MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chương 1. Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI HIỆN NAY .............................................. 9
1.1. Ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam ....................................... 9
1.1.1. Khái niệm ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam ........... 9
1.1.2. Nội dung biểu hiện ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt
Nam hiện nay ................................................................................... 16
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân Việt
Nam hiện nay ................................................................................... 27
1.2.1. Do yêu cầu thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và
yêu cầu của sự nghiệp đổi mới ......................................................... 28
1.2.2. Do yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp
công nghiêp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ......................... 29
1.2.3. Do yêu cầu tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân
đối với khối liên minh công - nông - trí và các tầng lớp nhân dân
lao động ................................................................................................ 31
1.2.4. Xuất phát từ vai trò định hướng của ý thức chính trị đối với mọi
hoạt động của công nhân; từ vai trò của công tác lý luận đến
thực trạng yếu kém về ý thức chính trị của một bộ phận công
nhân Việt Nam ................................................................................. 32
Chương 2. THỰC TRẠNG Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG
NHÂN TỈNH YÊN BÁI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI HIỆN NAY ........ 35
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái ........ 35
2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên........................................................ 35
2.1.2. Khái quát về kinh tế - xã hội ............................................................ 37
2.2. Ý thức chính trị của đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi
mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .................................. 41
2.2.1. Vài nét về đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái ..................................... 41
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 109
DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT
CNH, HĐH:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
CNXHKH:
Chủ nghĩa xã hội khoa học
CNCS:
Chủ nghĩa cộng sản
GCCN:
Giai cấp công nhân
TBCN:
Tư bản chủ nghĩa
XHCN:
Tại Hội nghị lần Sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X; Đảng ta
đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công
nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Nghị quyết đã một lần nữa khẳng định sứ mệnh lịch sử to lớn của giai cấp
1
công nhân Việt Nam: “Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn:
là giai cấp lãnh đạo cách mạng ” [15, tr.43-44].
Thực tiễn những năm đổi mới vừa qua cho thấy Đảng ta liên tục khẳng
đinh vai trò, vị thế của giai cấp công nhân Việt Nam trong tiến trình phát triển
đất nước. Hơn bao giờ hết việc nâng cao trình độ mọi mặt cho giai cấp công
nhân Việt Nam hiện nay là điều hết sức cần thiết nó hoàn toàn phù hợp với lý
luận của Đảng và thực tiễn đất nước ta hiện nay.
Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có
nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, có vị trí chiến lược về chính trị, quốc
phòng, an ninh. Đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái đã có sự phát triển về nhiều
mặt góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh
nhà. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan đội ngũ công
nhân tỉnh Yên Bái còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, trình độ chuyên
môn, tay nghề còn thấp làm việc chủ yếu trong các lĩnh vực nặng nhọc, độc
hại như công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác.
Công nghiệp tỉnh Yên Bái nhìn chung trong những năm qua đã có sự
phát triển nhưng còn nhỏ bé, yếu kém đa số là công nghiệp chế biến gỗ, khai
thác đá, khai thác quặng sắt. Các khu chế xuất, khu công nghiệp cao như công
nghệ điện tử, công nghệ thông tin hầu như chưa có. Vì vậy để đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như để tỉnh nhà phát
triển hơn trong tương lai, vấn đề xây dựng, phát triển đội ngũ công nhân có ý
nghĩa quan trọng đặc biệt. Trong đó nâng cao ý thức chính trị cho bản thân
hoạt động của Công đoàn trong tình hình mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá VII (1994): Về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công
nhân trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá X (2008): Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Cũng đã có nhiều công trình khoa học đã được in thành sách như:
“Giai cấp công nhân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” của
PGS.TS Dương Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004. Công trình
này đã trình bày khá toàn diện về thực trạng xu hướng biến đổi của giai cấp
3
công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
từ đó tác giả đưa ra quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải
pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam.
“Xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước” do TS. Đặng Ngọc Tùng (chủ biên), Nxb Lao
động. Tác giả đã bàn đến một số vấn đề lý luận về giai cấp công nhân, cho
người đọc cái nhìn chung nhất về giai cấp công nhân Việt Nam trong những
năm đổi mới, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
“Tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt
Nam” do PGS. TS. Đỗ Ngọc Ninh, TS. Nguyễn Văn Giang (đồng chủ biên),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008. Các tác giả đã bàn đến những vấn đề
chủ yếu về bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản, bản chất giai cấp công nhân
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới cũng như vấn đề tăng
“Ý thức chính trị của công nhân trong một số doanh nghiệp ở Hà Nội
hiện nay” đây là cuốn sách do PGS.TS Phan Thanh Khôi làm chủ biên, xuất
bản năm 2003. Cuốn sách đã tập trung làm rõ một số vấn đề về GCCN nói
chung và đội ngũ công nhân Hà Nội nói riêng, những biểu hiện về ý thức
chính trị của GCCN, thực trạng ý thức chính trị của công nhân thành phố Hà
Nội, đưa ra những quan điểm và giải pháp để nâng cao ý thức chính trị cho
đội ngũ công nhân Hà Nội hiện nay.
Luận án tiến sĩ: “Ý thức chính trị của công nhân trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta hiện nay” của tác giả Dương Thị
Thanh Xuân năm 2007. Luận án đã làm rõ thực trạng ý thức chính trị của
công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện
nay, đồng thời đưa ra một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao ý thức
chính trị cho công nhân có vốn đầu tư nước ngoài.
Riêng với tỉnh Yên Bái, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân
dân tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh cũng đã tiến hành khảo sát đưa ra những
đánh giá bước đầu nhằm xây dựng đội ngũ công nhân tỉnh nhà vững mạnh,
tuy nhiên nhìn chung chưa có công trình khoa học nào thực sự đi sâu vào vấn
đề nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ
đổi mới hiện nay.
5
Chính vì vậy việc triển khai và thực hiện đề tài “Nâng cao ý thức
chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới hiện
nay” sẽ góp phần đóng góp quan trọng cho sự phát triển toàn diện của đội ngũ
công nhân tỉnh nhà.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn là: trên cơ sở phân tích thực trạng, đánh giá
đúng đắn tình hình ý thức chính trị của đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái đi tới
nhân, về CNH, HĐH. Đồng thời, luận văn có kế thừa và sử dụng kết quả
nghiên cứu của một số công trình khoa học có liên quan.
* Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
như là phương pháp luận chung. Phương pháp nghiên cứu đặc thù của
CNXHKH tiếp cận, giải quyết vấn đề từ góc độ chính trị - xã hội.
Ngoài ra, luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp cụ thể khác như:
khảo sát, điều tra xã hội học, thống kê, phân tích - tổng hợp… để làm sáng tỏ
vấn đề đặt ra.
6. Cái mới và những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Nghiên cứu một cách khoa học có hệ thống về vấn đề ý thức chính trị,
thực trạng ý thức chính trị của đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái.
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức chính trị cho
đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
Kết qua nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu giảng dạy, học tập ở trường Chính trị, trường Trung cấp, Cao
7
đẳng Nghề, các cơ quan tổ chức làm công tác Công đoàn trong toàn tỉnh Yên
Bái. Đồng thời là cơ sở cho việc hoạch định chính sách, giải pháp nhằm nâng
cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái, góp phần phát triển
toàn diện đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái.
7. Kết cấu chính của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết:
Chương 1: Ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới hiện nay.
Chương 2: Thực trạng ý thức chính trị của đội ngũ công nhân tỉnh Yên
thường là những quan điểm, quan niệm, tri thức được hình thành trực tiếp qua
hoạt động thực tiễn được hệ thống lại, chưa được khái quát hóa. Ý thức lý
luận đã được hệ thống, khái quát hóa thành những khái niêm, phạm trù, quy
luật.
