Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước - Pdf 33

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU……………………………………………………………………................1
1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………………………..1
2. Lịch sử vấn đề………………………………………………………………………..2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………………………....8
4. Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………………….............8
5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………..8
6. Đóng góp của luận án……………………………………………………………….10
7. Kết cấu của luận án…………………………………………………………………11

CHƯƠNG 1: Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ
cuối thế kỷ XIX trở về trước từ góc nhìn thể loại và từ đặc điểm tư liệu,
hệ thống truyện………………………………………………………………….12
1.1. Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX
trở về trước từ góc nhìn thể loại………………………………………………...12
1.1.1. Thể loại truyền thuyết…………………………………………………………..12
1.1.1.1. Khái niệm……………………………………………………………………..12
1.1.1.2. Phân loại truyền thuyết………………………………………………………..18
1.1.2. Thể loại giai thoại……………………………………………………………….19
1.1.2.1. Việc nghiên cứu về giai thoại…………………………………………………19
1.1.2.2. Về thuật ngữ giai thoại ……………………………………………………….21
1.1.2.3. Giai thoại là một thể loại văn học dân gian.......................................................21
1.1.3. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử..27
1.1.3.1. Những điểm tương đồng……………………………………………………...27
1.1.3.2. Những điểm khác biệt………………………………………………………...28
1.2. Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX
trở về trước từ đặc điểm tư liệu. hệ thống truyện…………………………………31
1.2.1. Khái niệm Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ

3.2.2. Những tình tiết, môtíp của các nhóm truyện.......................................................75
3.2.3. Miêu tả những tình tiết, môtíp của các nhóm truyện...........................................77
3.2.3.1 Truyền thuyết về người anh hùng mở cõi, chống nạn xâm lấn từ giai đoạn
trước khi thực dân Pháp xâm lược trở về trước....................................................77
3.2.3.2. Truyền thuyết về người anh hùng khởi nghĩa chống Pháp đến cuối thế kỷ XIX........82
3.2.4. Nhận xét kết quả miêu tả....................................................................................111
3.3. Giá trị nội dung của hệ thống truyện……………………….................................112
3.3.1. Sự phản ảnh một mặt tiến trình lịch sử Nam Bộ gắn với hình tượng
người anh hùng chống ngoại xâm………………………..................................112
3.3.2. Một hiện tượng văn học dân gian độc đáo gắn với lịch sử................................114
CHƯƠNG 4: Truyền thuyết về nhân vật Nguyễn Ánh.......………………………….116
4.1. Khái quát hệ thống truyện……………………………………………………….116
4.2. Đặc điểm cấu tạo...................................................................................................117
4.2.1. Mô hình cốt truyện.............................................................................................117
4.2.2. Những tình tiết, môtíp của hệ thống truyện.......................................................118
4.2.3. Miêu tả những tình tiết, môtíp của hệ thống truyện..........................................119
4.3. Giá trị nội dung của hệ thống truyện……………………….................................133
4.3.1. Sự thể hiện thái độ tình cảm của người dân Nam Bộ đối với Nguyễn Ánh…...133
4.3.2. Ý nghĩa văn hóa……………………………………………………………….136
4.3.3. Về vấn đề “Gia Long phục quốc” (khôi phục cơ đồ)………………………….137
CHƯƠNG 5: Giai thoại về những danh nhân, danh sĩ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX
trở về trước............................................................................................................140
5.1. Khái quát hệ thống truyện……………………………………………………….140
5.2. Đặc điểm cấu tạo...................................................................................................142
5.2.1. Mô hình cốt truyện.............................................................................................142
5.2.2. Những tình tiết, môtíp của hệ thống truyện………….......................................143
5.2.3. Miêu tả những tình tiết, môtíp của hệ thống truyện...........................................144
5.3. Giá trị nội dung của hệ thống truyện……………………….................................163
5.3.1. Sự ngợi ca những con người “dệt gấm thêu hoa”, xây dựng nên những
biểu tượng văn hoá Nam Bộ……........................................................................163

2. Tiếp cận với Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ
cuối thế kỷ XIX trở về trước, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ tiếp tục tìm hiểu đặc trưng của
truyền thuyết và đặc trưng của giai thoại và mối quan hệ, chuyển hóa lẫn nhau của hai
đối tượng này trong thời kỳ cận đại và tại vùng đất Nam Bộ. Đây là thời kỳ tại Nam Bộ
diễn ra rất nhiều sự kiện lịch sử nổi bật, trọng yếu của đất nước, dân tộc. Bên cạnh
những truyền thống chung của cả nước, người dân Nam Bộ với những đặc điểm xã hội
- văn hóa, tính cách riêng, trong hoàn cảnh lịch sử riêng, có cách tiếp cận riêng đối với
những sự kiện, nhân vật lịch sử trên mảnh đất của mình. Và do đó, nghiên cứu đề tài
này cũng góp phần làm sáng tỏ thêm bản chất thể loại của truyền thuyết và giai thoại,
đồng thời tô đậm thêm đặc điểm địa phương của văn hóa dân gian Nam Bộ trên nền
tảng thống nhất, đa dạng của văn hóa dân gian cả nước. Đề tài cũng cung cấp thêm
minh chứng gián tiếp trả lời các câu hỏi: vì sao ở Việt Nam, thể loại truyền thuyết rất


