XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU
MỤC LỤC
1. BÀN VỀ ĐỊNH NGHĨA.
1.1 Vật chưa ai xác lập quyền sở hữu
1.2 Vật vô chủ
1.3 Vật không xác định chủ sở hữu
1.3.1 Vật bị đánh rơi, bỏ quên
1.3.2 Vật bị chôn giấu, chìm đắm
1.3.3 Gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước đi lạc
1.3.4 Các trường hợp khác
2. XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ
HỮU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH.
2.1 Khái quát về sở hữu và quyền sở hữu
2.1.1 Khái niệm sở hữu và quan hệ sở hữu
2.1.2 Khái niệm quyền sở hữu
2.2 Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu theo
quy định của pháp luật VN hiện hành
2.2.1 Nội dung quyền sở hữu
2.2.2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu
2.2.2.1
Đối với vật bị chôn giấu, chìm đắm
2.2.2.2
Đối với vật bị đánh rơi, bỏ quên
2.2.2.3
Đối với gia súc
2.2.2.4
Đối với gia cầm
2.2.2.5
Trong nhóm này chỉ có thể kể đến thú hoang (ví dụ: mèo hoang, chó hoang…);
thú hoang dã (ví dụ: sóc, khỉ trong vườn…); cá, tôm trong tự nhiên… với điều kiện phải
tuân theo các luật lệ về săn bắn và quyền sở hữu được xác lập bằng sự chiếm hữu.
1.2
Vật vô chủ:
Theo Đ139 Bộ luật Dân sự (BLDS) thì những vật mà “chủ sở hữu đã từ bỏ quyền
sở hữu đối với vật đó”, nếu là bất động sản thì thuộc về Nhà nước, chỉ riêng các động sản
được xem như vật vô chủ.
Có hai loại vật vô chủ là vật đã bị chủ sở hữu tuyên bố công khai từ bỏ quyền sở
hữu chết mà không có người thừa kế. Nhưng hai loại này có cách giải quyết khác nhau.
Một được xử lý bằng cách xác lập quyền sở hữu, một được xử lý bằng con đường nhà
nước hưởng tài sản không người thừa kế. Theo đó, một vật trở thành vật vô chủ khi có
một văn bản hoặc tuyên bố, hành động thể hiện rõ ràng sự từ bỏ quyền sở hữu một cách
có chủ ý, người chủ sở hữu phải có mong muốn, dự định từ bỏ quyền sở hữu. Như vậy
một vật cũng bị vứt bỏ có chủ ý, nhưng do chủ sở hữu nhất thời chưa suy nghĩ. Ví dụ như
khi giận, khi tự ái mà ném bọc tiền ra đường; vô tình để sót chiếc nhẫn vàng trong bọc
rác và vứt vào sọt rác… thì vật đó cũng không được xem là vật vô chủ.
1.3
Vật không xác định chủ sở hữu:
Dựa vào hai định nghĩa trên, ta có thể xác định những vật nằm ngoài phạm vi vật
chưa ai xác lập quyền sở hữu và vật vô chủ chính là vật không xác định chủ sở hữu.
Chúng có thể là các trường hợp sau:
1.3.1 Vật bị đánh rơi, bỏ quên:
2
XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU
không phải do cố ý chôn giấu mà bị vùi lấp thì không được xem là vật bị chôn giấu. Ví
dụ: lốc xoáy, bão, lở đất… khiến vật bị vùi sau lớp đất đá.
Vật bị chìm đắm là các vật có tình trạng tương tự vật bị chôn giấu nhưng bị chìm
đắm ở nội thủy, lãnh hải Việt Nam hoặc trôi nổi trên biển hoặc dạt vào bờ biển Việt Nam,
trừ các trường hợp như: bị đắm tàu mà chưa thực hiện việc trục vớt…
1.3.3 Gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước đi lạc:
Gia súc là những vật nuôi có bốn chân, đẻ con, có lông tơ. Ví dụ: trâu, bò, chó,
heo, dê, ngựa…
Gia cầm là những vật nuôi có hai chân, đẻ trứng và có lông vũ. Ví dụ: gà, vịt,
chim…
Ngày nay, người ta nuôi thêm nhiều loại vật nuôi mới (rùa, trăn, rắn, nhện, chuột
hamster…) mà ta khó có thể xác định nó thuộc gia súc hay gia cầm. Dựa vào BLDS có
thể nhận thấy rằng tiêu chí để phân chia ranh giới giữa “gia súc” và “gia cầm” là tuổi thọ
của loài vật, bởi vì với một con vật có tuổi thọ 1 - 2 năm nếu được xếp chung với những
vật nuôi có tuổi thọ 20 – 30 năm mà sự sở hữu được xác lập sau 6 tháng thì thật không
công bằng: 6 tháng của 1 năm và 6 tháng của 20 năm rất chênh lệch. Bên cạnh đó giá trị
kinh tế cũng là một tiêu chí để phân chia: gia súc thường có giá trị kinh tế cao hơn gia
cầm. Vì vậy, những động vật có vòng đời ngắn, giá trị kinh tế thấp sẽ được xếp chung với
nhóm gia cầm và ngược lại. Ví dụ: đà điểu - mặc dù là một loài chim, nhưng chúng nên
được xếp vào nhóm gia súc thay vì gia cầm vì tuổi thọ dài, giá trị kinh tế cao.
