Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
MỤC LỤC: ………………………………………………………………………1
MỞ ĐẦU:..........................................................................................................2
NỘI DUNG: ……………………………………………………………………..3
I.Lý luận chung:…………………………………………………………………3
1.Khái niệm di chúc và người thừa kế theo di chúc:………………………….3
1.1 Di chúc là gì?..............................................................................................3
1.2. Người lập di chúc:…………………………………………………………..4
II. Di chúc chung của vợ và chồng:…………………………………………….5
1. Lịch sử vấn đề và những thiếu sót, bất cập trong các qui định của pháp luật
hiện hành về di chúc chung của vợ - chồng…………………………………...5
1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề……………………………………………………….5
1.2. Quyền lập di chúc chung của vợ - chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân
trong việc lập di chúc…………………………………………………………….7
1.3. Nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ - chồng………………..8
1.4. Hình thức của di chúc chung của vợ - chồng……………………………10
1.5. Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung………………..13
1.6. Hiệu lực của di chúc chung của vợ - chồng……………………………...18
1.7. Vấn đề chấm dứt sự tồn tại của di chúc chung…………………………..19
III. Vấn đề còn vướng mắc và giải pháp:……………………………………..20
1. Có tiếp tục thừa nhận di chúc chung của vợ, chồng?.................................20
2. Giải pháp:……………………………………………………………………..20
Kết luận:…………………………………………………………………………23
Danh mục tài liệu tham khảo:………………………………………………….24
1
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
1.Khái niệm di chúc và người thừa kế theo di chúc:
1.1 Di chúc là gì?
Di chúc đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân loại, với đủ các hình thức khác
nhau. Ngày nay mỗi nhà nước mỗi hệ thống pháp luật trên Thế Giới lại có những
quy định khác biệt về cùng một quan hệ pháp luật dân sự là hình thức của di chúc.
Sự đa dạng của hình thức di chúc bắt nguồn từ sự phong phú về nhiều vẻ của cuộc
sống con người, từ truyền thống lịch sử của mỗi quốc gia hay từ đặc điểm riêng
biệt của mỗi xã hội
Trong bộ luật dân sự Pháp ( hay còn gọi là bộ luật của Napoleon) quy định rất
chi tiết hình thức của di chúc, từ Điều 967 đến Điều 1001. Hình thức di chúc gồm
3 dạng : di chúc viết tay, công chứng thư, và bí mật di chúc (Điều 969)
Bộ luật Dân sự Nhật Bản thì quy định về hình thức di chúc từ các Đ967 đến
Đ984. Di chúc có các hình thức là viết tay, công chứng, hoặc dưới một dạng tài
liệu bí mật trừ trong một số trường hợp đặc biệt thì cho phép lập di chúc khác
( Đ967).
Theo BLDS Việt Nam thì quy định hình thức di chúc từ DD649 đến Đ661
những nhà làm luật Việt Nam quy định 2 hình thức di chúc là : Di chúc bằng văn
bản( chúc thư) và di chúc bằn miệng ( chúc ngôn).
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản là di sản của mình
cho người khác sau khi chết. Theo quy định này di chúc phải có các yếu tố sau:
•
Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải của bất cứ chủ thể nào
khác
3
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
•
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
1. Lịch sử vấn đề và những thiếu sót, bất cập trong các qui định của pháp luật
hiện hành về di chúc chung của vợ - chồng
1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề
Xem xét trong Bộ luật Hồng Đức và Luật Gia Long thì không thấy có qui định
về vấn đề này. Đối chiếu với Luật La Mã cũng như Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp
thì thấy họ cũng không thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ – chồng ( Điều
968 BLDS của Pháp: “Hai hay nhiều người không được lập di chúc chung để lại di
sản cho người thứ ba hay để lại di sản cho nhau”, Bộ luật Dân sự Pháp, Nxb. Tư
pháp, Hà Nội. 2005, tr. 611).
