Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên đại học y dược TP HCM - Pdf 33

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG DẠI HỌC VINH

NGUYỄN QUANG VINH
NGUYỄN QUANG VINH

MỘT SÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT
ĐỘNG
Tự HỌC
CỦA
SINH
VIÊN
MỘT
SÓ GIẢI
PHÁP
QUẢN

ĐẠI HOẠT
HỌC YĐỘNG
DƯỢCTự
THÀNH
PHÓSINH
HÒ CHÍ
MINH
HỌC CỦA
VIÊN
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số
: 60.14.05

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÈ

TÀI NGHIÊN cứu...................6

1.1.

Tổng quan vấn đề nghiên cứu............................................................6

1.2.

Các khái niệm cơ bản của đề tài.........................................................9

1.3.

Một số vấn đề về quản lý hoạt động tự học của sinh viên................19

CHƯƠNG 2. THựC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỎNG Tự HỌC CỦA
SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM..........................28
2.1.

Khái quát về Đại học Y Dược TP.HCM..........................................28

2.2.


BANG

Bảng 2.1. Sự cần thiết của hoạt động tự học.........................................37
Bảng 2.2. Vai trò của tự học..................................................................38
Bảng 2.3. Động cơ tự học.....................................................................39
Bảng 2.4. Thời gian sinh viên tự học....................................................40
Bảng 2.5. Hình thức tự học của sinh viên.............................................42
Bảng 2.6. Phương pháp sinh viên sử dụng trong tự học.......................43
Bảng 2.7. Kỹ năng tự học của sinh viên...............................................45
Bảng 2.8. Địa điém sinh viên sử dụng trong tự học..............................46
Bảng 2.9. Y kiến của sinh viên về hiệu quả trong công tác quản lý
hoạt động tự học........................................................................49
Bảng 2.10. Ý kiến của cán bộ quản lý và giảng viên về hiệu quả trong
công tác quản lý hoạt động tự học............................................50
Bảng 3.1. Ý kiến của cán bộ quản lý và giảng viên về tính cần thiết và
tính
khả thi của các giải pháp quản lý hoạt động tự học..................89


1

MỞ ĐÀU

1. Lý do chọn đề tài

Mong muốn hiểu biết về thế giới xung quanh mình là nhu cầu tất yếu
của con người. Con người đã sử dụng giáo dục như là một công cụ hữu hiệu
để thu thập các hiểu biết về thế giới xung quanh. Đầu tiên, con người tự mình
tìm tòi để tìm hiêu thế giới xung quanh. Cao hơn, con người có sự truyền đạt
kinh nghiệm của người trước cho người sau. Cao hơn nữa, con người truyền

Do đó để góp phần hạn chế các điểm yếu đó, người học cần trang bị cho mình
những kỹ năng tự học. Qua đó sẽ giúp người học nâng cao năng lực, nâng cao
sự hiểu biết ngõ hầu đáp ứng tốt công tác chuyên môn của bản thân.

Hiện nay, việc tự học của sinh viên trong các trường đại học nói chung,
trong đó có Đại học Y Dược TP.HCM còn tồn tại một số hạn chế cần được
khắc phục. Đe góp phần xác định rõ các yếu tố cơ bản nâng cao hiệu quả khả
năng tự học của sinh viên, tôi chọn đề tài “Một so giải pháp quản lý hoạt
động tự học của sinh viên Đại học YDược TP.HCM” đế nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu


3

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Đại học Y
Dược TP.HCM.
3.3. Phạm vi nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên Đại học Y Dược
TP.HCM trong giai đoạn hiện nay.

Số liệu khảo sát thực trạng được giới hạn trong khoảng thời gian từ
tháng 01 đến tháng 03 năm 2013.

4. Giả thuyết khoa học

Nếu các đề xuất đã nêu trong luận văn được áp dụng đầy đủ, thống

Phương pháp quan sát sư phạm;

-

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;

-

Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện;

-

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;

6.3. Nhóm phương pháp hô trợ khác

Sử dụng phương pháp thống kê toán học đê phân tích, xử lý các thông
tin, số liệu thu được.


5

Trong bài nghiên cứu nhỏ này, tôi muốn Đại học Y Dược TP.HCM có
một chương trình, kế hoạch cụ thể và chi tiết đế quản lý hoạt động tự học của
sinh viên.

Bài nghiên cứu này sẽ góp phần giúp cán bộ quản lý, giảng viên nhận
thức được tầm quan trọng của hoạt động tự học trong cơ sở giáo dục hiện nay.

