MỎ
Việc sử dụng kháng sinh đã gây
nênĐẦU
sức chống chịu thuốc ở vi sinh vật
và có
trong
củacủa
ký chủ.
1. vết
Tính
cấpmô
thiết
đề tàiSử dụng thuốc điều trị và hóa chất gây tác động
bất lợi Vùng
đối với
du và
vậtcảm
đáynhất
do ảnh
độc là
tố tương
sinh thái
vensinh
biểnvậtlà phù
hệ sinh
tháisinh
nhạy
của huởng
hành tinh,
lai
của
là do đến
ảnh cuối
hưởng
kiện
gâyô
ra. Trong
nuôi
trồng
thức ănngược
khônglạiănđốihết,
chuyển
hóa
nhiễm
chính
trong
ao,thủy
làm sản,
ảnh hưởng
vớiphân
độngvàvậtsựnuôi
do thiếu
dinh dưỡng là nguồn gốc chủ yếu của sự ô nhiễm nước nuôi thủy sản. Người ta
ôxy
và tắc
cơ quan
Sựthâm
rò rỉcanh
nướctôm
thảithìcũng
ao thức
trêntrìnên
đánh
giá thực
ô nhiễm
trình chuyến
bình thường,
và việc
lột vỏ.
Lượng
chất trạng
thải sinh
ra cónước
liên
quan
với
công
nghệ
sản
xuất
thức
ăn
và
hệ
thống
nuôi
tôm.
tại các khu vực nuôi thủy sản và tìm giải pháp khắc phục, xử lý để cải thiện
Nitơ và photpho là những nguyên tố chủ yếu trong chất thải bắt nguồn
chất
lượng
theo vùng)
các chỉkhác
tiêu
76 -- 80%
chođộtôm
ănbiến
bị thất
thóat
trường.
Các nguồn
của chấthóa
thải hữu cơ là mảnh vụn thực vật phù du hoặc tảo dạng sợi (lab-lab)
và chất lắng đọng hoặc chất hữu cơ hoà tan/huyền phù... là do nước lấy vào
lý cơChất
bản của
nuôi thủy
sản có
trong
cácmột
ao ít
nuôi
mang theo.
thải nước
nuôi thủy
sản còn
chứa
dư vùng
lượngven
củabiển
các Nam
chất
hữu
sẽ làmcó
giảm
Tìm các tác nhân sinh học (các nhóm vi sinh vật, cơ
enzyme)
vaiôxy
trò
hoà tan và tăng BOD, COD, sulíĩt hydrrogen, ammoniac và hàm lượng methan
chuyển
trong vực
nước tự nhiên. Một vấn đề khác do việc nuôi thủy sản gây nên đó là
sự làm hóa
lắngvàđọng
ở các
lân cận,
như rừng
ngập mặn
những nơi
loại bùn
bỏ các
chấtvùng
ô nhiễm,
cải thiện
chất lượng
nướcvà
aoởnuôi.
nước tù.
- Nghiên cứu hoạt động của các tác nhân này trong điều kiện thực của trại
nuôi
Nguồn nước quan tâm chủ yếu là nước ao nuôi tại các trại nuôi tôm sú
vùng
Ninh Thuận, Bình Thuận.
Các chỉ tiêu về chất lượng nước bao gồm: nhiệt độ, pH, clorua, sulphate,
độ
kiềm, độ cứng, amoniac, oxy hòa tan, BOD, COD, nitrit, nitrat và một số
kim
loại nặng.
Tìm kiếm các chủng vi khuẩn, vi nấm và enzyme thích hợp với mục tiêu
xử
lý ô nhiễm.
3
CHƯƠNG MỘT.
TỐNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
Nước và vai trò của nước trong môi trường sinh thái
1.1.1.
Khái niệm về nước
Nước tự nhiên được gọi là Thủy quyển theo nghĩa rộng, nó như là một
môi trường thành phần của sinh thái toàn cầu. Nước là một thành phần môi
sinh rất quan trọng và không thể thiếu được trong hệ sinh thái để duy trì sự
sống, sự trao đổi chất, cân bằng sinh thái trên toàn cầu. Nhưng chính bản thân
nước cũng là một dạng môi trường đầy đủ, nó có hai thành phần chính là H2O
Các dạng môi trường nước trong tự nhiên
1.2.1.
Phân loại môi trường nước
1.2.1.1.