Tuy vậy, việc lập di chúc chung của vợ - chồng lại được thừa nhận trong tục lệ
của ta từ lâu. Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thực tiễn tục lệ của Việt Nam trong các
xã hội trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ, chồng là hình thức di chúc thông
dụng và việc vợ - chồng cùng nhau lập di chúc chung, là hiện tượng phổ biến thời
bấy giờ ( Vũ Văn Mẫu, Les succesions testamentaires en droit vietnmaien (Thừa kế
theo di chúc trong luật Việt Nam), Luận án Paris, 1948, tr. 67, dẫn theo Nguyễn
Ngọc Điện, Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ. TP
Hồ Chí Minh, 1999, tr.167). Quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất
coi trọng đạo nghĩa vợ - chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết
trong gia đình, nên cũng khuyến khích việc vợ, chồng cùng nhau lập di chúc chung
để định đoạt tài sản chung, và coi đó như là một biểu hiện cao đẹp của sự đoàn kết,
yêu thương giữa vợ - chồng.
Luật thực định thời cận đại cũng đã bắt đầu ủng hộ giải pháp mang tính luân lý
đó. Nghiên cứu các Bộ Dân luật của các chế độ trước, thì thấy các Bộ Dân luật Bắc
và Dân luật Trung đều thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ - chồng ( Điều
313 Dân luật Trung kỳ (tương tự, vấn đề cũng được qui định tại Điều 321 Dân luật
di chúc chung của vợ - chồng là thể hiện nguyên tắc củng cố tình thương yêu, đoàn
kết trong gia đình, nhưng như vậy sẽ gây ra sự mâu thuẫn với các quy định khác về
6
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
di chúc làm nảy sinh nhiều bất cập không thể giải quyết được, thậm chí, còn làm
phá vỡ tính hệ thống của chế định quyền thừa kế.
1.2. Quyền lập di chúc chung của vợ - chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân
trong việc lập di chúc
Điều 646 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 qui định rõ: “Di chúc là sự thể hiện ý
chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
Theo đó, di chúc được xem là phương tiện pháp lý để cá nhân định đoạt tài sản
thuộc quyền sở hữu của mình. Di chúc không thể là giao dịch dành cho mọi chủ
thể hay một cộng đồng chủ thể. Mặt khác, vấn đề thừa kế di sản là vấn đề pháp lý
liên quan tới thân trạng và quyền lợi vật chất của một cá nhân, được tiến hành sau
khi cá nhân chết. Như vậy, Điều 663 qui định di chúc chung của vợ, chồng đã tạo
ra sự mâu thuẫn so với Điều 646 nói trên. Mặt khác, việc thừa nhận di chúc chung
của vợ chồng sẽ dẫn đến các vấn đề pháp lý phức tạp khác rất khó xử lý về mặt kỹ
thuật pháp lý. Ví dụ như xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung, việc
sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung, chấm dứt di chúc chung...
Tuy vậy, nếu thiên về nguyên tắc củng cố tình thương yêu và đoàn kết trong gia
đình, thì việc qui định về di chúc chung của vợ, chồng là điều cần thiết. Cũng cần
phải nói thêm là, trong quan điểm của tục lệ và pháp luật của các chế độ trước, việc
thừa nhận quyền lập di chúc chung không chỉ để củng cố tình thương yêu đoàn kết
trong gia đình, mà việc lập di chúc chung, trước hết, là nhằm tạo ra giải pháp
phòng ngừa, tạo ra sự chế ước đối với người chủ gia đình, theo quan điểm phụ hệ,
để bảo vệ quyền thừa kế của những người thân thích khác trong gia đình (Xem
* Nếu trong di chúc chung vợ - chồng định đoạt cả tài sản chung và tài sản riêng
thì di chúc đó sẽ phát sinh hiệu lực vào hai thời điểm khác nhau. Điều này dẫn tới
việc, chỉ dựa vào một tờ di chúc, người ta phải chia thừa kế nhiều lần trên cùng sản
nghiệp của một người. Từ đó sẽ phát sinh nhiều vấn đề khác, như việc xác định
8
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
người thừa kế bắt buộc, người thừa kế thế vị; sự ra đời của những người mới nằm
trong hàng thừa kế, sau khi một bên vợ hoặc chồng chết mà di chúc chung vẫn
chưa phát sinh hiệu lực; cơ sở để xác định giá trị một suất di sản bắt buộc... là
những vấn đề pháp lý không dễ dàng giải quyết.
