BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN MINH TRƯỜNG
THIẾT KẾ MỘT SỐ TÌNH HUỐNG
DẠY HỌC HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG
GIÚP HỌC SINH KIẾN TẠO TRI THỨC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN MINH TRƯỜNG
THIẾT KẾ MỘT SỐ TÌNH HUỐNG
DẠY HỌC HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG
GIÚP HỌC SINH KIẾN TẠO TRI THỨC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM XUÂN CHUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN..............................................................5
1.1.1. Hoạt động học......................................................................................................5
1.1.2. Hoạt động dạy......................................................................................................5
1.1.4. Tình huống dạy học..............................................................................................6
1.2.1. Quan điểm hoạt động trong phương pháp dạy học môn Toán.............................7
1.2.2. Lý thuyết kiến tạo...............................................................................................10
1.2.3. Lý thuyết tình huống..........................................................................................12
1.3. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực học sinh..........13
1.4.1. So sánh phương pháp dạy học theo tình huống với một số phương pháp, xu
hướng dạy học khác......................................................................................................22
1.4.2. Điểm mạnh và hạn chế của phương pháp dạy học theo tình huống...................23
1.4.3. Định hướng thiết kế tình huống dạy học hình học theo hướng giúp HS kiến tạo
tri thức ở trường phổ thông..........................................................................................24
1.5. Thực trạng dạy học môn Toán ở trường THCS........................................................27
1.6. Nội dung hình học trong chương trình Toán THCS.................................................33
1.6.1. Những vấn đề cơ bản về nội dung hình học lớp 6.............................................33
1.6.2. Những vấn đề cơ bản về nội dung hình học lớp 7..............................................35
- Hai tam giác bằng nhau..............................................................................................37
- Các dạng tam giác đặc biệt........................................................................................37
1.6.3. Những vấn đề cơ bản về nội dung hình học lớp 8..............................................40
1.6.4. Những vấn đề cơ bản về nội dung hình học lớp 9.............................................43
2.2.2.Kết quả thiết kế tình huống dạy học....................................................................58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.................................................................................................79
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM........................................................................80
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm................................................................................80
3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm................................................................................80
3.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm..................................................................................80
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm...................................................................................81
thực tiễn cuộc sống”, về phương pháp “phải phát huy tính tích cực, tự giác
chủ động sáng tạo của học sinh; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tính cảm, đem lại niềm vui và hứng thú học tập cho
học sinh”.
Trong những thập kỷ qua, các nước trên thế giới và Việt Nam đã
nghiên cứu và vận dụng nhiều lý thuyết và phương pháp dạy học theo hướng
2
hiện đại nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS, trong đó có dạy học kiến
tạo của tác giả J. Piaget. Trong dạy học kiến tạo, J. Piaget cho rằng tri thức
được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức và nhận thức là một
quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của chính người học. Như
vậy, lý thuyết kiến tạo coi trọng tích cực và chủ động của HS trong quá trình
học tập để tạo nên tri thức cho bản thân. Việc dạy học theo lý thuyết kiến tạo
có thể tạo ra những cơ hội thuận lợi hơn cho việc áp dụng các phương pháp
dạy học mới vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông ở Việt Nam
nhằm phát huy tối đa năng lực tư duy năng lực giải quyết vấn đề, làm việc
theo nhóm cho HS để nâng cao chất lượng dạy học.
Tuy nhiên trên thực tiễn ở trường THCS hoạt động dạy học môn Toán
nói chung và dạy học Hình học nói riêng ít nhiều vẫn nặng về truyền đạt kiến
thức một chiều cho HS mà không tạo ra các tình huống học tập, tổ chức dạy
học theo hướng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình dạy
học để kích thích sự tìm tòi, khám phá, tự nghiên cứu và trao đổi hợp tác và tự
chiếm lĩnh kiến thức của HS. Đều này khiến bộ phận không nhỏ HS chưa tích
cực chủ động trong quá trình học tập.
Xuất phát từ những lý do trên, để phát triển thêm tính tích cực, chủ
động, tự giác trong học tập cho HS khi học Hình học ở trường THCS, người
học chọn đề tài nghiên cứu: “Thiết kế một số tình huống dạy học Hình học
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các sách, bài báo
liên quan đến lý thuyết kiến tạo, các tài liệu về giáo dục môn Toán, về
tâm lý học, lý luận dạy học, nghiên cứu chương trình SGK (nội dung Hình
học) ở trường THCS.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng việc
dạy và học Toán tại một số trường THCS ở Long An.
