Đề 11: Nội dung chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật và thực tiễn thực hiện ở Việt
Nam.
1
A.
ĐẶT VẤN ĐÊ
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐÊ
I. Khái quát chung về người khuyết tật, luật người khuyết tật và chế độ chăm sóc
sức khỏe người khuyết tật:
1. Khái quát chung về người khuyết tật
1.1. Khái niệm người khuyết tật
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy
giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người
khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác.
1.2. Đặc điểm người khuyết tật
Người khuyết tật trước hết là những con người nên họ mang những đặc điểm chung về
mặt kinh tế - xã hội, đặc điểm tâm sinh lí như mọi người khác trong xã hội. Tuy nhiên, với
những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên nhóm người khuyết tật nói chung lại có
những nét đặc thù so với nhóm người không khuyết tật và mỗi nhóm người khuyết tật dạng này
lại có nét đặc thù tương đối so với nhóm người khuyết tật khác.
- Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội:
Từ góc độ kinh tế, khuyết tật là nguyên nhân làm giảm cơ hội việc làm, phát triển kinh
tế; khả năng sống độc lập khó hơn đối tượng khác (phụ thuộc vào gia đình, người thân,..),
không chỉ bản thân người khuyết tật gặp khóc khăn về kinh tế mà còn gặp khó khăn cho gia
đình, cộng đồng.
Từ góc độ xã hội, người khuyết tật gặp khó khăn trong sinh hoạt, học tập, gặp rào cản
trong hòa nhập (gia đình, cộng đồng, học tập,…), có xu hướng thu hẹp, tách biệt cộng đồng.
kiện ánh sáng và môi trường bình thường
4. Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện
với những lời nói, hành động bất thường.
5. Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy
nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc.
6. Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập
gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp được quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.”
Điều 3 Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định về mức độ khuyết tật như sau:
“1. Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc
không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá
nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
2. Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát
hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh
hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.
3. Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.”
3
Nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền của người khuyết tật; nguyên tắc bình đẳng và không
phân biệt đối xử; nguyên tắc tham vấn người khuyết tật, đối tác xã hội và tổ chức xã hội;
nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp nhận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lí đối với người khuyết tật;
nguyên tắc bảo đảm hội nhập và thực thi các cam kết quốc tế.
2.3. Nguồn của luật người khuyết tật Việt Nam
Nguồn của luật người khuyết tật là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành hoặc phê chuẩn theo hình thức, trình tự, thủ tục luật định có chứa
đựng các quy phạm pháp luật người khuyết tật. Sau đây là một số loại văn bản chủ yếu được
coi là nguồn của luật người khuyết tật:
- Văn bản pháp luật: Hiến pháp năm 1992; Luật người khuyết tật năm 2010; Bộ luật lao
động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007); Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi
3.3. Phân loại chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật:
Căn cứ vào chủ thể thực hiện chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, có thể chia chế độ
chăm sóc sức khỏe người khuyết tật thành các loại:
- Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật do Nhà nước thực hiện: Nhà nước là chủ
thể thực hiện chủ yếu, có trách nhiệm chính trong chăm sóc sức khỏe người khuyết tật. Cụ thể,
Nhà nước quy định Bộ lao động, thương binh và xã hội thực hiện quản lý nhà nước, Bộ y tế
thực hiện quản lý về chuyên môn.
- Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật do các tổ chức thực hiện: Các tổ chức thực
hiện chăm sóc sức khỏe người khuyết tật rất phong phú, bao gồm các tổ chức người khuyết tật,
các tổ chức vì người khuyết tật và các tổ chức, đoàn thể khác.
- Chế độ chăm sóc sức khỏe do gia đình và bản thân người khuyết tật thực hiện: Gia đình
người khuyết tật có vai trò rất lớn trong chăm sóc sức khỏe người khuyết tật: giáo dục sức khỏe,
thực hiện các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu bệnh tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương
tích, bệnh tật và các nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật. Bên cạnh đó gia đình còn phải có trách
nhiệm tạo điều kiện để người khuyết tật được chăm sóc sức khỏe, tôn trọng ý kiến của người
khuyết tật. Ngoài ra, hơn ai hết, chính bản thân người khuyết tật hiểu rõ về sức khỏe của mình
và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho bản thân.