- Việc thừa kế lẫn nhau giữa vợ - chồng
BLDS 2005 không qui định rõ những trường hợp bị cấm đoán khi lập di chúc
chung. Điều này sẽ tạo nên những tình huống pháp lý rất khó xử, như việc hai bên
lập di chúc để thừa kế lẫn nhau, thì di chúc đó có hiệu lực hay không? Di chúc vốn
là một loại giao dịch pháp lý đơn phương và không mang tính chất đền bù. Việc
cho phép vợ, chồng khi lập di chúc chung để thừa kế lẫn nhau, đã biến loại giao
dịch này thành giao dịch pháp lý song phương và mang tính chất có đền bù, làm
thay đổi bản chất pháp lý của di chúc. Pháp luật của các chế độ trước tuy có thừa
nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng, nhưng luôn cấm vợ, chồng lập di chúc
chung để thừa kế lẫn nhau. Điều 572 Bộ Dân luật Sài Gòn qui định: “... hai người
không thể cùng làm chung một chúc thư... lưỡng tương đắc lợi” (tức thừa kế lẫn
nhau - Tác giả chú thích). Việc pháp luật hiện hành không cấm đoán vợ, chồng lập
di chúc chung thừa kế lẫn nhau, chẳng những sẽ không đạt được mục đích tăng
cường tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, mà có thể còn gây nên nhiều hệ
luỵ không thể lường trước được, như: sự thông đồng giữa vợ, chồng lập di chúc giả
tạo để che đậy những hành vi trái pháp luật; hoặc làm gia tăng nguy cơ khiến các
chúc chung liên quan tới tài sản của họ vô hiệu, thì họ có được quyền xin hưởng
thừa kế bắt buộc từ phần di sản còn lại của người chết trước trong di chúc chung
được không?
1.4. Hình thức của di chúc chung của vợ - chồng
Di chúc cá nhân được lập theo 1 trong 2 hình thức là di miệng và di chúc viết,
theo những thủ tục rất chặt chẽ. Dường như ý chí của nhà làm luật muốn di chúc
chung sẽ được lập theo những hình thức tương tự như di chúc cá nhân. Nhưng thực
10
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
tiễn cho thấy, các hình thức và thủ tục để lập di chúc cá nhân không phải lúc nào
cũng có thể áp dụng phù hợp cho di chúc chung của vợ, chồng.
- Vợ, chồng có thể cùng nhau lập di chúc chung bằng miệng?
Theo Điều 651, việc lập di chúc miệng chỉ dành cho cá nhân: “Trong trường
hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác
mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”. Do đó, vợ chồng
không thể cùng nhau lập di chúc chung bằng miệng, vì các lý do:
Một là, muốn lập di chúc chung, vợ - chồng phải có sự bàn bạc và thống nhất ý chí
chung trước khi cùng nhau lập di chúc. Trong tình trạng bị cái chết đe dọa thì điều
này là hạn hữu. Khi không có sự thống nhất quan điểm rõ ràng, thì việc lập di chúc
chung sẽ không thể phản ánh đầy đủ và trung thực ý chí cá nhân của mỗi người.
Tình trạng này dễ dẫn đến việc một bên quyết định nội dung di chúc chung theo ý
chí chủ quan của mình mà không có sự thống nhất ý chí với người kia.
Hai là, thủ tục lập di chúc miệng trực tiếp trước mặt hai nhân chứng, không cho
phép hai người phát biểu ý chí cùng một lúc, mà phải từng người phát biểu. Vậy,
sự thể hiện ý chí chung sẽ được biểu đạt bằng cách nào? Nếu từng người trình bày
riêng ý nguyện của mình, thì thực ra, đó là di chúc cá nhân; còn nếu một người đại
người viết xong, rồi sau đó, từng người ký tên vào bản di chúc đó. Vấn đề đặt ra là
di chúc do một người viết và người kia chỉ ký tên hoặc điểm chỉ thì có hiệu lực
pháp luật không? Hoặc mỗi người viết một đoạn để nói về những quyết định của
mình về từng vấn đề khác nhau, rồi sau đó, cùng ký tên vào di chúc thì có được
không? Chúng tôi cho rằng, nếu chỉ một người viết toàn bộ di chúc, rồi cả hai cùng
ký vào bản di chúc thì không đảm bảo thủ tục lập di chúc viết tay, dễ dẫn đến sự
ngụy tạo chữ ký để giả mạo di chúc chung, mà không có cơ sở để giám định bút
tích của người lập di chúc. Nhưng việc cả hai cùng nhau và thay nhau viết bằng
chữ viết của chính mình để định đoạt tài sản chung, thì không thể thực hiện được
12
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
trên thực tế, vì như vậy, tức là hai người phải cùng viết giống nhau về cùng một nội
dung, thành 2 đoạn khác nhau trên tờ di chúc, mà như vậy thì giống với di chúc cá
nhân nhiều hơn. Một bên cũng không thể “uỷ quyền” cho người kia thay mặt để
viết ra toàn bộ di chúc, vì trái với nguyên tắc di chúc viết tay phải được viết trực
tiếp bằng chữ viết tay. Mặt khác, làm như vậy giống như là viết hộ di chúc, nên sẽ
phải tiến hành theo một thủ tục khác, trước mặt ít nhất hai người đủ điều kiện làm
chứng để chứng kiến việc lập di chúc chung.
