MỘT số GIẢI PHÁP đổi mới cơ CHẾ QUẢN lý KHOA học và CÔNG NGHỆ ở nước TA TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 33

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong vài thập niên gần đây, khoa học và công nghệ thế giới đã có những
bước phát triển hết sức mạnh mẽ. Thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện do
Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đất nước chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu
rất to lớn trên tất cả các phương diện. Trong đó, hoạt động khoa học và công
nghệ đó cú bước chuyển biến lớn, đạt được một số tiến bộ và kết quả nhất định,
đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng
của đất nước. Tuy nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ của nước ta hiện nay
vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế tri thức trên
thế giới. Cõu hỏi lớn đặt ra là làm thế nào để khoa học và công nghệ nước ta có
thể vươn lên tầm cao hơn nữa, để có thể theo kịp và hội nhập với khoa học công
nghệ thế giới? Vì vậy vấn đề: đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu cấp thiết để khoa học và công
nghệ trở thành động lực thực sự là đòn bẩy cho nền kinh tế ở nước ta trong xu
hướng hội nhập.
II. ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY LÀ MỘT YÊU CẦU TẤT YẾU KHÁCH QUAN

1


1. Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải đổi mới hoạt
động quản lý khoa học và công nghệ
Mặc dù đó cú những tiến bộ nhất định nhưng cơ chế quản lý khoa học và công
nghệ ở nước ta hiện nay còn chưa được đổi mới cơ bản, còn chưa phù hợp với cơ
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với đặc thù của hoạt động khoa học
và công nghệ trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Khoa học và

trong hoạt động quản lý khoa học một cách khoa học và rõ ràng.
- Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ chưa có chiến lược và tầm nhìn tương
ứng dẫn tới đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, gây lãng phí lớn.
- Thực tế 20 năm qua, chóng ta đã và đang tiến hành sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển CNTB đi thẳng lên CNXH nhưng nước ta vẫn
là nước nông nghiệp nghèo nàn với một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, đan xen
3


nhiều phương thức sản xuất: nông nghiệp, công nghiệp và rất Ýt yếu tố hậu công
nghiệp.
Các số liệu lấy từ Viện Thông tin khoa học (ISI) ở Philadelphia theo dõi sự phát
triển khoa học và công nghệ ở các nước trên thế giới, cho thấy:
- Xét về số lượng các công trình khoa học công bố, ta ở sau Thái Lan khoảng 20
năm.
- Xét về chiều hướng phát triển, nếu tiếp diễn tình trạng này, Việt Nam sẽ càng
ngày càng thua kém Thái Lan.
III. MỘT SỐ HẠN CHẾ VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN VỪA QUA.
1.Hoạt động quản lý khoa học và công nghệ thiếu quan điểm toàn diện:

- Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực phát triển đất nước đã được
khẳng định trong các Nghị quyết của Đảng, nhưng chưa được quán triệt đầy đủ
để chuyển thành hành động thực tế của các cấp chính quyền, các Bộ, ngành, địa
phương trong xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội. Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về phát triển khoa học
và công nghệ chậm được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật đáp
ứng nhu cầu đổi mới trong thực tiễn; lãnh đạo các cấp thiếu kiên trì, kiên quyết
trong tổ chức và chỉ đạo thực hiện đổi mới quản lý khoa học và công nghệ.


- Chính sách phát triển khoa học và công nghệ không xuất phát từ yêu cầu thực tế
đòi hỏi của nền kinh tế mà chủ yếu dựa vào định hướng ưu tiên phát triển khoa
học và công nghệ theo ngành và vùng trọng điểm.
- Chưa tách biệt quản lý hành chính nhà nước với hoạt động sự nghiệp dẫn đến
tình trạng các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ. Thiếu cơ chế hữu hiệu về thanh tra, kiểm tra và
quy định trách nhiệm rõ ràng trong hoạt động khoa học và công nghệ.
- Chưa tách biệt giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với cơ quan thực
hiện hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ.
- Trong việc tuyển dụng, đánh giá cán bộ làm công tác khoa học và công nghệ
chưa thực sự khách quan.
- Các chính sách về khoa học và công nghệ được đề ra và thực hiện Ýt có quá
trình phản biện khách quan.
3. Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ hiện nay thiếu quan điểm phát
triển:
6


- Chính sách quản lý về khoa học và công nghệ chưa theo kịp trình độ phát triển
mạnh mẽ của khoa học và công nghệ nên những phát sinh gây lúng túng cho các
cơ quan quan lý.
- Việc chuyển giao và tiếp nhận khoa học và công nghệ thường xuất phát từ yêu
cầu phát triển trước mắt mà chưa theo xu hướng phát triển của khoa học và công
nghệ dẫn tới việc tiếp nhận khoa học và công nghệ đã lạc hậu từ bên ngoài.
- Chưa gắn phát triển khoa học và công nghệ với quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
- Chưa lấy hiệu quả kinh tế, xã hội để đánh giá chất lượng quản lý khoa học và
công nghệ.
- Việc quản lý khoa học và công nghệ chưa tuân theo xu hướng vận động của các
quy luật khách quan.