Ý thức xã hội mang tính giai cấp. Các giai cấp có những điều kiện sinh
hoạt vật chất khác nhau, những lợi ích khác nhau nên ý thức xã hội cũng
9
không giống nhau. Thậm chí là mâu thuẫn đối kháng trong đó ý thức xã hội
của giai cấp thống trị (giai cấp nắm tư liệu sản xuất) sẽ là tư tưởng chủ đạo
của thời đại đó, xã hội đó.
Ý thức xã hội và tồn tại xã hội có mối quan hệ biện chứng qua lại. Ý
thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội quyết định. “…không
thể nhận định được về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời
đại ấy”; “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại,
tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [32, tr.15].
Ý thức xã hội do tồn tại xã hội quyết định song ý thức xã hội có sự độc
lập tương đối, thậm chí tác động trở lại tồn tại xã hội. Ý thức xã hội thường
lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội song ý thức xã hội cũng có thể vượt trước tồn
tại xã hội - dự báo được xu hướng vận động, phát triển của xã hội nhưng
không thể thoát ly tồn tại xã hội mà phải trên cơ sở tồn tại xã hội. Ý thức xã
hội cũng có tính kế thừa trong sự phát triển của mình và có sự tác động qua
lại giữa các hình thái ý thức xã hội.
Từ những quan điểm về ý thức xã hội ta có thể thấy ý thức chính trị là
một hình thái ý thức xã hội, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội. Vì nó
phản ánh mọi mặt của đời sống chính trị, đời sống xã hội nên phải có sự nhìn
nhận đánh giá về mức độ dân chủ, về cơ chế hoạt động của nhà nước. Ý thức
chính trị cũng là sự nhìn nhận, thái độ, đánh giá cơ cấu, cơ chế hoạt động của
Ý thức chính trị theo PGS.TS Phan Thanh khôi là “thái độ đối với các
thể chế chính trị (nhà nước, đảng phái…); là nhận thức về những nội dung
chính trị quan trọng (chế độ chính trị, đường lối chính sách… phát triển quốc
gia); là sự hiểu biết về mình với tư cách là một giai cấp, trong quan hệ với các
giai cấp, tầng lớp cơ bản (kẻ thù, bạn đồng minh…); dân tộc nảy sinh từ quá
trình xây dựng chế độ chính trị của một đất nước” [20, tr.14].
Tác giả Dương Thị Thanh Xuân trong luận án tiến sĩ của mình cho rằng
“Ý thức chính trị - một bộ phận của ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp, là
hệ thống quan điểm, lý luận, thái độ của một giai cấp về địa vị lịch sử, nhiệm
vụ chính trị, sách lược của giai cấp mình trong tiến trình phát triển của lịch
sử” [53, tr.19].
Ý thức chính trị căn cứ vào trình độ phát triển gồm hai cấp độ là ý thức
chính trị thông thường và ý thức chính trị ở cấp độ lý luận.
11
Ý thức chính trị thông thường là các dạng tâm lý, cảm xúc, tình cảm,
ước mơ mong muốn… tự phát sinh ra trong hoạt động thực tiễn.
Ý thức chính trị lý luận được biểu hiện là những tư tưởng, quan điểm
chính trị đã được hệ thống hóa thành một chỉnh thể mang tính khoa học, hợp
lý phản ánh được các mối liên hệ bản chất, tất yếu, phổ biến trong đời sống
chính trị.
Ý thức chính trị thông thường và ý thức chính trị lý luận có mối quan
hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại nhau. Ý thức chính trị thông thường
là cơ sở, kho tàng để ý thức chính trị lý luận khai thác, khái quát nội dung của
mình giúp cho hệ tư tưởng, lý luận bớt sơ cứng, bớt sai lầm. Ngược lại ý thức
chính trị lý luận củng cố, định hướng tâm lý cho ý thức chính trị thông
thường.