Tóm lại, pháp luật cần phải qui định hình thức riêng cho di chúc chung của vợ
chồng, chứ không thể áp dụng giống như di chúc của cá nhân. BLDS 2005 chưa
qui định cụ thể vấn đề này là một thiếu sót cần được khắc phục. Tốt nhất, chỉ nên
thừa nhận vợ, chồng được lập di chúc bằng hình thức văn bản có người làm chứng
hoặc văn bản có công chứng, chứng thực.
1.5. Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung
Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng phải dựa
trên nguyên tắc nhất trí. Khoản 2 Điều 664 BLDS 2005 qui định: “Khi vợ hoặc
bảo đảm nguyên tắc nhất trí giữa vợ, chồng với tư cách là các đồng sở hữu chủ của
tài sản chung. Do đó, nếu đã cho phép một bên được tự ý sửa đổi, bổ sung di chúc
chung khi một bên đã chết, thì cũng cần phải công nhận quyền của một bên được
tự mình sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ phần di chúc chung liên quan đến tài sản
của mình, khi không tìm thấy sự đồng thuận của bên kia.
- Thứ ba, qui định trên cũng chưa dự liệu các khả năng khác khiến di chúc phải bị
sửa đổi, bổ sung mà không thể tìm được sự đồng thuận của vợ, chồng do vợ, chồng
đã mâu thuẫn và sống ly thân, ly hôn hoặc do một bên vợ hoặc chồng còn sống,
nhưng đã bị tuyên bố mất tích, bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị mất trí,
bị bệnh lú lẫn tuổi già... khiến cho họ không còn thể hiện được ý chí cá nhân được
nữa. Điều này chưa được qui định rõ ràng trong luật, nên dễ dẫn đến sự lúng túng
14
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
và thiếu nhất quán trong việc áp dụng và thực thi pháp luật liên quan đến vấn đề
vừa nêu.
Suy cho cùng, lập di chúc chung là sự thể hiện tập trung của nguyên tắc củng cố
tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình. Nhưng việc níu kéo các bên vợ chồng,
buộc họ phải nhất trí với nhau, trong hoàn cảnh mâu thuẫn giữa họ không thể dung
hoà được nữa, thì việc lập di chúc chung hay cố giữ lại di chúc chung cũng không
phải là cách hữu hiệu khiến cho họ trở nên thương yêu, đoàn kết với nhau hơn, mà
chưa biết chừng, đó còn là tiền đề làm cho mâu thuẫn giữa các bên càng trở nên
trầm trọng thêm, nhất là khi ý nguyện tự do của một bên (muốn sửa đổi, bổ sung di
chúc chung) bị bên kia khước từ.