2
phát triển, vì sao trong các thể loại văn học dân gian, truyền thuyết mang đậm tính địa
phương hơn cả.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Các công trình nghiên cứu, bài viết về thể loại
Thể loại truyền thuyết và giai thoại đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu
ở những phương diện, mức độ khác nhau.
Thuật ngữ truyền thuyết xuất hiện đầu tiên trong bài viết của Đào Duy Anh:
“Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta” (Tạp chí Tri Tân số 30 ra ngày
7/1/1942). Việc nghiên cứu truyền thuyết thể hiện rõ nét hơn với những bước tiến mới
từ những năm 1960 về sau, trong đó, nhiều công trình đặc biệt là các giáo trình đại học
đã đi theo hướng tiếp cận truyền thuyết như là thể loại. Các tác giả của bộ Lịch sử văn
học Việt Nam (xuất bản năm 1963) đã công nhận sự tồn tại của truyền thuyết với tư
cách là một thể loại. Tuy nhiên, trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam - Văn học dân
gian (1973), tác giả Đinh Gia Khánh không thừa nhận truyền thuyết như là một thể loại
văn học dân gian mà xếp vào sử học. Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng

dân gian vùng Thuận Hóa (1999), Hồ Quốc Hùng, Đặc trưng thể loại truyền thuyết và
quá trình văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam (2002), Trần Thị An, Khảo sát
truyện kể dân gian Khme Nam Bộ (qua thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích), Phạm
Tiết Khánh (2007), Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở
Nam Bộ (1858 - 1918), Võ Phúc Châu (2009), Đặc trưng thể loại truyền thuyết dân
gian vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đỗ Thị Hồng Hạnh (2013)...
Khác với thể loại truyền thuyết, do không thuộc vị trí của khung phân loại
truyền thống nên việc nghiên cứu giai thoại đến nay chưa đầy đủ. Trong bài tiểu luận
đầu sách Kho tàng giai thoại Việt Nam (1994), Vũ Ngọc Khánh nhận định: “Tuy vẫn
luôn luôn được nhắc đến, kể đến với nhiều trân trọng, nhưng phải nói rằng giai thoại
chưa được nghiên cứu bao nhiêu, và thật ra thì cũng chưa xác định vị trí cho rõ rệt
lắm”. Đây cũng là tập tư liệu mở đầu, cùng với một số chuyên khảo khác đã đặt nền
tảng quan trọng cho việc nghiên cứu thể loại giai thoại ở góc độ thể loại. Tiếp theo, cần
kể tới các công trình, như: Khảo luận về giai thoại (trong Tổng tập Văn học dân gian
người Việt, Kiều Thu Hoạch (2004), được bổ sung trong Văn học dân gian người Việt góc nhìn thể loại (2006)) hay Giai thoại xứ Nghệ (trong Về văn học dân gian xứ Nghệ,
Ninh Viết Giao (2004). Bên cạnh đó, có các bài viết như: Bước đầu phân biệt truyền
thuyết và giai thoại, Võ Phúc Châu (2005), Giai thoại - một thể loại văn học dân gian,
Nguyễn Bích Hà (2010).
Ngoài ra có thể kể đến các bộ tự điển với những định nghĩa, giới thuyết chung
về thể loại truyền thuyết và giai thoại như: Từ điển văn học (1984), (Nhiều tác giả), Từ
điển văn học (Bộ mới) (2004), Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học
(2013), Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), hay chuyên khảo về
type truyện dân gian bao gồm truyền thuyết và giai thoại: Từ điển Type truyện dân gian
Việt Nam (2012), Nguyễn Thị Huế (chủ biên).
Về tư liệu nước ngoài, về các khái niệm, thuật ngữ, đặc trưng thể loại, chúng tôi
tham khảo một số công trình nghiên cứu có tính tổng hợp, dịch thuật và giới thiệu, như:


4
Phônclo và thực tại của V.Ia.Propp, Chu Xuân Diên dịch; Mỹ học folklore, Hoàng

trình, có một số mẩu truyện tương truyền về các nhân vật lịch sử.
Bên cạnh đó, có một số bài nghiên cứu liên quan các nhân vật lịch sử Nam Bộ
trong Tập san Sử Địa, gồm: Nén hương hoài cổ Trương Định, Trương Bá Phát, Vài
giai thoại có dính líu tới cụ Lãnh binh Trương Định, Lê Thọ Xuân, số 3, 1966; Phan