Vật nuôi dưới nước là cá, tôm, cua, ghẹ, trai… và cả những động vật lưỡng cư
như cá sấu, ếch…
1.3.4 Các trường hợp khác:
4
5
XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU
Tóm lại, ta có thể định nghĩa “vật không xác định chủ sở hữu” là tài sản vốn
thuộc quyền sở hữu của công dân do người chủ sở hữu đã làm mất, thất lạc do đánh rơi,
bỏ quên, bị đánh cắp… hoặc những vật bị chôn giấu, chìm đắm, hoặc bị mất do những
trường hợp bất khả kháng như chiến tranh, thiên tai… cho đến lúc nhặt được, thu được,
phát hiện được vẫn không biết ai là chủ sở hữu.
2. XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ
HỮU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH:
2.1. Khái quát về sở hữu và quyền sở hữu:
Chế định sở hữu là chế định quan trọng nhất của pháp luật dân sự vì như chúng ta
biết: vấn đề quyền sở hữu mà trước hết là quyền sở hữu về tư liệu sản xuất có quan hệ
chặt chẽ tới lợi ích cơ bản của các giai cấp trong xã hội, vì vậy nó là vấn đề trung tâm của
mọi cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử. Giai cấp bị trị thì lấy việc xác lập quyền sở hữu
của mình đối với tư liệu sản xuất làm mục tiêu đấu tranh, làm yêu cầu của mọi cách
mạng. Giai cấp thống trị thì dùng pháp luật để củng cố và bảo vệ chế độ chiếm hữu tư
liệu sản xuất của giai cấp mình, coi đó là công cụ sắc bén để tiến hành đấu tranh giai cấp
chống các giai cấp đối lập.
Mặt khác trong các quyền tài sản thì quyền sở hữu là quyền quan trọng nhất. Bởi
vì thông thường thì người ta không thể đem bán, cho, trao đổi hay làm di chúc để lại tài
sản ấy và các quan hệ khác nhau như quan hệ về hợp đồng, quan hệ về thừa kế được xác
lập mục đích cũng là để có quyền sở hữu. Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề sở hữu và
quyền sở hữu là rất quan trọng trong pháp luật dân sự.
2.1.1. Khái niệm sở hữu và quan hệ sở hữu:
- Sở hữu là một phạm trù kinh tế chỉ các quan hệ phát sinh trong quá trình chiếm
trên mà ta phân thành các trường hợp sau:
2.2.2.1. Đối với vật bị chôn giấu, chìm đắm (Điều 240 BLDS):
7
XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU
Sau khi trừ chi phí tìm kiếm và bảo quản, quyền sở hữu đối với vật đó được xác
định như sau:
•
Là di tích lịch sử, văn hóa: quyền sở hữu thuộc về Nhà nước; người tìm thấy vật
đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật;
• Không phải là di tích lịch sử, văn hóa:
o Có giá trị đến mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định: thuộc sở
hữu của người tìm thấy;
o Có giá trị lớn hơn mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định: người
tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước
quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do
Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.
Theo Nghị định 31/2012/NĐ-CP, Chính Phủ đã quy định mức lương tối thiểu
chung là 1.050.000 đồng/tháng, tăng 220.000 đồng/tháng so với mức 830.000 đồng/
tháng như trước đây. Nghị định được tính hưởng từ 01/05/2012 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/06/2012.
2.2.2.2. Đối với vật bị đánh rơi, bỏ quên (Điều 241 BLDS):
Khi nhặt được vật bị đánh rơi, bỏ quên, nếu biết ai là chủ sở hữu thì phải thông
báo hoặc trả lại vật cho người đó, nếu không thì phải thông báo công khai hoặc giao nộp
cho UBND xã, phường, thị trấn hoặc cho công an cơ sở gần. Lúc nhận được vật, UBND
Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt
được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra. Nếu gia súc bị thất lạc chỉ sinh ra
được một con thì hai bên sẽ thỏa thuận (chẳng hạn như quy đổi thành tiền). Còn nếu số
gia súc được sinh ra là số lẻ thì con bị lẻ ra được chia tương tự cách chia như trên, để đảm
bảo quyền lợi cho hai bên. Nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc, như bỏ đói, hành hạ, gia súc
bị bệnh nhưng không có biện pháp cứu chữa thì phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu.
Khi chủ sở hữu tới nhận lại thì phải trả cho người chiếm hữu tiền công nuôi giữ và
các chi phí khác (như tiền khám chữa bệnh, tiêm vắc-xin…) cho gia súc.