Căn cứ vào nội dung các hoạt động chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, có thể chia chế
độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật thành các loại:
- Chế độ phòng bệnh: mục đích của chế độ này là nhằm ngăn ngừa không để khuyết tật
xảy ra hay làm giảm hoặc loại bỏ nguy cơ gây nên khuyết tật. Đồng thời, chế độ phòng bệnh
còn nhằm tăng cường sức khỏe ổn định hơn cho người khuyết tật. Hiện nay, chế độ phòng bệnh
5
cho người khuyết tật chủ yếu tập trung vào các nội dung: tuyên truyền, giáo dục, tư vấn biện
pháp phòng ngừa và phát hiện sớm khuyết tật; phòng bệnh chung và các vấn đề khác.
- Chế độ khám bệnh, chữa bệnh: mục đích của chế độ này là nhằm phát hiện sớm khuyết
tật và chữa trị khi khuyết tật đã phát sinh. Trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, người khuyết
tật được người có chuyên môn thực hiện các biện pháp y tế để chẩn đoán và chỉ định phương
cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, các hoạt động về công
tác phòng bệnh, tổ chức các chương trình giáo dục đặc biệt cho trẻ em khuyết tật …
- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến khuyết tật, do
đó hoạt động phòng ngừa được thực hiện rất đa dạng dựa vào các yếu tố như: dạng dị tật, khả
năng thực tế của địa phương, hoàn cảnh gia đình, nhu cầu của người khuyết tật. Nhưng nhìn
chung, hoạt động phòng ngừa khuyết tật bao gồm: phòng ngừa không để xảy ra khuyết tật;
phòng ngừa để ngăn ngừa tình trạng ốm đau, tai nạn, rủi ro trở thành khuyết tật và phòng ngừa
để ngăn khuyết tật gây nên hậu quả nặng hơn.
- Quản lí sức khỏe: Theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 21 Luật Người khuyết tật,
trạm y tế cấp xã có trách nhiệm cấp hồ sơ theo dõi, quản lí sức khỏe người khuyết tật. Mục đích
của chế độ này nhằm quản lí theo dõi tình trạng khuyết tật ở địa phương, từ đó giúp cơ quan
chức năng đưa ra các giải pháp hợp lí để chăm sóc sức khỏe hiệu quả hơn.
Chăm sóc sức khỏa ban đầu là một trong các lĩnh vực thuộc hoạt động của hệ thống y tế của
mỗi quốc gia và được coi là chìa khóa để đạt được mục tiêu sức khỏe cho các thành viên trong
xã hội, đặc biệt đối với những đối tượng có nhu cầu chăm sóc cao như người khuyết tật. Việc
chăm sóc sức khỏe ban đầu được thực hiện ở địa phương bởi hệ thống y tế địa phương trên tinh
thần phù hợp với nhu cầu người khuyết tật, trong đó tập trung vào các biện pháp tăng cường
sức khỏe, phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi sức khỏe. Chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với
người khuyết tật có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sức khỏe người khuyết tật trong việc ngăn
ngừa khuyết tật, khắc phục khuyết tật hay hạn chế các hậu quả do khuyết tật gây ra.
2.
Khám bệnh, chữa bệnh
Theo tinh thần quy định tại điều 2 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 thì có thể hiểu khái
niệm khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật như sau:
Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ
định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp
điều trị phù hợp đã được công nhận đối với người khuyết tật. Chữa bệnh là việc sử dụng
chữa bệnh. Khi khám bệnh, chữa bệnh người khuyết tật được bảo hiểm y tế thanh toán các chi
phí y tế theo quy định của pháp luật bảo hiểm y tế. Trường hợp họ tham gia loại hình bảo hiểm
khác cũng sẽ được hưởng quyền lợi theo quy định hoặc theo thỏa thuận
Ngoài ra theo quy định tại điều 7 Luật Người khuyết tật thì nhà nước đảm bảo về cơ sở
vật chất và đội ngũ cán bộ y tế trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật.
3.