5
Thanh Giản dưới mắt người Pháp qua vài tài liệu, Nguyễn Thế Anh, số 7, 1967; hay
chuyên khảo Kỷ niệm 100 Nguyễn Trung Trực số 12, 1968…
Sau năm 1975, về lịch sử, văn hóa, có các công trình nghiên cứu về đặc điểm
vùng đất, con người, tiêu biểu như: Đình miếu và lễ hội dân gian, Sơn Nam (1994),
Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX Huỳnh Lứa, (2000),
Nam Bộ đất và người Hội khoa học lịch sử TP. HCM (2005), Những vấn đề lịch sử
triều Nguyễn Tạp chí Xưa & Nay (2009), Khởi nghĩa Trương Định, Nguyễn Phan
Quang, Lê Hữu Phước (2001), Nguyễn Hữu Cảnh chân dung người mở cõi, Thanh Ba
(2007)..; hay những công trình dưới hình thức hỏi đáp lịch sử như: Lịch sử Gia Định Sài Gòn trước 1802, Cao Tự Thanh (2007), Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung
Trực, Trương Định, Võ Duy Dương, Tủ sách lịch sử Việt Nam (2008); Bên cạnh đó,
các tư liệu lịch sử địa phương như Nguyễn Trung Trực - thân thế và sự nghiệp, Bảo
tàng Kiên Giang (1989), Những trang ghi chép về lịch sử – văn hóa Tiền Giang,
Nguyễn Phúc Nghiệp (1998)... cũng có một số mẩu truyện kể về các nhân vật lịch sử.
Về lĩnh vực ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, có các công trình tiêu biểu như: Văn hóa
dân gian người Việt ở Nam Bộ (1992), Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn
Quang Vinh, nghiên cứu các thiết chế văn hóa dân gian ở Nam Bộ; Tự vị tiếng Việt
miền Nam (1993), Vương Hồng Sển, giải thích địa danh theo phương pháp giải thích
địa lý, ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống dân gian; Sổ tay hành hương đất phương
Nam, Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên) (2003), ghi nhận hệ thống di tích văn hóa - tín
ngưỡng vùng đất phương Nam; Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ, Nguyễn Đăng Duy
(1997), phác họa một mặt thiết yếu của đời sống người Nam Bộ, trong đó có mối quan
hệ giữa truyền thuyết với tín ngưỡng; hay An Giang đôi nét văn hóa đặc trưng vùng
đất bán sơn địa, Nguyễn Hữu Hiệp (2007); Văn hóa dân gian đảo Phú Quốc, Trương

3/1985: nêu những định hướng trong nghiên cứu văn học dân gian địa phương, nhấn
mạnh sự phát triển mạnh của thể loại truyền thuyết ở giai đoạn cận đại gắn với những
nét đặc thù của tiến trình lịch sử Nam Bộ; hay Đặc trưng truyện dân gian người Việt ở
Nam Bộ trong Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo, Nguyễn Phương Thảo
(1997), đề cập nét đặc trưng của truyện dân gian Nam Bộ, bao gồm truyện về các nhân
vật lịch sử và văn hóa.
Bên cạnh đó, trong lời dẫn ở một số sách sưu tập, có phần giới thiệu hoặc tiểu
luận tổng quan về truyện dân gian bao gồm truyền thuyết và giai thoại Nam Bộ, như:
Truyện dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ
(1994), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh của Huỳnh Ngọc Trảng (1998)...
Ngoài ra, có nhóm bài viết Kỷ yếu hội thảo về nhân vật lịch sử Nam Bộ, như Kỷ
yếu Hội thảo khoa học về nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị (1985), Kỷ yếu Hội thảo
khoa học về Nhà thơ - Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1987), Kỷ yếu Hội thảo Thân thế và
sự nghiệp của Chưởng cơ - Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1993), Kỷ yếu Hội thảo
Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ
XIX (2008)...
Về nghiên cứu chuyên sâu, có hai luận án đi trước có liên hệ về phạm vi đề tài.
Ở Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 1918) của Võ Phúc Châu (2009), tác giả đã hệ thống hóa truyền thuyết dân gian về


7
những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ; khảo sát các nhóm truyền thuyết;
những motif, nhóm motif phổ biến; nêu những chứng tích văn hóa liên quan tới các
truyện kể... Công trình dày dặn này đã thống kê, miêu tả khá hệ thống các tình tiết,
môtíp, là cơ sở để chúng tôi tham khảo, tiếp tục hệ thóng hóa và miêu tả các tình tiết,
môtíp của nhóm truyền thuyết về người anh hùng chống ngoại xâm từ cuối thế kỷ XIX
trở về trước, bên cạnh đó, ghi nhận phần phụ lục truyện kể của công trình như một tư
liệu sưu tầm, biên soạn. Ở Đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian vùng Đồng bằng
sông Cửu Long, Đỗ Thị Hồng Hạnh (2013), tác giả đã xác lập cơ sở hình thành đặc
trưng và một số tiêu chí để nhận diện, phân loại thể loại truyện kể; khảo sát đặc điểm tư