8


với các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ
quan liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công
nghệ này, lồng ghép với các chương trình kinh tế - xã hội.
+ Hoàn thiện cơ chế xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và
công nghệ của Nhà nước
Xác định rừ cỏc nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên ở các cấp. Cơ quan
quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ các cấp tổ chức việc trao đổi giữa
các viện, trường, doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách để xác định các
nhiệm vụ ưu tiên.
Đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ mang tính ứng dụng, xuất phát từ
nhu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các sản phẩm, thực
hiện cơ chế liên kết giữa tổ chức khoa học và công nghệ với cơ sở áp dụng kết
quả nghiên cứu trong toàn bộ quá trình từ xác định nhiệm vụ, tổ chức thực hiện,
đánh giá và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
+ Đưa nhanh các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ áp dụng vào
thực tiễn sản xuất và đời sống
Cơ quan quản lý khoa học và công nghệ các cấp có trách nhiệm xây dựng và bảo
đảm thực hiện cơ chế đưa nhanh các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ
áp dụng vào thực tiễn. Tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công
nghệ có trách nhiệm thực hiện các quy định về lưu giữ, bảo mật, phổ biến và sử
9


dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ. Các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có trách nhiệm đầu tư cho nghiên cứu và đổi
mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, tăng
cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhà nước ban hành các chính sách

Tự chủ về hoạt động khoa học và công nghệ: các tổ chức khoa học và công
nghệ phải có trách nhiệm thực hiện tốt các nhiệm vụ Nhà nước giao; đồng thời tự
chủ tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ khác theo quy định của pháp
luật (liên kết, hợp tác, ký hợp đồng nghiên cứu và dịch vụ khoa học và công
nghệ, chuyển giao công nghệ v.v...).
Tự chủ về tài chính: Nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động để thực hiện nhiệm
vụ Nhà nước giao theo phương thức khoán chi quỹ lương, hoạt động bộ máy và
kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Các tổ chức này được tự chủ
trong việc sử dụng các nguồn thu khác từ hợp đồng khoa học và công nghệ với
các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài.
11


Tự chủ về quản lý nhân sự: thực hiện phân cấp và trao quyền tự chủ nhân sự
cho tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước trên cơ sở thực hiện chế độ
viên chức và hợp đồng lao động đối với cán bộ khoa học và công nghệ. Cơ chế tự
chủ về quản lý nhân sự được quy định cụ thể trong mục 4 "Đổi mới quản lý nhân
lực khoa học và công nghệ" dưới đây.
Tự chủ về quan hệ hợp tác quốc tế: phân cấp mạnh hơn nữa cho các tổ chức
khoa học và công nghệ trong việc cử cán bộ khoa học và công nghệ ra nước
ngoài, thuê chuyên gia nước ngoài thực hiện nghiên cứu, đào tạo, tư vấn khoa
học và công nghệ và đảm nhiệm chức vụ quản lý trong các tổ chức khoa học và
công nghệ thuộc các lĩnh vực do Nhà nước quy định.
Nhà nước giao cho người đứng đầu các tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện
quyền tự chủ và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của tổ chức.
+ Chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang hoạt
động theo cơ chế doanh nghiệp
Chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ có sản phẩm
gắn với thị trường sang hoạt động theo một trong các hình thức sau: doanh
nghiệp khoa học và công nghệ; doanh nghiệp; tổ chức khoa học và công nghệ tự

dụng kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh.
2. Nhóm giải pháp dựa trên quan điểm phát triển:
a. Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động khoa học và
công nghệ
Đổi mới cơ chế, chính sách tài chính nhằm: tăng nguồn tài chính ngoài ngân sách
nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ; nâng cao hiệu quả đầu tư của
Nhà nước cho khoa học và công nghệ; tạo động lực cho tổ chức và cá nhân hoạt
động khoa học và công nghệ.
+ Đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ
Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế và chính sách tài chính khuyến khích doanh
nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ quy định trong Nghị định số
119/1999/NĐ-CP của Chính phủ. Khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ
phát triển khoa học và công nghệ để thực hiện nghiên cứu, ứng dụng kết quả
nghiên cứu phục vụ đổi mới công nghệ và sản phẩm; doanh nghiệp được khấu
hao nhanh đối với tài sản, thiết bị, máy móc; được vay vốn với lãi xuất ưu đãi tại
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, các Quỹ phát triển khoa học và
công nghệ của Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để tiến hành hoạt động
nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ. Ưu tiên nguồn vốn ODA đầu tư
phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học
14


và công nghệ trọng điểm quốc gia, như: các tổ chức nghiên cứu và phát triển
trọng điểm, các phòng thí nghiệm trọng điểm, các khu công nghệ cao.
+ Đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho hoạt
động khoa học và công nghệ
Ngân sách nhà nước tập trung đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm được xác định
trong Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ, các lĩnh vực nghiên cứu cơ
bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách và những lĩnh vực công ích do Nhà nước
quy định. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực doanh

