách mạng mà Mỹ đã áp dụng ở Việt Nam. Trong thời gian từ 1961 đến
1975, với sự tập trung cao nhất về tài chính và quân sự, Mỹ đã triển khai
các chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam
hoá chiến tranh” nhằm mục đích tiêu diệt lực lượng cách mạng của ta,
ngăn chặn làn sóng chủ nghĩa cộng sản tràn xuống khu vực Đông Nam á.
Sớm nhận thấy đế quốc Mỹ là một kẻ thù nguy hiểm có sức mạnh tài
chính và quân sự vô cùng to lớn, chúng ta không thể cùng một lúc đánh
bại cả đế quốc Mỹ và nguỵ quân, nguỵ quyền nên Đảng ta đã có một

5


quyết định quan trọng trong chỉ đạo chiến lược kiềm chế địch, giành
thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi quyết định và từ đó tạo nên
chiến thắng lịch sử mùa xuân 1975. Đó là bước quá độ từ thắng lợi quyết

nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Vì vậy, viết về cuộc
đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam đã có nhiều sách, chuyên khảo,
tham luận hội thảo, bài báo khoa học của các học giả, các cán bộ tham gia
lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh. Các công trình đó đã đề cập đến sự lãnh đạo,
chỉ đạo của Đảng ta ở những góc độ khác nhau. Tiêu biểu như:
Tác phẩm “Nghệ thuật biết thắng từng bước” của Trần Nhâm, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội 1978. Trên cơ sở phân tích đường lối chỉ đạo cách
mạng của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tác giả đã
khái quát lên những đặc điểm của nghệ thuật “biết đánh” và “biết thắng” đế
quốc Mỹ. Tác phẩm “Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước” của Viện Sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1985 là tập hợp
nhiều bài viết của các tác giả đề cập đến nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh
nghiệm, ý nghĩa và tác động to lớn của thắng lợi đối với dân tộc và thời đại.
Tác phẩm đã làm rõ: chiến thắng đó là thành quả tổng hợp của một loạt các
nhân tố nhưng quan trọng nhất là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta
với nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh hết sức tài tình. Tác phẩm “Lịch sử kháng
chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975”, 9 tập của Viện Lịch sử quân sự Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội đã khái quát lại toàn bộ cuộc đấu tranh
chống Mỹ cứu nước của nhân dân từ đó rút ra những đánh giá về cuộc đấu
tranh này. Tác phẩm “Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” của Đại
tướng Văn Tiến Dũng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996 cũng trình bày
một cách có hệ thống về quá trình đấu tranh giành thắng lợi của nhân dân ta
đồng thời nêu lên những kết luận về chỉ đạo chiến lược. Tác phẩm “Mấy vấn
đề chỉ đạo chiến lược trong 30 năm chiến tranh giải phóng 1945 - 1975)” của
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 1999 đã

7


tổng kết nghệ thuật chỉ đạo chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp

ra còn nhiều bài viết khác cũng đề cập ít nhiều đến vấn đề này.
Các học giả nước ngoài, chủ yếu là người Mỹ đã từng trực tiếp tham
gia chiến đấu hoặc từng nghiên cứu về cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã có khá
nhiều công trình viết về vấn đề này. Tiêu biểu như: “Giải phẫu một cuộc
chiến tranh” tập 1, tập 2 (G.Côncô, Nxb Quân đội nhân dân, năm 1989 và
1991); “Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ” (C.Herring, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998); “Nhin lại quá khứ - Tấn thảm kịch và
những bài học về Việt Nam” (R.S.Mc Namara, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội 1995); “Việt Nam - Cuộc chiến tranh mười ngàn ngày” (M.Maclia, Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1990)… Những tác phẩm này đã góp phần phản ánh cục diện
cuộc chiến tranh ở Việt Nam nhưng do mục đích và lập trường khác nhau nên
phần lớn các tác giả chưa đánh giá đúng thực chất của cuộc chiến tranh này,
tuy vậy họ vẫn phải thừa nhận thất bại đó và thừa nhận vai trò to lớn của
Đảng ta trong việc lãnh đạo thắng lợi sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Những tài liệu trên nhìn chung mới chỉ dừng lại ở việc khái quát và
tổng kết cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, đi sâu vào một vấn đề cụ thể
trong một giai đoạn nhất định hoặc sự chỉ đạo đấu tranh của Đảng trên một số
lĩnh vực khác nhau. Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách có hệ thống về tư tưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện giành thắng lợi
quyết định của Đảng trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tuy
nhiên, những kết nghiên cứu trên đã được chúng tôi kế thừa để thực hiện luận
văn này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