Nước ngọt
Nước là một nhân tố đối với đời sống sinh vật, vì nó là thành phần quan
trọng của chất nguyên sinh, cho nên cả về mặt ý nghĩa và về mặt số lượng, có
thể nói sự sống đều phụ thuộc vào nước. Người ta chia thủy vực nước ngọt làm
hai loại:
+ Thủy vực nước đứng là môi trường tĩnh
+ Thủy vực nước chảy là môi trường động
Nhìn chung, đầm - hồ - ao thuộc các thủy vực nước đứng, đặc điểm
chung của chúng là chịu sự bồi tụ bởi các vật liệu rắn. Còn sông, suối là các
thủy vực nước chảy, đặc điểm chung của chúng là bề mặt lòng sông, suối ngày
càng ăn sâu vào đất do bị xói mòn.
So với biển thì các thủy vực nước ngọt nhỏ hon nhiều, nhưng nó lại vô
cùng quan trọng với đời sống sinh vật và đặc biệt đối với con người như nước
dùng trong sinh hoạt, trong tưới tiêu, nước dùng trong công nghiệp, nước dùng
trong sản xuất điện năng. Nếu con người sử dụng hợp lý nguồn nước ngọt thì
sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho đời sống, ngược lại nước sẽ trở thành yếu tố
giới hạn chủ yếu đối với con người cũng như đối với các loài sinh vật.
Các nhân tố sinh thái đóng vai trò quan trọng trong môi trường nước
ngọt như: nhiệt độ, độ trong, tốc độ dòng chảy, hàm lượng oxy, hàm lượng khí
cacbonic, hàm lượng muối biogen như nitrat và photphat,... bởi vì chúng là
nhân tố giới hạn trong môi trường nước [1].
nhạt có nồng độ muối từ 1 - 5%0, vùng sinh thái nước lợ vừa giới hạn nồng độ
muối từ 5 - 18%0, vùng sinh thái nước lợ mặn có giới hạn nồng độ muối từ 1830%o. Nhìn chung, thành phần hóa học của nước trong vùng sinh thái nước lợ
rất phức tạp, vừa mang đặc tính của vùng sinh thái nước ngọt, vừa mang đặc
tính của vùng sinh thái nước mặn.
ơ vùng nước lợ hàm lượng các chất dinh dưỡng cao, nhiều chất phù sa
lơ lửng, tạo ra nhiều thực vật đơn bào phong phú, nhiều phù phiêu sinh vật,
tôm cá,...
6
1.2.2.
Chu trình nước trong tự nhiên
Nước trong tự[ nhiên luôn vận động và thay đổi trạng thái. Chu trình
nước là sự vận động của nước trên trái đất một cách tự nhiên theo năm dạng:
Mưa - dòng chảy - thấm - bốc hơi - ngưng tụ - mưa
Nước vận động trong chu trình là nhờ bức xạ sóng ngắn của mặt trời tới
mặt đất, chúng bị hấp thụ một phần và chuyển đổi thành nhiệt năng làm cho
những tầng thấp của khí quyển nóng lên. Chính nhờ năng lượng này đã hâm
nóng lớp nước mặt của đại dương và đất liền trong các thể lỏng khác nhau và
làm chúng bốc hơi. Hơi nước bốc lên với không khí nóng tới tầng cao khí
quyển thì ngưng tụ thành mưa hay tuyết lại rơi xuống mặt đất.
Mức độ bốc hơi và ngưng tụ của nước thay đổi theo vĩ độ địa lý. Ở
quanh vùng xích đạo và vùng nhiệt đới lượng mưa trung bình hằng năm lớn
hơn cả, vùng ít mưa nhất là quanh hai cực [1].
1.3.
Tài nguyên nước
Đề nghị
10-30%o
Dao động hàng ngày
phát
kiềm
>80mg CaCOs/lit
Phụ
thuộc
vào
daonuôi
động
củasản.
pH triển ngành kinh tế thủy sản. Thực
Tuy nhiên,
khi triển
đốisản
tượng
(mộtvới
loài
cụ
hiện chuơng
trình phát
triển khai
nuôinuôi
trồngmột
thủy
thời cá
kỳ hoặc
1999tôm
- 2010
mục
trong
30 - 40cm thể
đó.