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Truyền thuyết và giai thoại về nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX là
đối tượng nghiên cứu chính của luận án. Các phương diện lịch sử, đời sống văn hóa, xã
hội của cộng đồng cư dân Nam Bộ trong mối quan hệ với thể loại truyền thuyết và giai
thoại cũng được xem là đối tượng nghiên cứu hữu quan.
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các tư liệu văn bản trong các công trình sưu tập,
biên soạn truyện dân gian và mở rộng ở các công trình lịch sử, địa chí triều Nguyễn,
công trình biên khảo, nghiên cứu lịch sử, văn hóa Nam Bộ... có ghi chép truyện kể đã
được hệ thống hóa. Các truyện kể cùng nội dung, chủ đề trong truyện kể dân gian các
vùng miền khác, tùy theo mục đích từng phần của nội dung luận án, được dùng để so
sánh, liên hệ, để làm nổi bật đối tượng nghiên cứu.
4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Luận án hướng tới những mục tiêu chính như sau:
Trên cơ sở lý thuyết thể loại, xác lập các tiêu chí chọn lọc tư liệu, luận án đã hệ
thống các văn bản, các nhóm truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam
Bộ đến cuối thế kỷ XIX. Đồng thời, luận án phác họa diện mạo, phân tích đặc trưng
nghệ thuật, ý nghĩa và giá trị các truyền thuyết và giai thoại này trong hệ thống truyện
dân gian Nam Bộ nói riêng, truyện dân gian Việt Nam nói chung; bước đầu xác lập
mối quan hệ tương tác thể loại giữa truyền thuyết và giai thoại, sự vận động của các thể
loại này trong sự phát triển của chúng ở thời cận đại.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thực hiện mục tiêu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp hệ thống: Phương pháp này tạo cơ sở cho việc đánh giá, xác lập
tiêu chí chọn lọc văn bản và hệ thống nguồn tư liệu, nguồn truyện, giúp tìm hiểu quy
luật vận động của các thể loại.
Phương pháp thống kê, miêu tả: Thống kê các nhóm truyện, miêu tả kết cấu, nội
dung, các môtíp trong các nhóm truyện làm cơ sở khái quát các luận điểm theo thể loại
và các tiểu loại, phân tích các giá trị dựa trên những tiêu chí, số liệu cụ thể.
Phương pháp phân tích, so sánh: Phân tích truyện kể theo chủ đề, nội dung, các
môtíp theo đặc trưng thể loại. So sánh, đối chiếu văn bản truyện, phân loại các nhóm tư

tạo, sự vận động và dấu hiệu đặc trưng của môtíp với vai trò là một đơn vị cấu trúc của
truyện dân gian.
Nguyễn Tấn Đắc tóm lược và nhấn mạnh đặc trưng đơn vị môtíp của tác phẩm
văn học dân gian: “Motif là những phần tử đơn vị vừa mang tính đặc trưng vừa mang
tính bền vững của tác phẩm văn học dân gian” [37,11]. Chu Xuân Diên nói đến vai trò
cốt yếu cụ thể của môtíp: thuật ngữ môtíp dùng chỉ “những yếu tố đơn giản nhất có ý
nghĩa trong cấu tạo đề tài, cốt truyện của tác phẩm nghệ thuật” [143,465]. Đối với các
thể loại tự sự của văn học dân gian, thuật ngữ này đươc hiểu theo nghĩa là “hạt nhân
của cốt truyện”, là “công thức truyền thống” từ đó cốt truyện được triển khai hoặc như
“yếu tố hợp thành” của cốt truyện. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: mô típ là
“những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững và


10
được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ
thuật dân gian” [52,197].
Nhóm tác giả Từ điển type truyện dân gian Việt Nam đã diễn giải về môtíp trong
mối liên hệ với cấu trúc cốt truyện và típ (kiểu) truyện như sau: “Motif truyện kể thực
chất là một khái niệm đơn giản, hay gặp trong truyện kể truyền thống, nó có thể là một
đoạn kể ngắn, lặp đi lặp lại và có thể có tính chất khác thường, làm cho người ta nhớ
hoặc nó có dấu hiệu đặc biệt... Sự lắp ghép của các motif một cách logíc sẽ tạo nên các
cốt truyện, nhiều cốt truyện có những motif tương tự nhau sẽ tạo nên những type”
[79,21].
Các định nghĩa, diễn giải nêu trên về môtíp là những cách hiểu mà chúng tôi
thấy đúng và phù hợp. Chúng tôi thống nhất với quan niệm của tác giả Chu Xuân Diên
về môtíp: là những yếu tố đơn giản nhất có ý nghĩa trong cấu tạo đề tài, cốt truyện, là
hạt nhân của cốt truyện, là công thức truyền thống cho sự triển khai cốt truyện hoặc
như yếu tố hợp thành của cốt truyện. Đồng thời, khi vận dụng khái niệm này, chúng tôi
cũng chú ý những nội dung khác của khái niệm môtíp như: tính lặp lại, tính chất độc
đáo của các chi tiết trong các văn bản tác phẩm hay sự hàm chứa một quan niệm về

thế kỷ XIX trở về trước từ góc nhìn thể loại và từ đặc điểm tư liệu, hệ thống truyện
Chương 2: Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử Nam Bộ là những nhân vật
tiền hiền khai khẩn mở đất từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Chương 3: Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử Nam Bộ là những người anh
hùng chiến đấu chống ngoại xâm từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Chương 4: Truyền thuyết về nhân vật Nguyễn Ánh
Chương 5: Giai thoại về những danh nhân, danh sĩ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX
trở về trước.