Phục hồi chức năng
8
Phục hồi chức năng cũng là một trong những nội dung mà pháp luật về chăm sóc sức khỏe
cho người khuyết tật đề cập đến. Luật người khuyết tật năm 2010 đã ghi nhận về phục hồi chức
năng tại điều 24, điều 25, điều 26. Ngoài ra thì vấn đề phục hồi chức năng cho người khuyết tật
còn được quy định tại một số văn bản khác như: công ước số 159 về phục hồi chức năng lao
động về việc làm cho người khuyết tật của Tổ chức lao động quốc tế năm 1983, Công ước về
quyền của người khuyết tật năm 2006 của Liên hợp quốc, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân… Nội dung của phục hồi chức năng bao gồm:
- Phục hồi chức năng thông qua cơ sở chính hình, cơ sở phục hồi chức năng: Nội dung này
được quy định tại điều 24 Luật người khuyết tật 2010. Cơ sở chỉnh hình, cơ sở phục hồi chức
năng đối với người khuyết tật là cơ sở cung cấp dịch vụ chỉnh hình, phục hồi chức năng cho
người khuyết tật. Hiện nay có rất nhiều cơ sở chỉnh hình, cơ sở phục hồi chức năng nhưng căn
cú vào cơ cấu tổ chức thì ta có các cơ sở chỉnh hình, cơ sở phục hồi chức năng sau: Viện chỉnh
hình, phục hồi chức năng, trung tâm chỉnh hình, phục hồi chức năng, khoa phục hồi chức năng
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Với việc quy định có nhiều cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức
năng, Nhà nước đã mở rộng phạm vi hoạt động của các tổ chức phục hồi chưc năng, chỉnh hình
và đồng thời mở rộng cả đối tượng được chỉnh hình, phục hồi chức năng.
- Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng: Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là một
biện pháp thực hiện tại nơi với những người khuyết tật cùng chung sống, nhằm chuyển giao
4.3. Tài chính
Chính sách tài chính hỗ trợ thực hiện chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật được
quy định cụ thể tại khoản 1, 2 Điều 26 Luật người khuyết tật. Theo đó, Nhà nước thực hiện ưu
tiên vay vốn và lãi suất vốn vay, giảm thuế cho các cơ sở sản xuất dụng cụ chỉnh hình, phương
tiện, thiết bị phục hồi chức năng, trợ giúp sinh hoạt, học tập và lao động cho người khuyết tật;
miễn, giảm thuế theo quy định đối với các dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi
chức năng, trợ giúp sinh hoạt, học tập và lao động cho người khuyết tật từ chương trình, dự án
viện trợ không hoàn lại hoặc do tổ chức, cá nhân nước ngoài tặng, hỗ trợ.
4.4 Hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế là con đường ngắn nhất để tiếp thu những kiến thức y học tiên tiến của
các nước trên thế giới trong hoạt động chăm sóc sức khỏe người khuyết tật. Hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực này thể hiện thông qua các hoạt động: Tham gia tổ chức quốc tế; kí kết, gia nhập
và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế liên quan đến chăm sóc sức khỏe người
khuyết tật. Ngoài ra, hợp tác quốc tế còn được thông qua sự hợp tác giữa Việt Nam với các tổ
chức quốc tế, các cơ quan, các tổ chức phi chính phủ... trong việc xây dựng và thực hiện
10
chương trình, dự án liên quan đến chăm sóc sức khỏe người khuyết tật như : tài trợ, hỗ trợ, trao
đổi về tài chính, kinh nghiệm, máy móc thiết bị, đội ngũ cán bộ y tế... nhằm giúp hoạt động
chăm sóc sức khỏe người khuyết tật ngày càng đạt được hiệu quả cao hơn.
III. Thực tiễn thực hiện nội dung chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật ở Việt Nam
Chăm sóc sức khỏe là một trong những hoạt động quan trọng của hệ thống y tế của mỗi
quốc gia và được xem như chìa khóa để đạt được mục tiêu sức khỏe cho mọi công dân, đặc
biệt là người khuyết tật. Hiện nay, công tác chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật đã đạt
được nhiều kết quả quan trong. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục.
Cụ thể:
1.