năm
thực
hiện
chương
trình,
nghề
nuôi
trồng
thủy
sản
đạt
được
nhiều
kết
quả
đạt
khoảng
ha,vực
sản phù
lượng
đích
nuôithác
thủy thủy
sản. sản nội địa tăng trung bình 16,1 %/năm. Kim ngạch xuất
và khai
Ví dụ:
Để nuôi
sú (p.monodon)
thành1999
công,đếnngười
đã thực
khẩu thủy
sản tăng
nhanhtôm
chóng
từ 900 USD năm
2,5 tỉtaUSD
vào
nghiệm
và
xác
định
được
các
giới
Cácdo
thông
số môi trường
cho úng
ao nuôi
tế xã hội
độ khoáng
thấp, phản
trungtôm:
tính hoặc kiềm yếu, thuộc loại
nước mềm.
+ về số lượng các sông ngòi Việt Nam có khả năng cung cấp ổn định
cho các ngành kinh tế một lượng khoảng 100 - 150km3/năm nếu không kể đến
lượng nước từ nước ngoài chảy vào.
1.4.
Chất lượng nước trong nuôi trồng thủy hải sản
1.4.1.
Tiêu chuẩn chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản.
Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường đã ra quyết định số 229/QDTDC này 25/3/1995 ban hành tiêu chuẩn giá trị giới hạn cho phép về nồng độ
các chất ô nhiễm trong nước mặt và nước biển ven bờ áp dụng để đánh giá
mức độ ô nhiễm của một nguồn nước (TCVN 5942 - 1995 và TCVN 5943-
8
vào môi trường nước phụ thuộc vào tính phắng lặng của mặt nước và góc tới
đới khoảng
thể khí
chịuquyển
được và
nhiệt
28°c
tômbềlớn
đối
lượng
giảm 28-30°C.
dần do sựTôm
hấp sú
thụcócủa
vâtđộchất
trên
mặttương
quả đất.
Năng luợng mặt trời được truyền ở hai dạng sóng ánh sáng, ánh sáng khả kiến
chậm, trên 30°c tôm lớn nhanh hơn nhưng rất dễ mắc bệnh, nhất là bệnh MBV
và bất khả kiến.
(Monodon
mànước
Đài Loan
là nạnkhông
nhân hoàn
của tình
nămvào
1987.
Khi baculovirus)
chiếu tới mặt
giảm chậm lại và ổn định ở vùng đáy sâu [8, 19].
1.5.3.
Độ đục, độ trong
Độ đục là khả năng cản những tia nắng mặt trời và độ trong của nước là
khả năng ánh sáng mặt trời xuyên qua nước. Hai tính chất này của nước tỉ lệ
nghịch với nhau và phụ thuộc vào lượng keo khoáng, vật chất hữu cơ lơ lửng,
sự phát triển của các vi tảo, sóng gió thủy triều và lượng nước mưa đổ vào thủy
vực. Ở những thủy vực khác nhau nguyên nhân gây ra độ vẩn đục khác nhau.
Độ đục và độ trong của nước có ảnh hưởng đến cường độ chiếu sáng của
mặt trời vào thủy vực nên có ảnh hưởng đến cường độ quang hợp của thực vật
phù du. Khi độ trong thấp (độ đục cao), lượng ánh sáng xâm nhập vào thủy
vực ít - cường độ quang họp của thực vật phù du giảm. Nhưng độ trong quá
cao, nước nghèo dinh dưỡng, sinh vật phù du phát triển kém, hạn chế thành
11
phần thức ăn tự nhiên của cá, năng suất cá nuôi giảm. Độ trong đuợc đo bằng
đĩa Secchi có đuờng kính bằng 20cm, độ đục đuợc đo bằng độ hấp thụ ánh
sáng hoặc hàm luợng tổng chất rắn lơ lửng.
4- Nguồn gốc độ đục
-
Bên ngoài: nguồn nước, nước rửa trôi, bụi phóng xạ từ không khí.
-
Bên trong: chất lơ lửng nền đáy - tạo ra do chuyển động của dòng nước
và cá; thức ăn thừa, chất thải của tôm cá nuôi [1,5,8].
Màu đỏ gạch (màu đất đỏ): nước có nhiều phù sa đo đất cát bị xói mòn
từ vùng thượng nguồn được dòng nước mang đến vùng hạ lưu.
-
Màu nâu đen: nước có màu nâu đen do trong nước chứa nhiều chất hữu
cơ. Trường hợp này hàm lượng oxy hòa tan rất thấp.