12
CHƯƠNG 1
TRUYỀN THUYẾT VÀ GIAI THOẠI VỀ CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ NAM BỘ
TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ TRƯỚC TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI VÀ TỪ
ĐẶC ĐIỂM TƯ LIỆU, HỆ THỐNG TRUYỆN
1.1. TRUYỀN THUYẾT VÀ GIAI THOẠI VỀ CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ NAM
BỘ TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ TRƯỚC TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI
Nghiên cứu văn học dân gian trên bình diện thể loại là nhiệm vụ rất cần thiết, vì
như nhà nghiên cứu Bùi Mạnh Nhị đã nhận xét, “Trên thực tế không có văn học dân
gian như là một lĩnh vực đơn nhất mà chỉ có văn học dân gian tồn tại trong những thể
loại, với những tác phẩm cụ thể” [136,120]. Việc nghiên cứu, miêu tả đặc trưng thể
loại đóng vai trò thiết yếu cho việc tìm hiểu những sáng tác thuộc thể loại.
1.1.1. Thể loại truyền thuyết
1.1.1.1. Khái niệm
Khái niệm và đặc trưng của truyền thuyết đã được nhiều nhà nghiên cứu nhắc
đến. Do đó, chúng tôi chỉ khái quát, hệ thống lại những điểm cơ bản, làm cơ sở cho
việc khảo sát đối tượng nghiên cứu của luận án.
Theo lối định nghĩa duy danh, truyền thuyết được hiểu là những điều được
truyền lại từ đời trước bằng miệng qua các thế hệ, vì vậy, những “lời truyền thuyết”
này bao hàm ý nghĩa là những sự việc thực hư chưa rõ, chưa có chứng cứ tin cậy. Hay

đã chú trọng diễn giải vấn đề niềm tin: “Trong cốt lõi của nó có một niềm tin cơ bản ở
phía người kể chuyện, cho rằng các sự việc được mô tả là điều có thật” [170,7].
L.Dégh, nhà folklore Hungary, cũng nói về niềm tin đặt vào truyền thuyết: “Cốt
lõi của truyền thuyết thực tế là một đức tin” [26,322].
L.Dégh & A.Vizonyi thống nhất quan điểm về vấn đề niềm tin có tính cốt yếu
trong truyền thuyết: “Niềm tin là một vấn đề có tính nguyên tắc của truyền thuyết (…).
Những khía cạnh phong phú của niềm tin về những điều có thực hay tưởng tượng được
trình bày trong truyền thuyết là chiếc chìa khóa để các nhà nghiên cứu hiểu được thể
loại này” [4,54].
F.Ranke, nhà nghiên cứu folklore Đức, nhấn mạnh tinh thần của niềm tin được
tạo lập trong truyền thuyết: “Truyền thuyết trong bản chất của nó đòi hỏi một niềm tin
ở người kể cũng như người nghe, rằng nó liên quan tới sự thực, rằng nó đã từng xảy
ra” [4,54].
Ở Việt Nam, nhiều nhà chính trị, văn hóa, nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan
niệm về truyền thuyết.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà chính trị, văn hóa lớn, đã nêu một ý kiến rất
xác đáng về truyền thuyết: “Những truyền thuyết dân gian thường có cái lõi là sự thật
lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gửi gấm vào đó tâm tình thiết
tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật
dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích” (Nhân
ngày Giỗ Tổ vua Hùng, báo Nhân dân, 29.4.1969).
Kiều Thu Hoạch xác định: “Truyền thuyết là một thể loại chuyện kể truyền
miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện


14
tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo
quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến là khoa trương, phóng đại,
đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ…”[72,18].
Lê Chí Quế định nghĩa: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân

một cách đầy đủ bức tranh sinh động về lịch sử dân tộc hay địa phương. Đây là một


15
dạng thức “nghìn năm bia miệng”, là hình thức nhận thức lịch sử của nhân dân qua các
thời đại như một dòng chảy lịch sử không vơi cạn. Song, yếu tố lịch sử trong truyền
thuyết không phải là lịch sử đơn thuần mà gắn với sự kỳ ảo hóa (đồng thời là xu hướng
khẳng định là sự thật những điều kỳ ảo) và đây chính là con đường của sáng tạo nghệ
thuật. Bùi Mạnh Nhị nhận định: “Cái lõi sự thật lịch sử trong các truyền thuyết chỉ là
cái nền, cái “phông” cho các tác phẩm, vì đã được nhào nặn lại, được kỳ ảo hóa để
khái quát, lý tưởng các sự kiện, nhân vật, nhằm tăng “chất thơ” cho các câu chuyện”
[140] .
Mối liên hệ đặc biệt giữa truyền thuyết và lịch sử cũng đã được đề cập ngay
trong bài Tựa sách Lĩnh Nam chích quái thế kỷ XV, một trong những tập truyện đầu
tiên được hình thành từ sự “góp nhặt và sàng lọc” các truyện kể dân gian của các học
giả thời phong kiến: “Những truyện chép ở đây là sử ở trong truyện chăng?… Sử là
thực và truyện là hư. Sử nằm trong truyện, truyện xen vào sử” [169,18].
Do tính chất gắn bó chặt chẽ với lịch sử của truyền thuyết, đã có ý kiến coi
truyền thuyết là dã sử hay sử dân gian, tức là một bộ phận của lịch sử thời kỳ cổ sơ và
là lịch sử truyền miệng (bên cạnh loại sử chính thống, tồn tại trên văn tự); vì vậy không
coi truyền thuyết là một khái niệm thuộc phạm trù văn hóa dân gian.
Quan niệm đồng nhất hay nhầm lẫn giữa truyền thuyết và lịch sử không chỉ do
sự gắn bó với lịch sử của truyền thuyết mà còn do điều kiện khách quan là có khoảng
thời gian dài, nhiều cộng đồng, dân tộc chưa có sử thành văn, nên những câu chuyện về
lịch sử của truyền thuyết đã trở thành nguồn sử liệu chính cho đời sau. Đây cũng là
hiện tượng phổ biến mọi nước, khi chưa có chữ viết, lịch sử dân tộc thường được kể
mở đầu bằng truyền thuyết như một sự thay thế, bổ khuyết cho lịch sử. Sau này những
truyền thuyết đó được ghi chép lại.
Về quan hệ giữa lịch sử và văn học dân gian, có thể nhắc đến nhận xét của
M.Gorki: “Từ thời viễn cổ, văn học dân gian luôn luôn là người đồng hành khăng khít