9


Đối tượng: nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách và quá trình
tổ chức chỉ đạo giành thắng lợi quyết định của Đảng trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước.

gồm các tập từ năm 1960 đến 1973 và 1976, Thư vào Nam, Nghị quyết các
cấp bộ Đảng, các chỉ thị, báo cáo tổng kết, kế hoạch, phương án tác chiến...;
Các báo cáo, luận án, công trình nghiên cứu, các bài viết của các học giả; Các
công trình tổng kết, sách lịch sử, biên niên sự kiện, hồi ký của các nhà hoạch
định và chỉ đạo chiến tranh; Các công trình nghiên cứu, hồi ký của các học
giả nước ngoài, chủ yếu là của những người ở bên kia chiến tuyến viết về
cuộc chiến tranh Việt Nam.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống lại quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện giành thắng lợi
quyết định của Đảng trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
- Phân tích tính sáng tạo, cách mạng của Đảng, kế thừa kinh nghiệm
chín năm kháng chiến 1945-1954 lên đỉnh cao.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục luận văn
được cấu trúc thành 3 chương, 10 tiết.

11


Chương 1
Bối cảnh lịch sử ra đời đường lối
kháng chiến chống mỹ, cứu nước của Đảng ta
Để hiểu được bản chất của một cuộc chiến tranh, trước hết chúng ta
phải xem xét nó đã diễn ra trong điều kiện chủ quan, khách quan nào.
V.I.Lênin cũng cho rằng: “Lý luận Mácxít tuyệt đối đòi hỏi người ta, khi phân
tích một vấn đề xã hội, phải đặt nó trong một khung cảnh nhất định”
[62,tr.468]. Người còn chỉ rõ: “Chỉ có hiểu biết căn bản đặc điểm của thời đại,
chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước
nọ”[63, tr.157]. Nắm vững những đặc điểm cơ bản của thời đại trong bối cảnh
lịch sử nhất định sẽ là cơ sở để giải quyết đúng đắn những vấn đề của thời đại

trong tay chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Nếu so về thời gian thì cuộc
chiến này không dài bằng các cuộc chiến tranh trước đó nhưng so về tương
quan lực lượng thì đây là cuộc chiến tranh có “một tương quan lực lượng
chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta về phương thức
sản xuất cũng như tiềm lực kinh tế, quân sự”[7, tr.65].
Về mặt kinh tế: Do có sự tính toán khôn khéo, Mỹ đã tham gia chiến
tranh thế giới thứ hai nhưng không những không bị chiến tranh tàn phá như
các nước khác mà còn thu về cho mình một nguồn lợi khổng lồ nhờ buôn bán
vũ khí. Vì thế, Mỹ đã phát triển mạnh mẽ và trở thành đế quốc giàu có nhất
thể giới, chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong thế giới tư bản. Mỹ có một
nền công nghiệp và nông nghiệp phát triển cao. Sản lượng công nghiệp Mỹ
chiếm quá nửa tổng sản lượng công nghiệp của thế giới tư bản (56,4% năm
1948). Sản lượng nông nghiệp cũng gấp hai lần sản lượng của Anh, Pháp,
Cộng hoà liên bang Đức, Italia, Nhật cộng lại (1949) [103, tr.286]. Về tài
chính, Mỹ có khối lượng vàng dự trữ lớn nhất thế giới (gần 25 tỷ đôla năm
1949, chiếm 3/4 lượng vàng của thế giới tư bản). Mỹ đã trở thành chủ nợ duy