- Phương pháp tổ chức thực nghiệm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để
xem xét tính khả thi và hiệu quả của đề tài nghiên cứu.
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Thiết kế được một số tình huống dạy học Hình học ở trường THCS theo
hướng giúp HS kiến tạo tri thức.
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2. Một số kết quả nghiên cứu
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
Các định nghĩa này chủ yếu chúng tôi trình bày theo tài liệu tham khảo
[20, trang 7 – 9].
1.1.1. Hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động của HS trong quá trình người học hướng
tới mục đích là chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, phương pháp nào đó.
Như vậy, dù theo quan điểm nào thì ta có thể hiểu: Tình huống là mối
quan hệ biện chứng giữa chủ thể (Con người) và khách thể (Không gian, thời
gian, hệ thống các sự kiện, hiện tượng, xu thế, diễn biến...) mà ở đó đòi hỏi
chủ thể phải giải quyết. Khách thể có thể tồn tại độc lập và tác động trở lại đối
với chủ thể buộc chủ thể phải nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi để giải quyết.
1.1.4. Tình huống dạy học
Tình huống dạy học là một bối cảnh trong đó diễn ra hoạt động dạy và
hoạt động học của một tiết hoặc một vài tiết học trên lớp được thiết kế bởi GV
nhằm đạt được một mục tiêu dạy học nhất định. Chúng tôi cho rằng, một tình
huống dạy học phải được viết như kịch bản, có cấu trúc, nội dung và có tương
tác giữa các nhân vật là HS, GV trong môi trường dạy học cụ thể. Môi trường
dạy học ở đây bao gồm phương tiện dạy học, trình độ và thói quen học tập
của HS, năng lực dạy học của GV, …
Trong một tình huống dạy học, HS xuất hiện nhu cầu và cảm thấy có
khả năng huy động tri thức, kinh nghiệm để đối mặt, giải quyết vấn đề được
đặt ra trong tình huống dạy học. Tuy nhiên, những kiến thức và kỹ năng hiện
có chưa thể giải quyết ngay được vấn đề hoặc giải quyết chưa hoàn toàn được
7
vấn đề mà HS gặp phải. Họ phải liên kết, điều chỉnh lại kiến thức của mình để
phán đoán, kiểm nghiệm rồi từ đó điều ứng, thu được kiến thức, hình thành kỹ
năng hay phương pháp mới.
Trong một tình huống dạy học, hoạt động học là hoạt động chủ đạo
được diễn ra dưới sự tổ chức của GV thông qua việc thực hiện giải quyết một
vấn đề nào đó nảy sinh trong tình huống.
Về tiến trình, theo chúng tôi, một tình huống dạy học bao gồm ba phần:
phần mở đầu (GV nêu vắn tắt bối cảnh, các sự kiện trong tình huống, HS
bước đầu thâm nhập vấn đề hay phát hiện vấn đề một cách độc lập hoặc có sự
- Hoạt động của HS thể hiện sự thống nhất của những mục đích thành
phần (4 phương diện: tri thức bộ môn, kĩ năng bộ môn, năng lực trí tuệ chung
và phẩm chất, tư tưởng, đạo đức, thẩm mĩ theo 3 mặt: tri thức, kĩ năng, thái
độ).
Định hướng hoạt động hoá người học bao hàm một loạt ý tưởng lớn đặc
trưng cho các phương pháp dạy học hiện đại:
- Xác lập vị trí chủ thể người học.
- Dạy việc học, dạy cách học thông qua toàn bộ quá trình dạy học.
- Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
- Phát huy tính tự giác, tích cực, sáng tạo của người học.
* Quan điểm hoạt động trong phương pháp dạy học Toán
Có thể vận dụng lý luận của A. N. Leonchev về hoạt động tâm lý để giải
quyết hàng loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn hoạt động. Trong đó, chủ yếu là
việc hình thành hoạt động học tập cho người học, đặc biệt là các người học
nhỏ tuổi. Xung quanh vấn đề này, trước hết cần hình thành cho người học các
đơn vị chức năng của hoạt động học tập: động cơ, mục đích học tập, để qua
đó hình thành thao tác, hành động và hoạt động học. Trong quá trình đó, hình
9
thành hành động học là khâu trung tâm. Sau khi đã có hoạt động học cần
chuyển từ hoạt động thứ yếu lên mức hoạt động chủ đạo trong quá trình phát
triển của người học.
Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất
định. Đây là những hoạt động đã được tiến hành trong quá trình hình thành và
vận dụng nội dung đó. Phát hiện được những hoạt động tiềm tàng trong một
nội dung là vạch được một con đường để truyền thụ nội dung đó và thực hiện
những mục đích dạy học khác, đồng thời cụ thể hoá những mục đích dạy học
nội dung và chỉ ra cách kiểm tra việc thực hiện những mục đích này. Cho nên
mới phương pháp dạy học hiện nay.
1.2.2. Lý thuyết kiến tạo
Theo nghĩa từ điển: Kiến tạo nghĩa là xây dựng nên một cái gì đó
Người khởi xướng ra lý thuyết kiến tạo là Jean Piaget (1896 -1980) –
nhà tâm lý học, sinh học người Thụy Sĩ. Trong suốt cuộc đời ông chỉ theo
đuổi một mục đích: xây dựng một học thuyết về sự phát sinh tri thức. Ông
nghiên cứu để trả lời câu hỏi: tri thức đến với con người như thế nào? Câu trả
lời của ông chính là thuyết kiến tạo (constructivism)
Trong dạy học theo thuyết kiến tạo, GV đóng vai trò quan trọng trong
việc giúp đỡ HS xây dựng kiến thức chính xác. Bởi vì, trong nhiều trường
hợp, HS kiến tạo tri thức chỉ theo một (một vài) trường hợp cụ thể. GV cần
bổ sung, đưa ra những tình huống để HS kiểm nghiệm, điều chỉnh lại kiến
thức của mình. Một khi HS nhận ra rằng, tri thức được kiến tạo của các em
không đúng với tình huống mới, các em có thể điều chỉnh và kiểm tra tính
đúng đắn cho phù hợp.
11
Do kiến thức cần phải được HS kiến tạo cách hiểu riêng của mình nên
vai trò chủ yếu của người thầy giáo không phải là đọc bài giảng, giải thích
hoặc nỗ lực chuyển tải các tri thức, mà vai trò của GV là tạo ra những tình
huống cho HS thiết lập cấu trúc nhận thức cần thiết.
Mặc dù dạy học theo thuyết kiến tạo đề cao vai trò tích cực, chủ động
của người học nhưng không làm lu mờ vai trò của GV, đó là vai trò định
hướng và đảm bảo mục tiêu giáo dục. Ngoài ra, GV còn là người rèn luyện
cho HS tư duy phê phán và tư duy sáng tạo.
Như vậy, dạy học theo lý thuyết kiến tạo là kiểu dạy học trong đó GV
thiết kế tình huống cho HS tham gia kiến thiết, tạo dựng và biến đổi các tri
thức, kĩ năng của mình để phù hợp với tình huống mới và có được nhận thức
1.2.3. Lý thuyết tình huống
Một trong những người đề ra lý thuyết tình huống là Guy Brousseau
nước cộng hòa Pháp.
Theo lý thuyết này, trong dạy học:
Thứ nhất, cần có sự chuyển hóa sư phạm từ tri thức bác học thành tri
thức giáo khoa, từ tri thức giáo khoa thành tri thức dạy học.
Thứ hai, cần tạo ra tình huống sư phạm.
Có thể xem dạy học theo lý thuyết tình huống là kiểu dạy học mà GV
tạo ra tình huống với mục đích sư phạm định trước, trong tình huống đó HS
điều chỉnh những kiến thức của mình để thích nghi, từ đó có thêm tri thức
mới, kĩ năng mới.
Để dạy học theo cách này:
+) Người GV phải tạo ra tình huống sư phạm để HS điều chỉnh hoặc tự
hình thành kiến thức, thích nghi với môi trường nhận thức và ủy thác cho HS;
+) HS phải tích cực hoạt động trong tình huống đó, rất cần có sự trao
đổi, bàn bạc;
+) GV thể thức hóa – xác nhận những tri thức, kĩ năng thu được.
Những kiến thức, kĩ năng đó phản ánh đúng thực tế khách quan, phi hoàn
cảnh, phi thời gian, phi cá nhân.
13
1.3. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng
lực học sinh
Quá trình dạy học gồm 3 thành phần cơ bản: mục đích - nội dung phương pháp. Mục đích dạy học là kiểu nhân cách mà xã hội đòi hỏi. Nội
dung dạy học trong trường hợp này là môn toán. Phương pháp dạy học là
cách thức hoạt động và ứng xử của thầy để gây nên những hoạt động và giao
lưu của trò nhằm đạt được mục đích dạy học. Các thành phần cơ bản này tác
động lẫn nhau, quy định lẫn nhau, trong đó mục đích đóng vai trò chủ đạo.