-
Màu trắng đục: nước có màu trắng đục do trong nước có chứa nhiều hạt
keo đất
-
Nước trong: do nước nghèo dinh dưỡng hoặc nước bị nhiễm phèn.
1.5.5.
Mùi
Nước thiên nhiên trong các thủy vực thưòng có mùi do có sự hiện diện
12 cơ hòa tan hay không hòa tan gây ra.
của các vi khuẩn, các hợp chất vô cơ, hừu
Các hợp chất hựu cơ đang bị phân hủy sẽ hình thành các họp chất có mùi rất
khó chịu.
- Mùi tanh và hôi: có vi khuẩn phát triển
giàu dinh dưỡng hay nghèo dinh dưỡng; nước cứng hoặc nước mềm; nước bị ô
nhiễm nặng hay nhẹ,...
13
Chúng ta có gặp trong nước thiên nhiên hầu hết các nguyên tố có trong
vỏ trái đất và trong khí quyển, song chỉ có một số nguyên tố có số lượng đáng
kể, nhiều nguyên tố này ta gọi là thành phần chính của nước thiên nhiên
(nguyên tố đa lượng). Những nguyên tố là thành phần chính của nước thiên
nhiên là: H, o, N, Na, Ca, Mg, I, Cl, S,K, Fe, Mn, Br, Si, p. Ngoài ra, còn có
nhiều nguyên tố khác với số lượng ít hơn (nguyên tố vi lượng): Al, Zn, Cu,
Mo, Co, B,... Nước tự nhiên là dung môi tốt để tan hầu hết các acid, baz và
muối vô cơ.
Ta nhận thấy rằng tổng nồng độ các ion hòa tan trong nước biển cao hơn
so với trong nước sông. Sự hòa tan các chất rắn (ion) trong nước chính là các
yếu tố quyết định độ mặn của nguồn nước. Nồng độ các ion hòa tan càng cao
độ dẫn điện (EC) của nước càng cao. Độ mặn được định nghĩa là tổng chất rắn
hòa tan (TDS) trong nước. Do vậy độ mặn có thể đo bằng đơn vị micro
Siemen/cm (S/cm).
1.6.2. pH
pH là một trong những nhân tố môi trường ảnh hưởng rất lớn trực tiếp
và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống, sinh sản
và dinh dưỡng. pH thích họp thủy sinh vật là 6,5 - 9. Khi pH môi trường quá
cao hay quá thấp đều không thuận lợi cho quá trình phát triển của thủy sinh
vật. Tác động chủ yếu của pH khi quá cáo hay qua thấp là làm thay đổi độ
thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến làm rối loạn quá trình trao đổi muối - nước
giữa cơ thể và môi trường ngoài. Do đó, pH là nhân tố quyết định giới hạn
À'
thủy sinh vật hay quá trình oxy hóa vật chất hữu cơ trong nước và trong nền
đáy ao.
Trong các ao nuôi thủy sản hàm lượng oxy có sự biến động lớn theo ngày
đêm, mức độ biến động phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng và sự phát triển của
thực vật.
Trong ao nuôi thủy sản hàm lượng dinh dưỡng và mật độ thực vật phù du
có khuynh hướng tăng dần vào cuối vụ nuôi, do đó sự biến động hàm lượng
oxy hòa tan theo ngày đêm cũng tăng dần. Đầu vụ nuôi, hàm lượng dinh dưỡng
và mật độ thực vật phù du thấp nên hàm lượng oxy hòa tan thường thấp hơn
mức bão hòa và ít biến động. Càng về cuối vụ nuôi, thực vật phù du phát triển
làm hàm lượng oxy hòa tan biến động mạnh, khi thực vật phù du phát triển qua
mức thì hàm lượng oxy hòa tan xuống thấp nhất
Ý nghĩa sinh thái học của oxy hòa tan trong môi trường nước
Oxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hòa tan trong môi
trường nước. Nó rất cần đối với đời sống sinh vật đặc biệt đối với thủy sinh
vật, vì hệ số khuyếch tán của oxy trong nước nhỏ hơn rất nhiều so với trong
không khí. Theo Krogh (1919) thì hệ số khuy ếch tán của oxy trong không khí
15
là 11 còn trong nước chỉ là 34.10' 6. Do đó, dễ đưa đến hiện tượng thiếu oxy
cục bộ trong thủy vực.