[72,17]. Đó là lịch sử trong chiều sâu, cái tồn lưu trong ký ức như một “mạch ngầm”
của tinh thần, tình cảm, gắn liền với cảm hứng ngợi ca, tôn vinh. Đây là nét đặc thù của
thể loại. Chính cảm hứng ngợi ca, tự hào về lịch sử mà qua những truyền thuyết dân
gian về thời Bắc thuộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Phùng Hưng…, các nhân vật đã
trở thành những biểu tượng của tinh thần kiên cường, bất khuất của dân tộc như những
ký ức lịch sử sâu đậm về quá khứ. Đây là dòng chảy lịch sử ở chiều sâu, thể hiện chất
nhân văn của con người hướng về dân tộc, đất nước. Đỗ Bình Trị nhận định về ý nghĩa
sâu sắc của truyền thuyết cổ xưa: “Những truyền thuyết thời cổ như những truyền
thuyết về thời các vua Hùng, thường có nghịch lý: “lịch sử” trong đó thường lung linh,
mờ ảo trong bao lớp sương mù của thời gian và nhiều điều huyễn hoặc của tư duy thần
thoại, nhưng niềm tin vào “sự thật lịch sử” có lẽ còn mãnh liệt hơn so với những
truyền thuyết đời sau” [209,88].
Mặt khác, truyền thuyết phản ánh lịch sử theo những cách thức riêng, có sự
chọn lựa và sáng tạo. Truyền thuyết có sự chọn lựa những yếu tố lịch sử, nhằm thể hiện
trong chiều sâu cái cốt lõi tinh thần những giá trị liên quan các quá trình lịch sử. Cho
nên không phải bất kỳ sự kiện, nhân vật nào cũng có truyện kể nhưng tinh thần, xu thế
của từng thời kỳ lịch sử lại được thể hiện sâu sắc trong truyền thuyết dân gian: “Nhân


17
dân đã thể hiện trong đó thái độ của mình đối với các biến cố, các nhân vật lịch sử và
các tình huống lịch sử, đã thể hiện trong đó ý thức lịch sử của mình” [157].
Tính chất chắt lọc tinh thần các thời đại lịch sử của truyền thuyết đưa đến đặc
điểm có tính đặc thù về thể loại. Hồ Quốc Hùng nhận định:“mỗi truyền thuyết dường
như trở thành biểu tượng cho một giai đoạn, thời đại lịch sử nhất định” [83,22]. Như
một mạch nguồn tự nhiên, từ thời Hùng Vương buổi bình minh của công cuộc dựng và
giữ nước đến thời kỳ chống Pháp đau thương mà hào hùng, lịch sử dân tộc như chưa
bao giờ gián đoạn trong những ký ức của cộng đồng về quá khứ. Những sự kiện và tinh
thần đó không chờ ghi chép từ những bộ sử biên niên mới có mà vốn đã sống trong ký
ức nhân dân như những giá trị tinh thần quý báu không mất đi theo thời gian. Sự chọn