13


nhất trên thế giới, ngay cả các chủ nợ trước kia của Mỹ như Anh, Pháp cũng
trở thành con nợ của Mỹ.
Nhằm thiết lập sự thống trị độc tôn của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi
toàn thế giới, Mỹ đã tiến hành một chiến lược toàn diện bao gồm các mặt
chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.
Để thi hành chính sách bành trướng, đế quốc Mỹ lợi dụng tình cảnh các
nước tư bản bi suy yếu trong chiến tranh, chưa kịp hồi phục, đã thông qua
chiêu bài viện trợ kinh tế, quân sự khống chế các nước đó, đẩy các nước này
xuống vai trò phụ thuộc Mỹ thậm chí làm tay sai thực hiện một số chủ trương,
chính sách của Mỹ.

này, thì người đó phải là chúng ta[24, tr.8].
Như vậy, Mỹ đã tự gán cho mình trách nhiệm đứng đầu các nước tư
bản chủ nghĩa để bảo vệ “thế giới tự do”, ngăn chặn sự phát triển của chủ
nghĩa cộng sản. Nhưng thực chất đó chỉ là sự bao biện cho âm mưu bành
trướng của mình, như nhà sử học Mỹ G. Côncô đã nhận định:
Mỹ hành động không phải vì ý muốn bảo vệ đất nước chống lại bất
cứ mối đe doạ cụ thể nào mà vì Mỹ muốn tạo ra ở nơi khác một trật
tự có thể kiểm soát được sẵn sàng đáp ứng một cách có lợi các mục
tiêu và lợi ích của Mỹ, vượt xa những nhu cầu trong nước. Mỹ tin
rằng sức mạnh của Mỹ đủ sức điều chỉnh thế giới và chịu đựng
những tổn phí như các cường quốc đế quốc trước đây đã làm để
hoàn thành nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế [16, tr.92]
Mỹ đề ra 3 mục tiêu cho chiến lược toàn cầu: ngăn chặn, đẩy lùi, tiến
tới tiêu diệt hệ thống xã hội chủ nghĩa; uy hiếp, đàn áp phong trào giải phóng
dân tộc ở các nơi; kìm chế sự phát triển của các nước tư bản đồng minh, lôi
kéo các nước khác tham gia vào lực lượng phản động quốc tế do Mỹ cầm đầu.

15


Mục đích chính của chiến lược đó là “nhằm ngăn chặn sự phát triển mạnh mẽ
của phong trào cách mạng thế giới, nhất là phong trào cách mạng xã hội chủ
nghĩa mà Liên Xô là trụ cột” [24, tr.6]. Và Mỹ đã đề ra một chính sách đối
ngoại, được giới chính trị và quân sự Mỹ khái quát bằng cái tên “ngăn chặn
chủ nghĩa cộng sản”. Các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ cho rằng nếu để
cho chủ nghĩa cộng sản tràn xuống khu vực Đông Nam á thì Mỹ sẽ mất vị trí
chiến lược ở Viễn Đông. Nhất là sau khi cách mạng Trung Quốc (1949) thắng
lợi, họ càng lo sợ hơn vì nếu mất thêm Đông Nam á thì Nhật Bản không còn
lựa chọn nào khác là dung hoà với chủ nghĩa cộng sản ở khu vực này và khi
đó, một chuỗi đảo ngoài khơi chạy dài từ Nhật Bản đến Philippin - tuyến