Theo căn cứ vào chủ thể mang ý thức chính trị, thì ý thức chính trị gồm
thành những tư tưởng chính trị một cách có hệ thống, có tính lý luận, khoa
học dưới dạng học thuyết.
Từ vấn đề ý thức chính trị để tìm hiểu ý thức chính trị của GCCN. Ta
phải đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin về GCCN.
Sinh thời Mác, Ăngghen sử dụng rất nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ
GCCN như “Giai cấp vô sản”, “Giai cấp lao động làm thuê”, “Giai cấp lao
động làm thuê ở thế kỷ XIX”, “Giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ dựa vào việc bán
sức lao động của mình”, “Giai cấp vô sản hiện đại”, “Giai cấp công nhân”,
“Giai cấp công nhân hiện đại”, “Công nhân công nghiệp”, “Công nhân khai
khoáng”, Công nhân đại công nghiệp”… Hai ông đã nghiên cứu sâu về GCCN,
vô sản để chỉ ra nguồn gốc, đặc trưng, thuộc tính cơ bản của giai cấp này.
“Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán
sức lao động của mình, chứ không sống dựa vào lợi nhuận của bất cứ số tư
bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ
sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào yêu cầu về lao động, tức là vào tình
hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những biến động của
cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai
cấp của những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX. Giai cấp
vô sản do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra” [29, tr.456-457].
13
Lênin cũng đã bổ sung phát triển quan điểm của Mác, Ăngghen và chỉ
ra rằng GCCN “Là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã
hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội
mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp. Xu
hướng phát triển của giai cấp vô sản là đi tới chỗ tự thủ tiêu mình với tư cách
là giai cấp vô sản” [40, tr.34].
Trên cơ sở những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về
quan điểm về GCCN Việt Nam như sau: “GCCN Việt Nam là một lực lượng
xã hội to lớn, đang phát triển bao gồm những người lao động chân tay và trí
óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ
công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”
[15, tr.43].
Đứng trên lập trường duy vật biện chứng về một loạt các vấn đề: ý thức
xã hội, ý thức chính trị, GCCN. Ta có thể chỉ ra được rằng ý thức chính trị
của GCCN chính là tư tưởng, thái độ chính trị của GCCN dựa trên cơ sở thế
giới quan, nhân sinh quan Mác xít, được hình thành và phát triển trong phong
trào đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giành chính quyền và
tiến hành xây dưng xã hội mới - XHXHCN.
Từ những nhận thức ở trên, tác giả mạnh dạn đưa ra quan niệm của
mình về ý thức chính trị của GCCN Việt Nam như sau:
Ý thức chính trị của GCCN Việt Nam là những tư tưởng, quan điểm, thái
độ chính trị của GCCN Việt Nam dựa trên học thuyết của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó
được hình thành trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc
và trong thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay.
Ý thức chính trị của GCCN Việt Nam chính là sự giác ngộ và tự ý thức về giai
cấp mình, quyền và nghĩa vụ của GCCN, là sự nhận thức đối với các cơ quan
trong hệ thống chính trị, là thái độ đối với sự nghiệp đổi mới, với các giai cấp
tầng lớp và dân tộc Việt Nam. Đồng thời ý thức chính trị của GCCN Việt Nam
cũng là sự nhận thức về CNXH, con đường đi CNXH ở Việt Nam cũng như
trên phạm vi thế giới, có tinh thần quốc tế trong sáng, cao đẹp… nhằm thực
hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
15
1.1.2. Nội dung biểu hiện ý thức chính trị của giai cấp công nhân
Việt Nam hiện nay
Đồng thời GCCN Việt Nam cũng phải thấy được giai cấp mình là giai cấp nòng
cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.