1.6. Hiệu lực của di chúc chung của vợ - chồng
Vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc chung vốn đã gây ra rất nhiều tranh cãi
lực dựa vào “cái chết sau cùng”, thì sẽ có ít nhất hai lần “chia thừa kế” đối với di
sản của người vợ hay người chồng chết trước. Lần thứ nhất là chia thừa kế đối với
phần di sản là tài sản riêng hoặc những tài sản chung khác không định đoạt trong di
chúc chung, dựa vào thời điểm mở thừa kế. Lần thứ hai là chia thừa kế phần di sản
định đoạt trong di chúc chung của vợ, chồng, khi di chúc chung có hiệu lực. Người
thừa kế của bên chết trước sẽ phải mất hai lần yêu cầu phân chia di sản và rất có
thể, toà án sẽ phải hai lần thụ lý và giải quyết hai vụ tranh chấp khác nhau trên di
sản của cùng một người. Điều này không chỉ gây khó khăn cho người thừa kế của
người chết trước, làm phức tạp thêm tính chất của vụ việc, mà còn gây khó khăn
cho các cơ quan chức năng trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế (Như việc xác
định di sản của người chết, xác định người thừa kế của người chết trước và việc
thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nếu người chết có để lại món nợ đối với người thứ ba) ,
thậm chí, có thể còn vi phạm nguyên tắc “nhất sự bất tái cứu” trong tố tụng (vụ
việc đã xét xử xong rồi thì toà án không thụ lý, giải quyết lại), vì phải tiến hành xét
xử nhiều lần để phân chia di sản của người chết.
16
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
- Thứ hai, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những
người thừa kế của người vợ hay chồng chết trước
Quyền thừa kế đối với di sản của người chết trước phát sinh từ thời điểm mở
thừa kế, nhưng cho đến khi di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực, những người
thừa kế của người chết trước sẽ không thể yêu cầu phân chia di sản của người chết
đã được định đoạt trong di chúc chung và phần di sản liên quan tới phần nội dung
di chúc chung bị vô hiệu, nếu có; hoặc trong trường hợp người vợ hay người chồng
vẫn còn sống lâu hơn so với tuổi thọ của những người thừa kế hợp pháp của người
chết trước (như cha, mẹ của người chết trước, người thừa kế là con riêng chưa
nội dung di chúc chung vi phạm pháp luật, có dấu hiệu lừa dối, giả mạo... mà
người thừa kế không biết để khởi kiện kịp thời (do di chúc chung chưa được công
bố), đến khi người sau cùng chết mà thời hiệu khởi kiện không còn, thì quyền lợi
của người thừa kế của người chết trước cũng như những người thừa kế hợp pháp
của cả vợ, chồng có được bảo vệ không, cũng chưa được pháp luật qui định rõ.
Vấn đề đã đuợc chúng tôi đề cập trong một bài viết khác về thời hiệu khởi kiện
thừa kế ( Xem: Lê Minh Hùng, Thời hiệu khởi kiện thừa kế - Thực trạng pháp luật
và hướng hoàn thiện, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2004, tr. 40)
- Thứ năm, nếu tình trạng không phân chia di sản kéo dài quá lâu, khiến cho di
sản là tài sản chung không còn nguyên vẹn do bị tiêu huỷ, giảm sút giá trị, hoặc do
sự đầu tư, sửa chữa, tu bổ làm tài sản tăng giá trị, thì hậu quả của nó càng hết sức
phức tạp, việc xác định giá trị của tài sản chung trong trường hợp này sẽ rất khó
khăn, sẽ càng tạo ra nhiều tranh chấp khác rất khó giải quyết.
Như vậy, thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của di chúc chung, không đơn
giản chỉ là căn cứ để phân chia di sản theo di chúc chung, mà sẽ ảnh hưởng tới thời
hiệu khởi kiện, quyền thừa kế di sản của người chết trước, xác định phạm vi những
người thừa kế hợp pháp, xác định giá trị di sản của người chết và những biến động
18
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
của nó... Qua đó, sẽ làm cho việc chia thừa kế theo di chúc chung trở nên khó
khăn, phức tạp thêm.
1.7. Vấn đề chấm dứt sự tồn tại của di chúc chung
Di chúc chung có nhiều tính chất khác biệt so với di chúc cá nhân. Dù vậy, nhà
làm luật vẫn không dự liệu các căn cứ riêng biệt đương nhiên làm chấm dứt di
chúc chung.
trong việc lập di chúc. Nếu thừa nhận di chúc chung, pháp luật có thể đạt được
mục đích tốt đẹp là hướng các bên trong quan hệ thừa kế cần quan tâm hơn việc
tăng cường tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình. Nhưng không nên nhầm
lẫn việc tăng cường đoàn kết trong gia đình với việc phải cùng nhau lập di chúc
chung. Chưa kể việc lập di chúc chung xong rồi lại bất đồng trong việc sửa đổi, bổ
sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung; hay sau khi một bên vợ hoặc chồng chết
trước, nhưng người thừa kế hợp pháp không thể xin phân chia di sản thừa kế hoặc
chia thừa kế bắt buộc... thì có thể còn tạo hiệu ứng ngược. Bởi thế, không nên thừa
nhận loại hình di chúc chung của vợ chồng và cần qui định minh thị trong luật cấm
nhiều người lập di chúc chung, kể cả vợ chồng.