2.2.2.4. Đối với gia cầm (Điều 243 BLDS):
Căn cứ xác lập quyền sở hữu gia cầm đi lạc tương tự như đối với trường hợp gia
súc. Tuy nhiên do vòng đời của gia súc ngắn hơn và giá trị kinh tế thường thấp hơn gia
súc nên thời hiệu xác lập quyền sở hữu cũng sẽ ngắn hơn. Cụ thể: “Sau một tháng, kể từ
ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì gia cầm đó thuộc sở hữu của
người bắt được”.
Tuy nhiên khác với gia súc, trong thời gian nuôi giữ gia cầm bị thất lạc, người bắt
được gia cầm được hưởng hoa lợi do gia cầm sinh ra. Đó là bởi vì hoa lợi của gia súc
9
XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU
(thường là trứng) có thể được sản xuất ra hàng ngày, giá trị không cao, lại không thể bảo
quản được lâu. Nếu có cất giữ, sau một tháng chủ sở hữu tới nhận thì cũng đã bị hư hỏng
phần lớn. Nói một cách khác, đó là sự “phí phạm”.
Như vậy có thể nói rằng trường hợp chiếm hữu gia cầm đi lạc là một ngoại lệ
trong sự chiếm hữu đối với vật không xác định chủ sở hữu. Sự “nâng cấp” thêm mục
“hưởng hoa lợi” (quyền sử dụng) này là một quyền thiết thực cần phải có. Tuy nhiên, nếu
lật lại vấn đề thì mặc dù pháp luật không quy định nhưng người chiếm hữu có được
quyền hưởng hoa lợi từ gia súc đi lạc hay không? Ngoại trừ một số ít trường hợp như
lông cừu có thời gian tái phục hồi hoa lợi lâu, còn lại như: sữa dê, bò, cừu…; sức kéo của
dưới nước có dấu hiệu riêng biệt để có thể xác định vật nuôi không thuộc sở hữu của
mình thì phải thông báo công khai để chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau một tháng không
có người đến nhận thì vật nuôi thuộc quyền sở hữu của người có ruộng, ao, hồ đó”. Còn
nếu không có dấu hiệu riêng biệt thì chúng sẽ thuộc quyền sở hữu của người có ruộng, ao
hồ.
2.2.2.6 Đối với các trường hợp khác:
Các trường hợp không nằm trong những diện trên thì được quy về cách xử sự theo
nguyên tắc chung đối với vật không xác định chủ sở hữu được quy định tại Đ239 BLDS.
3. NHÌN RA PHÁP LUẬT THẾ GIỚI:
Trên thế giới hiện nay, việc xác định quyền sở hữu đối với những vật không xác
định chủ sở hữu chia làm ba xu hướng chính, mà phân hóa rõ ràng nhất là đối với vật bị
chôn giấu, chìm đắm (không tính trường hợp là vật có giá trị văn hóa, kinh tế, nghệ thuật
và xã hội thì thuộc quyền sở hữu của Nhà nước – vì ở hầu hết các quốc gia đều quy định
như vậy). Đó là:
-
Xu hướng thứ 1: vật tìm được là hoàn toàn hoặc phần lớn giá trị thuộc về
-
người tìm thấy (đại diện là Việt Nam: Đ240 BLDS).
Xu hướng thứ 2: vật tìm được hoàn toàn thuộc về sở hữu Nhà nước (đại diện
là Cộng hòa Pháp: “tài sản vô chủ, vắng chủ là tài sản quốc gia” – Đ539
BLDS).
11
XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU
-
12
XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU
Trong cách giải quyết sự vụ trên, luật pháp cả ba nước đều trước hết bảo vệ quyền
sở hữu chính đáng của người sở hữu. Tuy nhiên nếu quá trình chứng minh không thành
công, rủi ro trong cách giải quyết của Việt Nam và Pháp rất lớn khiến sự việc gay gắt
hơn. Trong khi đó ở Nhật Bản, quyền lợi của người sở hữu bất động sản (anh A) và
người tìm thấy (chị B) được san sẻ công bằng. Do đó nên rủi ro và tính gay gắt được
giảm thiểu đáng kể. Tính nhân đạo và sự khôn khéo trong cách xử lý này của Nhật Bản
rất đáng được các nước học hỏi, đặc biệt là ở các nước đề cao sự đoàn kết, tương thân
tương ái như Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
13
XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI SẢN KHÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ SỞ HỮU
1. Luật Dân sự Việt Nam (lược khảo), tài sản và quyền sở hữu, quy chế đất đai và
2.
3.
4.
5.
6.
7.
quyền sở hữu nhà ở - TS. Nguyễn Mạnh Bách.
Nghiên cứu về tài sản trong luật dân sự Việt Nam – TS. Nguyễn Ngọc Điện.
Từ điển luật học – NXB Từ điển Bách khoa.