Khắp nơi trên đất nước, các địa danh, di tích lịch sử, văn hóa đi cùng nghi thức,
tập tục thờ cúng đều gắn với truyền thuyết (có khi đã được thần tích hóa). Cơ sở lịch sử
của câu chuyện đã đi vào đời sống tinh thần, tâm linh của nhân dân. Với cảm hứng tôn
vinh lịch sử, những nơi tương truyền người anh hùng đặt chân đến hay lập nên công
tích cần phải được lưu giữ, nhắc nhở muôn đời, nhân dân đã gửi vào truyền thuyết tâm
niệm, ước vọng đó. Ký ức, tình cảm của nhân dân về quá khứ dân tộc có nhu cầu gắn
kết với chứng tích văn hóa (hình thức di tích, lễ hội, tập tục thờ cúng…), lấy đó làm
chỗ dựa bền chắc cho niềm tin và sự tôn vinh. Chính điều này đã tạo cho truyền thuyết
ý nghĩa sâu sắc, bởi “hương khói” của sự thờ phụng chứa đựng giá trị thiêng, nó là
“tiếng núi sông”, “hồn linh”, “tiếng rì rầm trong đất”, là niềm tin, niềm tự hào về
truyền thống, sự trường tồn của dân tộc, bờ cõi đất nước.
Những chứng tích địa danh, lịch sử, văn hóa trong truyền thuyết thường mang ý
nghĩa là những biểu tượng thiêng, như núi Nghĩa Lĩnh, núi Sóc Sơn, sông Tô Lịch...
(Truyền thuyết về Vua Hùng, Tản Viên đón vợ, Thánh Gióng, Sông Tô Lịch...); hoặc là
những dấu tích thực tế dùng cho việc tưởng niệm như đền, miếu, lễ hội… gắn với nhu
cầu về tâm linh. Những chứng tích được gắn kết vào câu chuyện nhằm khẳng định
thêm niềm tin vào điều được kể. Đặc biệt, yếu tố địa danh của nhiều truyền thuyết thể
hiện rất sâu xa ký ức về lịch sử, có thể đối chiếu với các nguồn tư liệu khác nhau để
tìm ra ý nghĩa bề sâu đó. Truyền thuyết ở những vùng đất có bề dầy lịch sử thể hiện rõ
nét hơn đặc điểm này khi đặt trong mối liên hệ đối chiếu với giai thoại (bởi truyền
thuyết ở những vùng đất mới chưa có sự bồi lắng nhiều lớp lịch sử, văn hóa, yếu tố nội
dung liên quan với thực tại được thể hiện trực tiếp của nó dễ có khả năng đi gần với
hình thức giai thoại).
1.1.1.2. Phân loại truyền thuyết
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách phân loại truyền thuyết. Kiều Thu
Hoạch phân chia truyền thuyết thành truyền thuyết nhân vật (bao gồm các tiểu loại:
truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết phản diện, truyền thuyết tôn giáo), truyền thuyết
địa danh, truyền thuyết phong vật. Lê Chí Quế chia thành truyền thuyết lịch sử, truyền
thuyết anh hùng, truyền thuyết về các danh nhân văn hóa. Đỗ Bình Trị phân thành
truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết lịch sử... Tuy có những

mạnh hơn so với truyền thuyết ở các vùng đất cổ. Mặt khác, theo nghĩa rộng, truyền
thuyết địa danh và truyền thuyết phong vật cũng chính là các dạng khác của truyền
thuyết lịch sử mà thôi. Luận án nêu vấn đề phân loại nói trên để tiện sử dụng quy ước
khi chỉ tên các tác phẩm hay nhóm tác phẩm cụ thể trong quá trình khảo sát, phân tích.
1.1.2. Thể loại giai thoại
1.1.2.1. Việc nghiên cứu về giai thoại
Theo tư liệu, ngay ở Trung Quốc, thuật ngữ giai thoại xuất hiện sớm từ thời
Đường - Tống, về sau có nhiều loại sách ghi chép giai thoại nhưng lý thuyết về thể loại
không thấy đặt ra. Ở Phương Tây, đến những năm 60 của thế kỷ XX mới có một số
công trình về lý thuyết giai thoại, như ở Nga với công trình của những tên tuổi như
F.Xumtxốc, M.Xiđelnicốp, V.Guxép hay ở Pháp như P.Roland Barthes…


20
Nhà phê bình hiện đại P.Roland Barthes viết: “Truyện kể hiện diện trong huyền
thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện hoang tưởng, truyện ngắn, anh hùng ca, bi kịch,
chính kịch, hài kịch, kịch câm, tranh vẽ, kính ghép màu, điện ảnh, truyện tranh, việc
văt, trò chuyện, giai thoại…” (Dẫn luận phân tích các cơ cấu truyện kể, Tạp chí
Communications (Giao Lưu, Paris, 8-1968) [14,3]. Nhận định này cho thấy quan niệm
về sự tồn tại của thể loại giai thoại: các truyện kể (récit) bao gồm giai thoại (anecdote),
trong đó, giai thoại là một dưới - thể loại (“sous-genre”) của thể loại (“genre”) truyện
kể.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “giai thoại” được chính thức sử dụng với hình thức ghi
thành tiểu mục hoặc thành lời chú loại dưới các đề tài trên các báo quốc ngữ nổi tiếng
giai đoạn 1865 - 1965 như Khuyến học, Nước Nam, Tiếng dân, Tri Tân… Truyện đời
xưa (1866), Chuyện khôi hài (1882) của Trương Vĩnh Ký đã ghi một số mẩu chuyện kể
có tính chất giai thoại (như Răng cắn lưỡi, Học trò sửa liễn của ông Hoàng, Câu đối có
chí khí, Người can đảm...). Những mẩu chuyện kể có tính chất giai thoại cũng đã xuất
hiện ở một số sách báo khoảng thời gian từ năm 1930 - 1945 và rải rác trong sách Hán
Nôm từ thời Lê đến thời Nguyễn (tiêu biểu như bộ Văn đàn bảo giám, Trần Trung