Việc bảo đảm quyền lợi thừa kế của gia đình và của người thân thích không thể
trông đợi vào việc lập di chúc chung, mà đã có các giải pháp khác hữu hiệu hơn,
như thừa kế bắt buộc, tước quyền thừa kế, thừa kế thế vị, thừa kế theo các hàng
thừa kế...
2. Giải pháp :
Dường như kiến nghị bãi bỏ qui định di chúc chung của vợ, chồng là không khả
thi, vì đây là một thực tiễn pháp lý và tục lệ, đã tồn tại từ lâu trong xã hội Việt
Nam. Vấn đề cần thiết hiện nay là, làm sao vẫn duy trì di chúc chung nhưng phải
hạn chế tối đa những rắc rối, phức tạp do việc thừa loại di chúc này mang lại. Bởi
20
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
thế, tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau đây phục vụ cho việc nghiên cứu để sửa
đổi, bổ sung các qui định pháp luật có liên quan tới di chúc chung của vợ, chồng:
- Thứ nhất, cần phải tách vấn đề di chúc chung của vợ chồng ra khỏi di chúc của
cá nhân và thiết kế thành một mục riêng trong chương thừa kế theo di chúc
nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa quyền lợi cá nhân với quyền lợi chung của vợ,
chồng trong việc lập di chúc chung. Người ta không thể bị bắt buộc phải lập di
chúc chung và càng không thể bị bắt buộc phải giữ nguyên nội dung di chúc chung
đã lập, khi không tìm thấy sự đồng thuận ở người bạn đời của mình trong việc sửa
đổi, bổ sung di chúc chung. Cũng cần nói thêm rằng, khi các bên còn sống, di chúc
chung vẫn chưa có hiệu lực, và người ta vẫn có nhiều cách để làm mất hiệu lực của
di chúc chung, mà không cần phải sửa đổi, bổ sung, thay thế hay huỷ bỏ di chúc
chung đó.
+ Luật cần dự liệu các căn cứ cụ thể làm chấm dứt di chúc chung của vợ chồng
một cách đương nhiên, nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để giải quyết các trường
hợp tương ứng, tránh gây ra sự lúng túng, thiếu nhất quán hoặc những tranh cãi
không cần thiết, khi các bên liên quan tiến hành phân chia di sản dựa trên di chúc
chung của vợ - chồng.
+ Cần phải dung hòa giữa quyền của vợ, chồng trong việc lập di chúc chung với lợi
ích chính đáng của những người thừa kế của vợ hay chồng. Thừa nhận thời điểm
phát sinh hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng là thời điểm bên sau cùng chết,
nhưng cũng cho phép những người thừa kế hợp pháp của người vợ hay chồng chết
trước có quyền xin chia thừa kế đối với phần di sản của vợ, chồng không được
định đoạt trong di chúc chung. Đối với phần tài sản đã định đoạt trong di chúc
chung thì cho phép các bên thừa kế bắt buộc được nhận phần di sản bắt buộc, nếu
việc kéo dài tình trạng không phân chia di sản, theo hiệu lực của di chúc chung, có
ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi hợp pháp của họ; đồng thời cần phải xác
định rõ trong luật khoảng thời gian mà di sản chưa được phân chia thì được trừ
22
Họ và tên: Trần Thị Ngọc Nga
MSSV: 361907
vào thời hiệu khởi kiện thừa kế. Và, việc kéo dài thời điểm phát sinh hiệu lực của
3.
4.
5.
6.
Giáo trình luật dân sự Đại học luật Hà Nội
Bộ luật dân sự 2005
Thừa kế theo di chúc trong luật Việt Nam – Vũ Văn Mẫu (Luận Văn)
Luật thừa kế Việt Nam – TS. Phùng Trung Lập
Bộ luật dân sự Nhật bản, Bộ luật dân sự Pháp
Tài liệu trên mạng
24