Một số kết quả đạt được
với người khuyết tật để người khuyết tật không cảm thấy mặc cảm trong xã hội. Thông qua
chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, Việt Nam đã điều tra, phát hiện, tạo điều
kiện quản lý sức khỏe cho hơn 170.000 người khuyết tật, tiến hành biện pháp phục hồi chức
năng cho 23,2% người có nhu cầu và 44,7% người tàn tật, khoảng 50,35% số hộ có người
khuyết tật được hưởng các chính sách hỗ trợ y tế, trong đó 38,17% được khám, chữa bệnh miễn
phí và 45,43% được cấp bảo hiểm y tế, tạo điều kiện cho người khuyết tật có thể khắc phục
được khó khăn và hòa nhập được với xã hội.3
Thứ tư, các chính sách hỗ trợ thực hiện chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật:
+ Nghiên cứu khoa học về người khuyết tật: Nhà nước có chính sách hỗ trợ kinh phí theo dự
án cho cơ quan, tổ chức nghiên cứu về người khuyết tật nên hiện nay việc nghiên cứu khoa học
về người khuyết tật đã đạt được nhiều kết quả: Nhiều trường học đã đưa pháp luật người khuyết
tật vào học tập và nghiên cứu. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã giúp người khuyết tật
hạn chế được khó khăn như năm 2002, TS Nguyễn Hồng Quyền cùng một nhóm các nhà khoa
học trẻ Viện Khoa học Vật liệu đã tiến hành nghiên cứu, cải tiến phần khung xe, bánh lái của
chiếc xe lăn tay thông thường và lắp đặt vào chúng động cơ nam châm đất hiếm NdFeB có
năng lượng lớn, tạo thành chiếc xe lăn điện rất thuận tiện dành cho người khuyết tật…..
+ Đào tạo nguồn nhân lực y tế: Hiện nay Việt Nam đã và đang tiến hành đào tạo nguồn
nhân lực y tế cộng đồng để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người khuyết tật. Nhà nước
tăng cường hỗ trợ kinh phí theo dự án cho các cơ quan, tố chức, đào tạo chuyên gia, kỹ thuật
viên trong lĩnh vực chỉnh hình, phục hồi chức năng…
2 Theo số liệu báo cáo của các Sở Y tế và các bệnh viện điều dưỡng phục hồi chức năng.
3 Theo số liệu của Bộ lao động, thương binh và xã hội.
12
+ Tài chính: Nhà nước có những chính sách ưu tiên, hỗ trợ vốn, giảm thuế cho các cơ sở
sản xuất dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiệt bị phục hồi chức năng, hợp tác với các tổ chức
nước ngoài để có kinh phí hỗ trợ công tác chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật.
13
Thứ nhất, vấn đề thực thi pháp luật của nhà nước: Dù đã có Luật người khuyết tật từ hơn
một năm nay tuy nhiên sự quan tâm và chuyển hóa bằng những việc làm thiết thực, cụ thể và
tầm vóc dành cho người khuyết tật vẫn tồn tại nhiều bất cập, chủ yếu vẫn là những hoạt động
nhỏ lẻ, tự phát trong cộng đồng, chưa thành những cuộc vận động lớn... Việc chỉ đạo và quan
tâm của Chính phủ và các bộ ngành về kinh phí và cơ chế chính sách trong chăm sóc sức khỏe
cũng như trong xây dựng, cải tạo hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng là điều mà người khuyết
tật cũng như cộng đồng vẫn còn chờ đợi hiện nay. Lấy ví dụ trong thực tế vấn đề khám mắt cho
người khuyết tật còn hạn chế, mặc dù được sự giúp đỡ hỗ trợ trực tiếp của nhà nước và những
tổ chức quốc tế trong nhiều năm qua tuy nhiên việc chăm sóc tốt cho số người khuyết tật ngày
càng tăng vẫn chưa được giải quyết triệt để, cần có thời gian để cải tạo cơ sở hạ tầng và kinh
phí, các trung tâm phục hồi chức năng trên địa bàn nhiều tỉnh còn rất thiếu và chưa đáp ứng
được về điều kiện cơ sở vật chất, làm hạn chế sự phục hồi chức năng của những người khuyết
tật, kinh phí cho hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật còn hạn chế, chủ yếu do Bộ
Y tế cấp….Một vấn đề cũng đáng được quan tâm đó là việc thiếu nhân lực cán bộ cho việc
chăm sóc người khuyết tật ở các tỉnh miền núi khó khăn do chế độ phân bố không đều, chủ yếu
tập trung ở đô thị, ở các bệnh viện lớn tại các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, thành
phố Hồ Chí Minh.... Tại các trạm y tế huyện không có bác sỹ chuyên môn, không có khoa
chuyên môn, ít ỏi trang thiết bị và cơ sở vật chất... khiến cho hàng triệu người khuyết tật khó có
cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Thông tin và kỹ năng ngay trong chính cán bộ y tế
cần được tập huấn, nâng cao, đào tạo kỹ lưỡng hơn.