Theo Swingle (1969) thì nồng độ oxy hòa tan trong nước thích hợp cho
tôm cá sinh trưởng, phát triển là 5 mg/1.
1.6.4 Nitrogen (N)
Nitrogen là thành phần cấu thành protein, N là một trong những nguyên tố
quan trọng đối vói đòi sống sinh vật. Nó được thực vật xanh hấp thụ trước hết
là dạng ammonium (NH4+) và dạng nitrate (N03'), nhưng các hợp chất này
thường có rất ít trong các thủy vực. Do đó, trong các thủy vực N thường là
nhân tố giới hạn cho đời sống của thực vật. Sự tạo thành các hợp chất hữu co
phát triển quá mức không có lợi cho tôm, cá (thiếu oxy vào sáng sớm, pH dao
động,...). Theo Boyd (1990) hàm lượng NH 4+ thích họp cho ao nuôi là 0,2 -2
mg/1 [5, 8, 26].
1.6.6.
Nitrite (NO2 ) và nitrate (NO3 )
1.6.6.1. Nitrite
Hàm lượng nitric trong các thủy vực được tạo thành từ quá trình oxy hóa
ammonia và ammonium nhờ hoạt động của nhóm vi khuẩn hóa tổng hợp
Nỉtrosomonas theo phản ứng sau:
NH/ + 3/2 02 -> N02’ + 2H+ + H20 + 76 kcal
Trong điều kiện không có oxy, nhiều loài vi sinh vật có thể sử dụng
nitrate hoặc một số dạng oxy hóa khác của nitrogen (thay vì oxy) như một chất
nhận điện tử trong quá trình hô hấp. Quá trình dị dưỡng này được gọi là khử
nitrate hay hô hấp nitrate, khi đó nitrate bị khử thành nitrite, hyponitrite,
hydroxylamine, ammonia hay N2.
Quá trình này còn được gọi là quá trình phản nitrate hóa, các họp chất
trung gian trong quá trình chuyển hóa thường là những dạng độc nên không có
lợi cho thủy sinh vật
Khi hàm lượng nitrate trong nước cao, nitrite sẽ kết họp với hemoglobin
tạo thành methemoglobin:
Hb + N02' -> Met-Hb
Trong phản ứng này, Fe của hemoglobin bị oxy hóa từ Fe 2+ thành Fe3+,
kết quả hemoglobin không thể kết họp với oxy. Với lý do này, tính độc của
nitrite là làm giảm hoạt tính của hemoglobin hay có thể gọi là thiếu máu. Máu
17
có chứa methemoglobin thường có màu nâu nên còn được gọi là “bệnh máu
thực vật hấp thu cùng với đạm thực vật, đạm này được động vật sử dụng.
Ngoài ra muối hòa tan của phosphorus trong nước cũng bị lớp bùn đáy của
thủy vực hấp thụ (Hepher, 1958). Những lóp bùn đáy chứa nhiều acid hữu cơ
18
hay CaC03 dễ hấp thu mạnh các muối orthophosphate hòa tan trong nước
(Boyd, 1990). Ở môi truờng pH cao có nhiều ion Ca 2+, các muối
orthophosphate hòa tan có thể bị kết tủa duới dạng Ca3(P04)2.
Trong các thủy vực, hàm luợng các muối hòa tan của phosphate (P-PO43")
trong nuớc thuờng rất thấp khoảng 5-30 pg/1 và ít khi vượt quá 200pg/l ngay
cả đối với thủy vực giàu dinh dưỡng. Hàm luợng lân tổng số (Total
Phosphorus -TP) cũng ít khi vuợt quá 1000 pg/1 [3, 9].
1.6.8.
Sắt và Mangan
Trong nước, sắt có thể tồn tại dưới dạng Fe2+ (Ferrous), Fe3+ (ferric), các
hợp chất hữu cơ hòa tan hay không hòa tan. Dạng Fe 2+ thường gây độc đối với
thủy sinh vật, vì quá trình oxy hóa của nó thành Fe 3+ làm tiêu hao nhiều oxy
của môi trường. Dạng Fe3+ không có độc tính như trên nhưng nếu hàm lượng
quá cao cũng không có lợi cho đời sống của thủy sinh vật. Thí dụ, ở hàm lượng
1.5-2 mg/1 nó sẽ ức chế sự phát triển của một số loài thực vật phù du.
Sắt là một trong nhũng nguyên tố rất cần thiết cho sinh vật thủy sinh mặc
dù nhu cầu về nó không lớn lắm. sắt có trong hemoglobin của máu sinh vật
bậc cao và tham gia vào sự vận chuyển oxy vì có khả năng chuyển từ dạng hóa
trị 3 sang dạng hóa trị 2 và ngược lại. Khi thiếu sắt làm cản trở việc hình thành
hemoglobin của máu động vật, thể diệp lục của thực vật, hạn chế sự phát triển
của tảo.
sinh ra chất ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn Vibrỉo.
Yeu tố chính yếu cần thiết cho sự tăng trưởng của phiêu sinh vật gồm:
Carbon, Oxygen, Hydrogen, Phosphor, Nitrogen, Sulfur, Potassium, Sodium,
Calcium, Magnesium, Iron, Manganese, Copper, Zinc, Boron, Cobalt and
Chloride. Phosphors được coi là quan trọng hơn cả về phương diện dinh dưỡng
cho tôm, cá trong ao hồ và việc bón phospho sẽ có lợi nhiều cho phiêu sinh
cũng như tôm cá.
Các vi khuẩn là sinh vật đơn bào có khả năng tăng nhanh về số lượng
trong thời gian ngắn bằng cách phân chia tế bào. Vi khuẩn có vai trò quan
trọng trong ao nuôi là vi sinh vật trong nhóm phân huỷ chất hữu cơ và sử dụng
oxy để hô hấp (hetero-trophs). Kết quả của sự hô hấp này đã tạo được khí C0 2
là chất ảnh hưởng quan trọng đối với chất lượng của nước. Chúng sử dụng tất
cả các chất vô cơ và hữu cơ trong nước để duy trì sự sống [1,9].
1.8.
Ô nhiễm môi trường nước
1.8.1.
Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước
Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, nước sạch là nước không bị ô
nhiễm, mà ô nhiễm nước là sự có mặt của một số chất ngoại lai trong nước tự
nhiên dù chất đó có hại hay không. Khi vượt quá ngưỡng cho phép thì chất đó
sẽ trở nên độc hại đối với con người.
Trong hiến chương Châu Ầu quy định rằng: nước bị ô nhiễm là nước bị
biến đổi về chất và lượng gây nguy hiểm khi dùng trong nông nghiệp, công
21
điểm chung và phụ thuộc vào từng ngành sản suất, quy trình công nghệ.
1.8.2.3.
Nước chảy tràn mặt đất
Khi nước chảy qua mặt đất đồng thời với dòng chảy đã hoà tan và cuốn
theo nó các chất gây ô nhiễm như chất rắn, dầu mỡ, phân bón, thuốc trừ sâu,
chất hữu cơ,... di vào các thuỷ vực.
1.8.2.4.
Ồ nhiễm nước do yếu tố tự nhiên
- Nhiễm phèn: các quá trình phèn hóa trong đất khi gặp nước phèn sẽ loang ra
làm ô nhiễm nguồn nước. Nguồn nước trở nên giàu các chất độc dạng ion Al 3+,
22
- Nhiễm mặn: nước mặn theo thủy triều hoặc từ mỏ muối trong lòng đất khi
hoà lẫn trong môi trường nước làm cho nước bị ô nhiễm clo, natri khá cao.
1.8.2.5.
Ồ nhiễm nguồn nước do các nhóm vi khuẩn gây bệnh
Trong thành phần môi trường nước gồm rất nhiều vi sinh vật, trứng giun
sán,... Người ta chia ra thành ba nhóm: nhóm Coliíòrm (đại diện là E. Coỉi),
nhóm Streptococci (đặc trưng là Streptococcus /('aecalis), nhóm Clostridia khử
sulphite (đặc trưng là Clostridỉum perýringens), phẩy khuẩn tả (Vibrio
choleraè)
1.8.2.6.
Trong quá trình hoạt động, nuôi trồng thủy sản tạo ra các tác động tiêu
cực đối với môi trường như việc dư thừa thức ăn nhân tạo trong quá trình nuôi,
làm thay đổi cấu trúc chuỗi thức ăn tự nhiên của môi trường; làm thay đổi cấu
trúc quần xã động vật đáy do một số nhóm ưa các thức ăn dư thừa này hơn một
số nhóm khác; thêm vào đấy, một số nhóm sinh vật đáy sống cố định có thể bị
24
chết do hàm lượng oxygen trong tầng đáy bị suy giảm do quá trình phân huỷ
của vi sinh vật.