Bài nghiên cứu cũng góp phần giúp sinh viên có hiểu biết đúng đắn,

dục, đó là “Giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính mình” [16,
tr.5]. Ông cho rằng giáo dục là giúp người học tiếp thu kiến thức do thầy
truyền đạt, nhưng người học không phụ thuộc vào người thầy mà phải tự


7

Vào thời cận đại, nhà bác học người Slovakia J.A.Comenxki (1592 1670) trong tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” đã viết: “Việc học hành, muốn
trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần mà phải ôn đi ôn lại, có
bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ” [16, tr.4]. Như vậy, Comenxki đã
nói rõ: học không chỉ nghe một lần, hay làm một lần, mà phải làm đi, làm lại
nhiều lần để thuần thục, để nắm rõ điều cốt yếu của vấn đề, để biến kiến thức
trở thành kỹ năng, trở thành tri thức của bản thân.

T.Makiguchi, nhà sư phạm người Nhật Bản, trong những năm 30 của
thế kỷ 20 cho rằng: “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và
đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi học sinh. Giáo dục được coi như là quá
trình hướng dẫn học sinh tự học” [22, tr.12].

Như vậy, mục đích quan trọng của giáo dục chính là: người thầy hướng
dẫn người học tự học, tự nghiên cứu để làm chủ các tri thức của nhân loại.
1.1.2.

Trong nước

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, cùng với vai trò
lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, Đảng cũng chú trọng đến công tác giáo
dục, đặc biệt là xây dựng một nền giáo dục biết “Phát huy tinh thần độc lập
suy nghĩ và sáng tạo của học sinh - sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn
thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân...” [6,



9

1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1.

Giải pháp

Theo Từ điên Tiếng Việt: Giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn
đề cụ thể nào đó.

Giải pháp là cách thức, con đường... được con người sáng tạo ra, nó có
thể được sử dụng đê tiến hành một hoạt động hướng đến mục tiêu nào đó,
nhằm đem lại hiệu quả cho người sử dụng.

Như vậy, nói đến giải pháp là nói đến phương cách mà con người dùng
đẻ thay đối một vấn đề, nhằm đạt mục đích đề ra. Giải pháp đưa ra phải thích
hợp, có hiệu quả, giúp cho vấn đề ngày càng tốt hơn. Giải pháp càng tối ưu sẽ
càng giúp cho vấn đề được giải quyết càng nhanh chóng và có hiệu quả. Tuy
nhiên, để có giải pháp tốt và tối ưu thì cần phải dựa trên những cơ sở lý luận
đã được minh chứng và thực tiễn đáng tin cậy.
1.2.2.

Quản lý

1.2 2.1. Khái niệm

Quản lý hình thành cùng lúc với sự xuất hiện của xã hội loài người. Bất
cứ tổ chức hoạt động với quy mô to hay nhỏ đều cần phải có sự quản lý để tồn

tiêu, mục đích đó.


11

Hình 1.1. Chu trình quản lý [22, tr.16Ị

Các chức năng của quản lý có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo
thành chu trình quản lý. Trong đó thông tin đóng vai trò giúp cho các chức
năng hoàn thành tốt vai trò của mình, cũng như phối hợp cùng nhau hài hòa
và nhịp nhàng.

1.2.2.3.

Các kỹ năng cơ bản của nhà quản lý

Các kỹ năng cơ bản của nhà quản lý bao gồm [16, tr.l 1]:

- Các kỹ năng kỹ thuật: Là vận dụng các phương pháp kỹ thuật, biện

pháp hay quy trình cụ thể, tìm thấy điểm chuyên biệt trong các lĩnh vực
chuyên môn khác nhau.

- Các kỹ năng liên cá nhân: Là khả năng lãnh đạo, chỉ dẫn, động viên,

xử lý tình huống và làm việc cùng với mọi người.


12




13

Văn Thành đã nói: “Quản lý giáo dục nằm trong quản lý văn hóa - tinh thần.
Quản lý hệ thống giáo dục có thể xác định là tác động của hệ thống có kế
hoạch, có ý nghĩa và đích hướng của chủ thể ở các cấp khác nhau đến tất cả
các mắt xích của hệ thống (từ bộ đến truửng) nhằm mục đích đảm bảo việc
hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những
quy luật của xã hội cũng nhu các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát
triển thể lực và tâm lý trẻ em” [22, tr. 16].

Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thuờng xuyên, công tác giáo
dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn cho mọi người. Tuy nhiên, trọng
tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ. Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều
hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Từ sự đúc kết kinh nghiệm thực tiễn về quản lý giáo dục của nhà trường
và sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân, trên cơ sở một số ngành khoa
học khác đã hình thành nên lý luận về quản lý giáo dục. Từ cơ sở lý luận khoa
học về quản lý giáo dục đã giúp cho các nhà quản lý giáo dục xây dựng chiến
lược phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, chiến lược xây dựng và phát triển
các bộ máy quản lý giáo dục...
1.2.4. Quản lý nhà trường

M.I. Kondakop viết trong quyển “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý
giáo dục”: “Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ
thống này đòi hỏi những tác động có ý nghĩa, có kế hoạch và hướng đích của
chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường đê đảm bảo vận
hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo



Hình 1.2. Hoạt động dạy học [2, tr. 25]

Từ hình 1.2, chúng ta thấy chiều tác động chủ yếu từ nhà quản lý đến
hoạt động của người dạy, người học và những điều kiện cơ sở vật chất phục
vụ cho việc dạy và học.
1.2.6.

Hoạt động tự học

1.2.6.1.

Khái niệm về tự học

Gibbon đã nói: “Mỗi người đều phải nhận hai thứ giáo dục, một thứ do
người khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn do chính mình tạo lấy” [22,
tr.22]. Thứ do người khác truyền cho chính là những kiến thức mà người học
tiếp thu từ sự truyền đạt của thầy. Còn thứ quan trọng hơn do chính mình tạo
lấy chính là việc tự học.


16

thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể ” [24,
tr.35]. Song song đó, trong quá trình lĩnh hội thì người học phải “tự mình
động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích,
tổng hợp...) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm
chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung
thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó...) đế chiếm lĩnh một lĩnh
vực hiêu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”

khái quát, tổng hợp để tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người dạy
định hướng cho.

Mức độ 2: Tự học không có sự điều khiển trực tiếp của người dạy - gọi
là học “không giáp mặt” - người học phải tự sắp xếp quỹ thời gian và điều
kiện vật chất để tự học tập, tự củng cố, tự đào sâu những tri thức, hoặc tự hình
thành những kỹ năng, kỹ xảo ở một lĩnh vực nào đó, theo những yêu cầu
trong chương trình đào tạo của nhà trường.

Mức độ 3: Để thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của mình, người học
tự tìm kiếm tài liệu, tự phân tích, đánh giá, tự rút kinh nghiệm về tư duy...
đây được xem như là mức độ tự học cao.

1.2.6.3.

Các hình thức biểu hiện của hoạt động tự học

Các hình thức biếu hiện của hoạt động tự học bao gồm [16, tr.18]:


18

bắt hoặc bổ sung tư liệu nhằm giải quyết nhiệm vụ nào đó, qua đó bố sung
được lượng tri thức cần thiết và rèn luyện kỹ năng khai thác tài liệu.

- Chuyên đề, thảo luận theo nhóm: Trong hoạt động này, người học tiến

hành thảo luận, cùng nhau bàn bạc đế làm rõ một vấn đề lý luận nào đó hoặc
vận dụng tri thức lý luận để giải quyết một vấn đề, một tình huống đặt ra, có
thẻ có sự tham gia hướng dẫn, chỉ đạo của người dạy và được thực hiện trên


Chính vì thế mà nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê cho rằng: “Cách thức
tự học phụ thuộc vào trình độ tổ chức và điều khiển hoạt động của thầy” [12,
tr.79]. Nhu vậy quản lý hoạt động tự học chính là sự tác động của chủ thể
quản lý đến hoạt động tự học cúa người học. Việc quản lý hoạt động tự học
của người học, nhằm mục đích chính là giúp cho người học có kế hoạch,
phưong pháp... tự học tốt hơn. Qua đó giúp người học tích cực, chủ động
nắm bắt các tri thức một cách hiệu quả nhất.

Chủ thế quản lý hoạt động tự học của người học trong trường học chính
là ban giám hiệu và các khoa, phòng ban chức năng. Đối tượng quản lý hoạt
động tự học của người học là quá trình tự học của những người học đang học
tại nhà trường.

Quản lý hoạt động tự học cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
của nhà trường, cũng như ngành giáo dục. Quản lý hoạt động tự học của
người học bao gồm: quản lý hoạt động tự học trong giờ học tại trường và
quản lý hoạt động tự học ở nhà hoặc ngoài giờ học ở trường.


20

đời được. Do đó mà “mỗi người đều phải học suốt đời, cứ bổ sung, bổ sung
mãi cho những kiến thức học được ở nhà trường. Cuộc sống đòi hỏi rất nhiều
kiến thức mà chúng ta phải tự học, tự góp nhặt” [4, tr.28]. Chỉ có tự học, tự
nghiên cứu thì sinh viên mới có thể nhanh chóng nắm bắt và biến các kiến
thức đó trở thành tri thức của chính bản thân mình.

Với cơ chế thị trường cạnh tranh gắt gao như hiện nay, thì tự học không
chỉ giúp sinh viên có khả năng thích ứng, hòa nhập và tự khẳng định bản thân,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status