hiện bằng được mưu đồ thay chân các đế quốc khác chiếm đóng khu vực này.
Về mặt chính trị: Đông Nam á là khu vực có phong trào giải phóng dân
tộc phát triển, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào cách mạng vô sản thế
giới nhất là Việt Nam và Đông Dương, lúc nào cũng có thể bùng nổ một cuộc
cách mạng vô sản. Việt Nam và Đông Nam á đã trở thành nơi tập trung các
mâu thuẫn của thời đại. Mỹ đã rất lo sợ điều đó, vì thế mà chúng tập trung lực
lượng lớn hòng bóp nghẹt phong trào cách mạng ở đây nhằm tránh hiểm hoạ
chủ nghĩa cộng sản tràn xuống khu vực Đông Nam á. Chính vì vậy, Mỹ đã
thành lập tổ chức SEATO nhằm tập hợp lực lượng các nước chư hầu để đối
phó với phong trào cách mạng ở đây. Mỹ đã ý thức sâu sắc về quyền lợi sống
còn và vị chí chiến lược của vùng Đông Nam á, nếu thua cuộc ở khu vực này
thì sẽ dẫn đến hiệu ứng đôminô - một sự sụp đổ dây chuyền ở khắp mọi nơi.
Trong khu vực Đông Nam á, Mỹ đặc biệt quan tâm đến Đông Dương
bởi chúng đều nhận thấy tầm quan trọng của khu vực này đối với sự thành
công của chiến lược toàn cầu phản cách mạng và cho rằng đây là vị trí then
chốt trong việc bảo vệ Đông Nam á: “Đông Dương được xem là quan trọng vì
có nhiều nguyên liệu, gạo và các căn cứ hải quân, nhưng người ta còn cho
rằng khu vực này có tầm quan trọng lớn hơn nhiều xét về tác động có thể xảy

17


ra đối với các khu vực khác nếu Đông Dương thất thủ”[14, tr91]. Vì thế, Mỹ
đã chọn Việt Nam và Đông Dương làm nơi thi điểm thực hành chủ nghĩa thực
dân mới, biến nơi đây thành bàn đạp để thiết lập ảnh hưởng ở châu á. Quốc vụ
khanh Mỹ D. Rusk đã từng tuyên bố trước tiểu ban đối ngoại của Quốc hội
Mỹ: “Viễn Đông, Việt Nam và các nước phụ cận là một trong những chiến
trường quyết định trong cuộc đấu tranh nhằm duy trì trật tự thế giới lâu dài
và vững chắc”[1, tr.29].
Chính vì ý nghĩa đó mà Vịêt Nam “đã trở thành tiêu điểm của cuộc

dụng hơn 80 vạn quân Mỹ, trong cả cuộc chiến tranh, chúng đã
động viên tới 6 triệu lượt binh sĩ Mỹ, ném xuống đất nước ta 7
triệu 850 nghìn tấn bom và tiêu tốn 352 tỷ đôla. Ngoài ra chúng còn
dùng những phát minh khoa học, kỹ thuật mới nhất để gây vô vàn
tội ác huỷ diệt đối với nhân dân ta [42, tr.483].
Với âm mưu nham hiểm đó, Mỹ đã triển khai chiến lược toàn cầu phản
cách mạng mà Việt Nam được chọn làm nơi thí điểm.
Từ năm 1953 đến 1960, sau khi thay thế tổng thống Tơruman,
Aixenhao đã cho thực hiện một chiến lược quân sự toàn cầu mới được mang
tên “trả đũa ồ ạt”. Dựa trên lực lượng quân sự Mỹ và hệ thống liên minh quân
sự, Mỹ tiến hành chiến lược này với mục tiêu “dùng vũ khí hạt nhân làm
chiếc ô che chắn để bảo vệ cho các chế độ tay sai của Mỹ, sẵn sàng đánh trả ồ
ạt thẳng vào các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa”[24, tr.16]. Lực lượng
hạt nhân chiến lược mà Mỹ dùng làm lá chắn được cấu thành bởi bộ ba vũ
khí: tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa mang
đầu đạn hạt nhân và máy bay ném bom chiến lược mang bom hạt nhân. Để
tăng cường sức mạnh quân sự, Mỹ đã sản xuất hàng loạt các loại máy bay


Theo tư liệu của Hoa kỳ, số lính Mỹ tham chiến trong chiến tranh Việt Nam khoảng 4 triệu người.