Một trong những tác động lớn của việc nuôi trồng thâm canh các loài thủy
sản đối với môi trường nước xung quanh là hiện tượng phú dưỡng. Các chất
bài tiết, chất thải của vật nuôi cùng với các chất dinh dưỡng trong quá trình
phân huỷ thức ăn dư thừa đã làm cho hàm lượng các chất dinh dưỡng trong
nước cao hơn mức bình thường gây ra hiện tượng nở hoa của các loài tảo. Sự
phát triển quá mức của một số loài tảo giáp có gai có thể cản trở quá trình ăn
lọc của một số loài cá. Mặc dù một số loài tảo phát triển tốt khi hàm lượng chất
dinh dưỡng trong nước cao, tuy nhiên một số loài tảo độc hại khi nở hoa, gây
ra hiện tượng thủy triều đỏ (red tides) có thể gây độc cho các sinh vật khác.
Các chất độc của các loài tảo này có thể được tích tụ trong quá trình ăn lọc của
các loài hai mảnh vỏ, có thể gây nguy hiểm đối với sức khoẻ của con người.
Chất thải trầm tích đáy: một tác động khác rất quan trọng trong quá trình
nuôi ở các ao cao triều là các chất thải từ nền đáy ao nuôi. Vào thời điểm kết
thúc vụ nuôi, một khối lượng lớn bùn trong ao, khoảng 200 tấn/ha/vụ không
qua xử lý đã được thải ra ngoài. Lượng bùn đáy này chứa một lượng lớn các
chất ô nhiễm, thức ăn dư thừa, các sản phẩm bài tiết của vật nuôi thường thải
ra ngoài môi trường không theo qui hoạch hay thường dùng để bồi đắp các đê
bao ao nuôi. Các chất thải trong lượng bùn này sau đó sẽ theo nước mưa đi vào
môi trường nước, làm ô nhiễm môi trường nước tự nhiên hay cả nước trong
dưỡng cho cây cối của lớp đất bề mặt đã bị mất đi,... chuyển đổi hình thức sử
dụng các vùng đất này về mặt môi trường hoàn toàn là một vấn đề nan giải.
* Các chỉ số đánh giá mức độ ô nhiễm của môi trường nước nói chung
và môi trường nước nuôi trồng thủy sản nói riêng: để đánh giá chất lượng nước
cũng như mức độ ô nhiễm nước cần dựa vào một số thông số cơ bản so sánh
với các chỉ tiêu cho phép về thành phần hóa học và sinh học đối với từng loại
nước sử dụng cho các mục đích khác nhau. Các thông số cơ bản để đánh giá
chất lượng nước gồm: pH, màu sắc, độ đục, nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu
cầu oxy sinh học (BOD), oxy hòa tan (DO), chất rắn lơ lửng(SS), nitrate,
nitrite, kim loại nặng, coliíbrm,...
Nguồn nước nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là nuôi tôm sú, tôm thẻ chân
trắng), yêu cầu về chất lượng nước khá nghiêm ngặt, nước không bị ô nhiễm,
26
độ đục thấp, hàm lượng oxy hoà tan trong nước cao, hàm lượng chất hữu cơ
trong nước thấp, hàm lượng các chất độc hại trong nước thấp (thuốc bảo vệ
thực vật, thuốc trừ sâu, H2S,...) nhung qua quá trình khảo sát thực tế từ miền
Bắc đến miền Nam cho thấy nhũng vùng nuôi tôm tập trung dễ bị ô nhiễm
nguồn nước do nước thải từ các ao nuôi chưa xử lý được thải trực tiếp ra môi
trường chứa hàm lượng chất hữu cơ cao, chứa các mầm bệnh tôm, các chất
kháng sinh, hàm lượng vi sinh vật trong nước còn khá cao.
Để sử dụng nguồn nước cho phát triển nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả
cao trước hết ta cần phải đi sâu phân tích các chỉ tiêu hóa, lý, sinh học trong
môi trường nước đó, qua kết quả phân tích ta đánh giá nguồn nước dựa theo
tiêu chuẩn cho phép về nước nuôi trồng thủy sản và đưa ra giải pháp khắc phục
tình trạng nước ô nhiễm [1,4, 26]
1.8.3.
Hậu quả của vấn đề ô nhiễm nước