Có giác ngộ giai cấp là GCCN Việt Nam thấy được thực chất giai cấp
mình là gì, tức là phải thấy được GCCN đại diện cho lực lượng sản xuất hiện
đại; gắn với nền sản xuất công nghiệp tạo ra phần lớn của cải cho xã hội; có
sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất,
xây dựng thành công CNXH và cuối cùng là thực hiện lý tưởng CSCN. Trong
thời kỳ hiện nay sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam là lực lượng đi đầu
trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; tạo ra nhiều của cải cho xã hội; góp
phần thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”.
GCCN Việt Nam phải thấy được rằng giai cấp mình hoàn toàn có thể
thực hiện được những điều này, vì có lý luận khoa học, cách mạng, nhân văn
nhân đạo của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối.
Có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Biểu hiện ý thức chính trị của
GCCN Việt Nam phải thể hiện ra là sự tin tưởng tuyệt đối, hoàn toàn vào con
đường Đảng, Bác Hồ đã chọn. Và như vậy với những phẩm chất của mình (đã
trình bày ở trên) GCCN Việt Nam phải thể hiện được sự giác ngộ về giai cấp
cao nhất, rõ ràng nhất.
Giác ngộ về giai cấp của GCCN Việt Nam cũng biểu hiện ở sự hiểu
biết của giai cấp mình về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về
đường lối của Đảng. Bao gồm những vấn đề như ba bộ phận cấu thành chủ
nghĩa Mác-Lênin, vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp, nhà nước, dân tộc, tôn
giáo, đặc biệt nhận thức về CNXH, CNCS. Hiểu được tư tưởng và tấm gương
đạo đức của Hồ Chí Minh, tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tư
tưởng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, tư tưởng về đạo
đức cách mạng, tấm gương cần - kiệm - liêm - chính, chí công vô tư của
người, hưởng hứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh” của Đảng ta… Luôn đi đầu gương mẫu thực hiện đường lối,
Đảng trước hết là của GCCN Việt Nam, nhưng không phải người công nhân
nào cũng đứng trong hàng ngũ của Đảng mà phải là những người công nhân
ưu tú nhất. Vì vậy mỗi người công nhân hãy không ngừng rèn luyện, không
ngừng phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ trung kiên, là người công nhân
trung kiên, là người Đảng viên mẫu mực. Cùng với đó người công nhân phải
18
nhận thức được rằng Đảng cũng là của nhân dân lao động và của cả dân tộc
Việt Nam. Ai đủ đức, đủ tài đều có thể phấn đấu vào Đảng không phân biệt
nam, nữ, dân tôc, tôn giáo… để cùng nhau thực hiện những lý tưởng cao đẹp.
Có ý thức chính trị cũng là khi người công nhân đấu tranh chống các
biểu hiện chống phá Đảng, nói xấu, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Xác
định rõ được Đảng ta là Đảng cầm quyền, Đảng ta nhất định sẽ lãnh đạo nhân
dân ta, dân tộc ta đi đến những thắng lợi cuối cùng.
GCCN Việt Nam chỉ có thể có ý thức chính trị khi có những hiểu biết
nhất định về nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thấy được nhà nước ta là
nhà nước của dân, do dân và vì dân. Thấy được nhà nước ta là nhà nước mang
bản chất của GCCN (người lao động), hoàn toàn khác bản chất của nhà nước
tư sản. Nhà nước ta quản lý xã hội bằng pháp luật, tập trung dân chủ là
nguyên tắc tổ chức cao nhất. Tổ chức của nhà nước là sự thống nhất của ba
quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Người công nhân có ý thức chính trị
còn là thấy được những ưu khuyết điểm, những thành tựu, hạn chế của nhà
nước ta, kiên quyết góp phần tham gia đấu tranh chống các hiện tượng tiêu
cực như tham nhũng, quan liêu…
Trong các tổ chức chính trị - xã hội của nhà nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam, GCCN Việt Nam phải đặc biệt có nhận thức đúng đắn về tổ chức
Công đoàn (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam), là cơ quan bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho người lao động, là “sợi chỉ đỏ” nối liền Đảng Cộng sản
Việt Nam ngày càng được nâng cao. Thế giới biết nhiều hơn về Việt Nam, và
chúng ta có quyền tự hào là người Việt Nam, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh
đạo của Đảng, cũng như tin tưởng vào những thành công mà Đảng Cộng sản
Việt Nam đã và sẽ mang tới cho đất nước ta trong quá khứ, ở hiện tại và
tương lai.