định cư ở nước ngoài tham gia phát triển khoa học và công nghệ của đất nước. áp
dụng mức thu nhập đặc biệt đối với cán bộ chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học
và công nghệ có tầm quan trọng đặc biệt trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh,
phát triển kinh tế - xã hội. Cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ, năng lực
chuyên môn ngang bằng chuyên gia nước ngoài, cùng vị trí công tác trong các dự
16


án hợp tác, được hưởng mức thu nhập tương đương với mức thu nhập bình quân
do các tổ chức quốc tế, nước ngoài trả cho người Việt Nam.
+ Tăng cường đào tạo và đào tạo lại nhân lực khoa học và công nghệ
Tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích mở các trường đại học, viện nghiên cứu
quốc tế hoặc khu vực tại Việt Nam. Thu hỳt các viện nghiên cứu, trường đại học
có uy tín của nước ngoài liên kết hoặc mở phân viện, phân hiệu hoặc tổ chức các
chương trình đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ tại Việt Nam. Khuyến
khớch các thành phần kinh tế tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo nhân lực
khoa học và công nghệ, nhất là khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài.
+ Thu hút chuyên gia nước ngoài phục vụ phát triển khoa học và công nghệ
Ban hành chính sách thu hút chuyên gia giỏi là người Việt Nam ở nước ngoài và
chuyên gia nước ngoài tới Việt Nam tham gia công tác đào tạo cán bộ nghiên
cứu, giảng dạy, tư vấn, giữ các chức vụ quản lý nghiên cứu khoa học và công
nghệ.
c. Phát triển thị trường khoa học và công nghệ
+ Gắn kết đổi mới cơ chế, chính sách kinh tế, xã hội với thúc đẩy tiến bộ khoa
học và công nghệ và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất
và đời sống
17



nhân được trao quyền sử dụng, đặc biệt khi kết quả nghiên cứu có giá trị kinh tế,
xã hội lớn. Sau thời hạn quy định, nếu kết quả nghiên cứu không được áp dụng
thực tiễn hoặc thương mại hoá, cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công
nghệ có thẩm quyền sử dụng dưới dạng hàng hoá, dịch vụ công.
d. Xây dựng cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp thu hút mọi hình thức
lực lượng khoa học và công nghệ trong nước cho việc đổi mới khoa học và
công nghệ như một tiêu chuẩn để đỏnh giá chất lượng doanh nghiệp.
+ Thực tế có rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang đi tìm hướng phát triển cho
doanh nghiệp của mình thông qua triển khai việc nghiên cứu khoa học và công
nghệ hoặc đổi mới khoa học và công nghệ bằng việc mua các bản quyền khoa
học và công nghệ. Trong khi có nhiều công trình công trình khoa học trong nước
sau khi nghiên cứu xong trong phòng thí nghiệm thiếu vốn để triển khai ứng
19


dụng. Điều nay đã gây ra lãng phí rất lớn. Do đó nếu có cơ chế ứng dụng thử tại
doanh nghiệp với sự hỗ trợ về tài chính không chỉ từ NSNN mà còn có thể cả
doanh nhiệp nếu như họ nhận được ưu đãi từ kết quả nghiêm cứu và ứng dụng thì
một phần nào sẽ thoát ra được tình trạng trì trệ về KHCN như hiện nay.
e. Xây dựng cơ chế thu hút và liên kết lực lượng khoa học và công nghệ đã
có sẵn ở nước ta thông qua các doanh nghiệp cã vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài và lực lượng khoa học và công nghệ là Việt Kiều.
+ Trong thị trường phân công lao động quốc tế nh hiện nay, các nước chậm phát
triển nh nước ta vẫn đang nắm ưu thế về nhân công lao động rẻ, đất đai và các
nguồn lực từ thiên nhiên sẵn có. Hiện nay dong chảy ngày càng tăng nguồn vốn
FDI, sẽ là dòng chảy các công nghệ cao vào nước ta. Các nước đầu tư vào nước
ta họ còn tận dụng lực lượng lao động có tay nghề cao đã được đào tạo cơ bản
chúng ta có thể kết hợp với họ để “ nội địa hoá trí thức”. Ngoài ra chóng ta đang
có một lực lượng lớn các nhà trí trức là người Việt đang sinh sống và làm việc tại
các nước phát triển trên thế giới. Nếu chúng ta có thể thiết lập một cơ chế đãi ngộ



Học viện ngân hàng

----------

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
(Đối tượng đào tạo cao học)

24


Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

HỌ TÊN: HÀ ANH VÒ
LÍP: CAO HỌC 10C

Hà Nội, tháng 6 năm 2009

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status