anecdote của phương Tây (mẩu chuyện ngắn, vui, lạ) là điều có tính chất vui, hay, thú
vị. Kiều Thu Hoạch giới thuyết: “Giai thoại vốn là một thuật ngữ gốc Hán, giai có
nghĩa là hay, thoại là câu chuyện kể. Như vậy, giai thoại là câu chuyện kể hay, đẹp, mà
lâu nay giới nghiên cứu vẫn coi thuật ngữ này là tương đương với thuật ngữ anecdote
của phương Tây” [72,422].
Vũ Ngọc Khánh nói rõ, giai thoại (anecdote) có tính cách hài hước, dí dỏm, gây
được những nụ cười “ý nhị, ít nhiều mang ý nghĩa triết học”; “thoại” được quan niệm
là chuyện, nên có ngắn, có dài, do đó có tình tiết hoặc sự kiện [95,164].
Khái niệm giai thoại cũng được dẫn từ định nghĩa của Guxép: “Chúng tôi gọi
giai thoại là tác phẩm tự sự trào phúng hoặc hài hước (satirique ou humoristique), được
xây dựng trên một tình tiết có một sức tăng tiến, tới điểm cao (culmination), biểu hiện
rõ rệt và hết sức bất ngờ. Những giai thoại có thể kết chuỗi xung quanh một nhân vật
quen thuộc với đại chúng (populaire), có thể là nhân vật lịch sử hoặc tưởng
tượng…”[45,233]. Quan niệm này có nhiều điểm gần với khái niệm truyện cười hoặc
truyện trạng. Theo Ninh Viết Giao, đây là lý do tác giả Kho tàng giai thoại Việt Nam
đã đưa vào tập sách những truyện “thường được các nhà nghiên cứu văn học dân gian
xếp vào loại “truyện cười kết chuỗi”.
Coi giai thoại là anecdote (theo cách hiểu của phương Tây) là chưa đủ, giữa
chúng vẫn có sự khác nhau, chính thực tiễn sáng tác đã đưa đến những nội hàm rộng
hơn cho khái niệm giai thoại như một thể loại.
1.1.2.3. Giai thoại là một thể loại văn học dân gian
Theo Lại Nguyên Ân, giai thoại là một thể loại độc lập, về bản chất thuộc văn
học viết: “Giai thoại thuộc về văn chương bác học, gắn với sinh hoạt văn học thành
văn, nhưng lại tồn tại dưới dạng truyền miệng, tức là dạng thức tồn tại của các chuyện
kể dân gian” [69,519]. Nhận định này phù hợp với giai thoại văn học, có thể bao gồm
nhóm giai thoại đi sứ, bởi phần lớn các giai thoại cũng gắn với thơ văn, song chưa bao


22
quát đầy đủ các tiểu loại giai thoại khác. Thực tế, không ít giai thoại được sáng tác và

có một mảng truyện kể khá gần gũi với truyện cười và cũng tương quan với truyền
thuyết, được tồn tại độc lập và có một đời sống riêng được gọi là giai thoại” [25,71].


23
Tuy nhiên, nhận xét giữa giai thoại và truyện cười “có cái gì giống nhau, có cái
gì liên quan mật thiết với nhau” (Trần Thanh Mại) [147,3] mới là một dự cảm, cần nói
rõ “có cái gì”, phân biệt giữa hai thể loại.
Những đặc trưng của giai thoại và phân loại
Theo từ điển Larousse, “Giai thoại là một truyện rất ngắn gọn về một sự việc
hấp dẫn, lý thú của một nhân vật nào đó, truyện mà người ta còn ít biết đến” [70,14].
Định nghĩa trên thể hiện những nét đặc trưng có tính bao quát về giai thoại.
Chính đặc điểm “rất ngắn gọn” đã đưa đến quan niệm xem giai thoại là một dưới - thể
loại (“sous-genre”) của thể loại truyện kể (“récit”). Những khía cạnh riêng tư, đặc biệt,
chưa phổ biến về nhân vật là những nét đặc thù tạo nên sức sống của giai thoại. Người
nghe chờ đợi một thông tin mới về nhân vật, thường được tạo ra trong những tình
huống đặc biệt, bất ngờ, đưa đến những ấn tượng sâu sắc.
Về tính chất ngắn gọn của giai thoại, như Ninh Viết Giao đã đề cập, có “một số
giai thoại chưa dựng thành chuyện, sự việc rất đơn giản” [48,291], nhưng xưa nay vẫn
được kể và lưu truyền.
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa “giai thoại”: “Một thể loại truyện kể ngắn
gọn về một tình tiết có thực hoặc được thêu dệt của những nhân vật được nhiều người
biết đến” (ví dụ: giai thoại về các nhà chính trị, các tướng, các nhà văn, nhà khoa học,
các nhân vật có biệt tài như Mạc Đĩnh Chi, Trạng Quỳnh...) [52,132]. Chúng tôi cũng
thống nhất với quan niệm này về giai thoại, tuy nhiên, “nhân vật được nhiều người biết
đến” được định vị là những con người thật, không phải là nhân vật hư cấu.
Với tư cách là một thể loại văn học dân gian, giai thoại, trước hết, là những câu
chuyện hay, đẹp, lý thú. Nói theo Kiều Thu Hoạch, một tác phẩm sở dĩ được gọi là giai
thoại chính là do tính lý thú (“intéressant, plaisant”) tạo nên, nó phân biệt với truyện
cười với tính gây cười (“risible”). Đồng thời, thông thường đã gọi là giai thoại phải có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status