19


ném bom chiến lược như B52, B47 và các loại tên lửa vượt đại châu. Tính đến
năm 1960, Mỹ có gần 400 máy bay B52, khoảng 1400 máy bay B47, 110 tàu
ngầm, có tới 36 liên đội bay ném bom hạng nặng và 104 liên đội bay ném
bom hạng trung [24,tr.18]. Với ưu thế về vũ khí hạt nhân, Mỹ đã quyết liệt
chống phá phong trào cách mạng thế giới và cũng tại thời điểm này Mỹ dần
can thiệp vào Việt Nam thông qua việc tăng cường viện trợ quân sự để Pháp

Chính sách thực dân mới là con đẻ của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, của
chính sách đế quốc thực dân. Nó ra đời trong cơn tổng khủng hoảng và trước
nguy cơ sụp đổ sau chiến tranh thế giới thứ hai của chủ nghĩa tư bản. Bản chất
của chủ nghĩa thực dân mới đã được Đảng sớm nhận ra và khái quát trong
Nghị quyết 9 của Trung ương: Đặc điểm chủ yếu của chính sách thực dân là
đế quốc Mỹ không trực tiếp cai trị mà thông qua chính quyền tay sai, dùng
viện trợ kinh tế và quân sự để áp bức, bóc lột nhân dân miền Nam.
Trong thời kỳ đầu của cuộc cách mạng, chúng ta chưa thể hình dung và
thấy rõ chính sách thực dân mới mà phải trải qua thực tiễn đấu tranh mới hiểu
đầy đủ bản chất và thủ đoạn của chính sách này. Về chính trị, Mỹ không thiết
lập bộ máy thực dân thông qua chính quyền tay sai với chiêu bài quốc gia,
dân chủ giả hiệu. Về quân sự, Mỹ tin dùng và ra sức xây dựng quân đội nguỵ
đủ mạnh làm lực lượng chiến đấu cho chúng. Với hai mặt chính trị và quân sự
như vậy, Mỹ thể hiện một ý đồ nham hiểm là khơi sâu và làm đậm nét tính
chất nội chiến của cuộc chiến tranh, che đậy bản chất thực dân xâm lược của
chúng. Về kinh tế, Mỹ dùng viện trợ làm công cụ chủ yếu để giữ chính quyền
tay sai ở miền Nam đi vào con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, đối lập với
miền Bắc, chia cắt lâu dài nước ta. Về văn hoá - xã hội, chúng ra sức du nhập
lối sống Mỹ, văn hoá Mỹ hòng phá hoại truyền thống văn hoá Việt Nam.
Như vậy, ngay từ thời điểm này Mỹ với chính sách thực dân mới đã trở
thành kẻ thù số một của nhân dân Việt Nam và phong trào cách mạng thế

21


giới. Cuộc chiến tranh ở Việt nam đã trở thành nơi đọ sức giữa hai lực lượng
quốc tế: lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng.
Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới mà đặc biệt là phong
trào giải phóng dân tộc ở châu á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh đã làm cho chiến
lược “trả đũa ồ ạt” của Mỹ bị phá sản. Nhưng không phải vì thế mà Mỹ chịu