Người công nhân có ý thức chính trị phải thấy được vai trò, trách
nhiệm của giai cấp mình đối với sự nghiệp đổi mới, đấu tranh chống các tư
tưởng bảo thủ, trì trệ, phủ nhận đổi mới…
Ý thức chính trị của giai cấp công Việt Nam ở vấn đề này còn là thái độ
của GCCN với các hiện tượng tiêu cực, các tệ nạn xã hội.
Thực tế đây là những mặt trái của sự nghiệp đổi mới, mặt trái của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo tác giả đây không phải là một vấn
20
đề nhỏ. Công nhân là người trực tiếp lao động sản xuất, hoạt động thực tiễn,
đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH. Nếu không có thái độ đúng đối với những
hiện tượng, vấn đề này thì rất dễ lầm lạc, hư hỏng, mắc phải các tệ nạn xã hội
thậm trí dẫn đến tiêu cực, không tin tưởng vào chế độ.
Cùng với những thành tựu đã đạt được, đất nước ta cũng phải đối mặt
với không ít những khó khăn, thử thách có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn
vong của chế độ. Đó là những tiêu cực xã hội như: Tham nhũng - được coi là
một thứ giặc “nội xâm”, là một trong bốn nguy cơ gây chệch hướng CNXH;
nạn chuyên quyền, độc đoán, quan liêu, hách dịch, xa dân, coi thường dân…
của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tình trạng làm hàng giả, hàng nhái, buôn
lậu tràn lan bất chấp tính mạng con người. Sự gia tăng của các tệ nạn xã hội
như cờ bạc, trộm cắp, ma túy, mại dâm, sự phân hóa giàu nghèo, tai nạn giao
thông…
Trước những hiện tượng tiêu cực, những tệ nạn xã hội; người công
thủ những quy định của tổ chức Công đoàn, ngành, địa phương nêu ra với tư
cách là một công dân. Có ý thức chính trị chính là người công nhân phải
không ngừng học tập, tìm hiểu Luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Doanh
nghiệp… để từ đó thấy rõ hơn quyền và nghĩa vụ chính trị của giai cấp mình.
Bốn là, thái độ của GCCN Việt Nam đối với các giai cấp, tầng lớp
trong xã hội và thái độ đối với người sử dụng lao động, giới chủ (doanh
nghiệp ngoài quốc doanh).
Người công nhân có ý thức chính trị, khi có thái độ đúng đắn đối với
các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Đặc biệt là đối với giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức. Đây là một nội dung quan trọng, có nhận thức đúng mới có
hành động đúng, mới tạo thành khối liên minh công - nông - trí vững chắc,
góp phần tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Có ý thức chính trị khi GCCN thấy được rằng đất nước ta đang trong
thời kỳ quá độ, thời kỳ sẽ còn tồn tại nhiều giai cấp và tầng lớp… GCCN phải
là giai cấp giữ vai trò lãnh đạo, quyết định xu hướng phát triển của xã hội.
Nông dân, trí thức là những giai cấp, tầng lớp cơ bản là động lực của CNXH,
cùng với các giai cấp tầng lớp khác tạo thành khối thống nhất toàn dân tộc.
Người công nhân phải thấy được tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của
người nông dân, có tình cảm yêu quý người nông dân. Thấy được mối quan
hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp từ đó tăng cường sự gần gũi, tiếp xúc.
22