Thứ hai, hạn chế trong nội tại mỗi cá nhân người khuyết tật: Họ thường tự hạn chế quyền
của mình do mặc cảm với cuộc sống. “Có khoảng trên 6 triệu người khuyết tật đang sinh sống ở
vùng nông thôn của Việt Nam. Do phải chịu nhiều kỳ thị, nhiều người khuyết tật thường giấu
mình và không tham gia vào hoạt động xã hội…5.
Thứ ba, về điều kiện khách quan: Người khuyết tật còn khó khăn trong tiếp cận với các dịch
vụ y tế, nhất là người khuyết tật ở vùng sâu, vùng xa khó khăn, điều kiện đi lại không thuận
về bảo vệ, chăm sóc trợ giúp người khuyết tật, phổ biến các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và
can thiệp kịp thời để giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích và
khuyết tật do các nguy cơ khác gây ra; phòng chống phân biệt đối xử đối với người khuyết tật;
nêu gương những tập thể, cá nhân tích cực trong công tác bảo trợ người khuyết tật và người
khuyết tật tiêu biểu vươn lên trong cuộc sống; vận động các tổ chức, cá nhân trong nước và
nước ngoài ủng hộ, trợ giúp người khuyết tật, đồng thời giúp người khuyết tật hiểu rõ quyền,
nghĩa vụ và phát huy vai trò trách nhiệm của mình hoà nhập vào đời sống xã hội.
6 Theo Hội đồng Điều phối Quốc gia về Khuyết tật tại Việt Nam
15
Thứ ba, tăng cường trợ giúp chính sách xã hội cho người khuyết tật, cấp thẻ Bảo hiểm y
tế cho người khuyết tật thuộc đối tượng Bảo trợ xã hội, người mù có hoàn cảnh khó khăn, bệnh
nhân phong; tiếp tục thực hiện tốt việc tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng, chăm sóc và tổ chức
hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất, trợ giúp người khuyết tật trong các hoạt động
tự quản, văn hoá, thể thao và các hoạt động khá phù hợp với lứa tuổi và sức khoẻ của người
khuyết tật. Đồng thời, cần có biện pháp trợ giúp người khuyết tật tiếp cận và sử dụng các thành
quả y tế, chăm sóc sức khỏe nói riêng và các thành quả khoa học kỹ thuật khác nói chung. Việc
chỉ đạo, giám sát thiết kế xây dựng các công trình mới hoặc cải tạo các công trình công cộng về
nhà ở, địa điểm dân cư, trường học, bệnh viên, các khu vui chơi giải trí, các công trình văn hoá
công cộng theo quy chuẩn xây dựng và nhu cầu đặc thù của người khuyết tật giúp cho người
khuyết tật tiếp cận và sử dụng các công trình công cộng được thuận lợi…
C.KẾT THÚC VẤN ĐÊ
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chăm sóc sức khỏe ban đầu…………………………………………………………6
2.
Khám bệnh, chữa bệnh………………………………………………………………7
3.
Phục hồi chức năng…………………………………………………………………..8
4.
Các chính sách hỗ trợ thực hiện việc chăm sóc sức khỏe người khuyết tật………10
III. Thực tiễn thực hiện nội dung chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
ở Việt Nam
1.
Một số kết quả đạt được……………………………………………………………..12
2.
Một số hạn chế………………………………………………………………………14
IV. Một số kiến nghị trong việc thực hiện nội dung chế độ chăm sóc sức khỏe
người khuyết tật ở Việt Nam ………………………………………………………………..15
C.KẾT THÚC VẤN ĐÊ ……………………………………………………………….15
18