đảm sự sống còn và thắng lợi của thế giới tự do”[24, tr.29].
Trong chiến lược “phản ứng linh hoạt” này, Mỹ một mặt ra sức chuẩn
bị cho chiến tranh hạt nhân nhưng loại chiến tranh này lại không có lợi cho
Mỹ và ít có khả năng xảy ra vì thế một mặt Mỹ phát triển các cuộc “chiến
tranh hạn chế”. Loại chiến tranh này vừa không nguy hiểm, vừa có thể dễ
dàng giành thắng lợi. “Chiến tranh hạn chế” gồm hai hình thức: đó là “chiến
tranh đặc biệt” và “chiến tranh cục bộ”. Mỹ coi đây là lưỡi kiếm tiến công sắc
bén vào những nơi nguy hại nhất của thế giới tự do. Để tiến hành chiến lược
này, Mỹ tiếp tục tăng cường lực lượng hạt nhân, phát triển lực lượng vũ trang
thông thường và tiếp tục duy trì, củng cố hệ thống các liên minh quân sự của
mình cũng như các nước đồng minh.
Miền nam Việt Nam được Mỹ dùng làm nơi thử nghiệm chiến lược này
với hai loại hình chiến tranh mới là “chiến tranh đặc biệt”, dùng quân đội Sài
Gòn làm lực lượng chiến lược chủ yếu, quân Mỹ giữ vai trò cố vấn chỉ huy và
“chiến tranh cục bộ” dùng quân viễn chinh Mỹ làm lực lượng nòng cốt.
Hoa Kỳ đã coi miền Nam Việt Nam là một điểm nóng của phong trào
giải phóng dân tộc mà họ phải tập trung đối phó. Họ cũng nhận thức rất rõ vai
trò quan trọng của việc thử nghiệm loại hình chiến tranh này ở Việt Nam, nếu
thắng lợi sẽ tạo ra sự bình ổn ở khu vực và gây tiếng vang cho chiến lược
“phản ứng linh hoạt” của mình. Tướng M.Taylo cha đẻ của chiến lược “phản
ứng linh hoạt” đã xác định: “Nếu chương trình của Mỹ thành công ở Nam
Việt Nam thì sẽ dẫn tới ổn định được toàn bộ tình hình ở Đông Nam á, nếu

23


thất bại thì sẽ có ảnh hưởng lớn đến những thành quả của Mỹ ở châu
á”[24,tr.29].
Để thực hiện ý đồ của mình, Mỹ đã tập trung cao nhất về tài chính và
quân sự cho cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam, từ chỗ dùng quân nguỵ làm

ở Việt Nam mà còn làm đảo lộn và buộc Mỹ thay đổi cả chiến lược toàn cầu
của chúng.
Trong những năm 1969 - 1973, sau khi lên nắm quyền Nichxơn đã đề
ra chiến lược quân sự toàn cầu mới mang tên “ngăn đe thực tế” dựa trên “học
thuyết Nichxơn”. Học thuyết này được cấu thành bởi ba bộ phận:
1. Chia sẻ trách nhiệm - Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho
các nước đồng minh, còn các nước đồng minh phải thực hiện
“nghĩa vụ” của mình trong khu vực;
2. Xây dựng sức mạnh - Mỹ gánh chịu phần chủ yếu về lực lượng
hạt nhân chiến lược, nhưng các nước đồng minh phải cùng Mỹ
“chung sức gánh vác” việc xây dựng lực lượng tác chiến trên khu
vực chiến trường;
3. Thương lượng - Mỹ thương lượng với các nước đồng minh thành
lập những liên minh khu vực, thương lượng giải quyết xung đột
xảy ra giữa các nước thứ ba, thương lượng với Liên Xô về việc
hạn chế sự phát triển vũ khí chiến lược[24, tr.34].
Vận dụng “học thuyết Nichxơn” và chiến lược quân sự “ngăn đe thực
tế” vào Việt Nam, Mỹ đã thi hành chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” với
ý định xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước nhưng kéo dài và
mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương. Thực chất của chính sách này
là dùng người Việt đánh người Việt, dùng người Đông Dương đánh người
Đông Dương bằng tiền của và sự chỉ huy của Mỹ để tránh thiệt hại về người
cho quân đội Mỹ nhằm xoa dịu làn sóng phản đối chiến tranh đang lên cao

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status