Người học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành
thái độ chứ không phải là nhân vật hoàn toàn làm theo lệnh của thầy giáo.
Vai trò chủ thể của người học được khẳng định trong quá trình họ học tập
trong hoạt động và bằng hoạt động của bản thân mình.
1.3.2. Dạy học dựa trên sự nghiên cứu tác động của những quan
niệm về kiến thức sẵn có của người học
Theo tâm lý học, học tập chủ yếu là một quá trình trong đó người học
xây dựng kiến thức cho mình bằng cách liên hệ những cảm nghiệm mới với
những kiến thức và kinh nghiệm sẵn có, bắc một chiếc cầu nối giữa cái mới
và cái sẵn có. Khi học một kiến thức mới, thường không phải là học trò chưa
có một quan niệm nào về kiến thức đó. Trái lại, bộ óc học trò thường đã có
một quan niệm, kinh nghiệm nào đó có liên quan với kiến thức cần học, làm
thuận lợi hoặc gây khó khăn cho quá trình xây dựng kiến thức mới. Vì vậy, tổ
chức cho HS hoạt động học tập có một hàm nghĩa là nghiên cứu những quan
niệm, kinh nghiệm sẵn có đó, khai thác mặt thuận lợi và hạn chế mặt khó
khăn cho quá trình học tập, nghiên cứu những chướng ngại mà họ có thể gặp,
15
những sai lầm mà họ có thể mắc khi xây dựng một kiến thức mới, nhờ đó
GV điều khiển việc học có hiệu quả.
1.3.3. Dạy việc học, cách học thông qua toàn bộ quá trình dạy học
Mục đích dạy học không phải chỉ ở những kết quả cụ thể của quá trình
học tập: ở tri thức và kỹ năng bộ môn mà điều quan trọng hơn là ở bản thân
việc học, ở cách học, ở khả năng đảm nhiệm, tổ chức và thực hiện những quá
trình học tập một cách hiệu quả.
1.3.4. Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách người thiết
kế, uỷ thác, điều khiển và thể chế hoá
Hoạt động hoá người học dễ dẫn tới việc ngộ nhận về sự giảm sút vai
pháp dạy học này người GV trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử
dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến
hành bài lên lớp, chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích
trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong
đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp
dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương
pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học
mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích
cực và sáng tạo của HS. Chẳng hạn có thể tăng cường tính tích cực nhận thức
của HS trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn
đề.
b) Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
17
Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu
và nội dung dạy học. Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu,
nhựơc điểm và giới hạn sử dụng riêng. Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương
pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng
quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học
toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội
của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng.
Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết
trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm.
Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều GV đã cải
tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của GV với hình thức làm
việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS. Tuy nhiên
hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc
dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống
thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp. Quá trình học tập được tổ chức trong
một môi trường học tập tạo điều kiện cho HS kiến tạo tri thức theo cá nhân
và trong mối tương tác xã hội của việc học tập.
Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến
nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn. Trong nhà
trường, các môn học được phân theo các môn khoa học chuyên môn, còn
cuộc sống thì luôn diễn ra trong những mối quan hệ phức hợp. Vì vậy sử dụng
các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn
của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho HS năng lực giải quyết các
vấn đề phức hợp, liên môn.
19
Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển
hình của dạy học theo tình huống, trong đó HS tự lực giải quyết một tình
huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm.
Vận dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường
quan trọng để gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp
phần khắc phục tình trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà
trường phổ thông.
Tuy nhiên, nếu các tình huống được đưa vào dạy học là những tình
huống mô phỏng lại, thì chưa phải tình huống thực. Nếu chỉ giải quyết các
vấn đề trong phòng học lý thuyết thì HS cũng chưa có hoạt động thực tiễn
thực sự, chưa có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.
e) Vận dụng dạy học định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho
hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá
phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử
(E-Learning). Phương tiện dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng
các phương pháp dạy học mới. Webquest là một ví dụ về phương pháp dạy
học mới với phương tiện mới là dạy học sử dụng mạng điện tử, trong đó HS
khám phá tri thức trên mạng một cách có định hướng.
g) Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của GV và HS
trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình
dạy học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy
học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng
phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay