Phân tích quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân theo pháp luật hiện hành - Pdf 34

Bài tập lớn học kì

Môn Luật hiến pháp Việt Nam

CẤU TRÚC BÀI TẬP
Đề bài: Phân tích quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công
dân theo pháp luật hiện hành.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận của sự cần thiết ban hành và đảm bảo quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trong hai văn
bản pháp lý - quốc tế quan trọng.
2. Về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Khái niệm quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
3. Tôn giáo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc.
II. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân theo pháp
luật hiện hành.
1. Nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trong
Hiến pháp năm 1992 - đạo luật cơ bản của nhà nước ta.
2. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trong các văn
bản quy phạm pháp luật khác.
* Về pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ

1


Bài tập lớn học kì

Môn Luật hiến pháp Việt Nam

- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (viết tắt là ICCPR) được Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 16/12/1966 (Việt Nam tham gia ngày
24/9/1982), tại điều 18 ghi rõ: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín
ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo
hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ tín ngưỡng, tôn giáo một mình
hoặc trong tập thể với những người khác, một cách công khai hoặc thầm kín
2


Bài tập lớn học kì

Môn Luật hiến pháp Việt Nam

dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo”, “Không một ai bị
ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hoặc tín
ngưỡng”, “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo, tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi
những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ
an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ, đạo đức của công chúng hoặc những quyền
tự do cơ bản của người khác”.
Hầu hết các quốc gia đều ghi nhận và bảo đảm quyền này trong pháp luật.
2. Về tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam. Khái niệm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của công dân.
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội gồm một hệ thống những quan điểm
dựa trên cơ sở tin tưởng và sùng bái những lực lượng tự nhiên, thần thánh, cho
rằng những lực lượng này quyết định số phận con người, con người phải phục
tùng, tôn thờ. Tôn giáo còn là một hiện tượng xã hội, một thành tố văn hóa, một
bộ phận của đời sống tinh thần con người. Trong quá trình tồn tại và phát triển,
tôn giáo có ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, tâm
lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia. Cho đến
nay, ở Việt Nam có nhiều hình thức tôn giáo từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây,
nội sinh và ngoại nhập. Bên cạnh những tín ngưỡng dân tộc: thờ vua Hùng, thờ

thế tục..
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được hiểu là một trong những quyền cơ
bản của công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định
trong Hiến pháp và luật.
3. Tôn giáo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc.
Thực tế lịch sử đã chứng minh những đóng góp tích cực của đồng bào các
tôn giáo vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Để tiếp tục phát huy vai trò
của đồng bào tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và
Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
nhân dân.
Cơ sở, căn cứ để xây dựng hệ thống chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về tín ngưỡng, tôn giáo, đặc điểm tôn giáo và tình hình thực tiễn của cách
mạng. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đoàn kết tôn
giáo, hòa hợp dân tộc, đó là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước
ta. Ngay từ khi mới ra đời, trong chỉ thị của Thường vụ Trung ương về vấn đề
thành lập Hội Phản đế Đồng minh (tháng 11-1930) Đảng ta đã có tuyên bố về
việc tôn trọng tự do tín ngưỡng của quần chúng. Chỉ thị nêu rõ: "... phải lãnh
đạo từng tập thể sinh hoạt hay tập đoàn của nhân dân gia nhập một tổ chức
cách mạng, để dần dần cách mạng hóa quần chúng và lại đảm bảo tự do tính tín
ngưỡng của quần chúng...". Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta
luôn luôn có quan điểm rõ ràng về tín ngưỡng, tôn giáo theo lịch sử phát triển
của dân tộc thể hiện ở nhiều nghị quyết, chỉ thị.... Trong nghị quyết hội nghị lần
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Đảng ta đã chỉ rõ: "Tín ngưỡng,
tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng
dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta”. Như vậy, có thể thấy về vấn
đề tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta thể hiện rõ quan điểm, đó là nhu cầu tinh thần
của một bộ phận nhân dân và đây là vấn đề còn tồn tại lâu dài trong quá trình
phát triển, đi lên của đất nước. Đảng, Nhà nước ta cũng chỉ rõ, cần phải tôn trọng
nhu cầu tinh thần, đồng thời tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín

nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
II. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam theo pháp luật hiện hành.
1. Nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trong Hiến
pháp năm 1992- đạo luật cơ bản của nhà nước ta.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của
công dân được quy định trong Hiến pháp hiện hành - Hiến pháp năm 1992 (được
sửa đổi, bổ sung năm 2001) tại điều 70. Điều 70 quy định các quyền (2 quyền)
về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. So với các
hiến pháp trước. Hiến pháp năm 1992 bổ sung 3 quy định mới là: “Các tôn giáo
đều bình đẳng trước pháp luật”, “Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo
được pháp luật bảo hộ”, “Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.
Những quy định mới này thể hiện chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta
về tín ngưỡng, tôn giáo, coi tín ngưỡng, tôn giáo là việc riêng và quyền tự do của
mỗi cá nhân. Nhà nước không những tôn trọng quyền tự do đó mà còn tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo một cách
đúng đắn, phù hợp với lợi ích của nhân dân, đồng thời cũng nghiêm trị cá nhân,
tổ chức nào xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái chính sách pháp luật của nhà nước. Nội dung
quy định tại điều 70 còn là một đòn giáng trả mạnh mẽ những luận điệu vu cáo,
xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với chính sách tôn giáo của nhà nước ta.
Nhìn chung, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã thể hiên đầy đủ quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo được nêu trong Tuyên ngôn về nhân quyền năm 1948 và
5


Bài tập lớn học kì

Môn Luật hiến pháp Việt Nam


Căn cứ vào những giới hạn của quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo nêu ở
điều 18 ICCPR, các điều 70 Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001,
Điều 47 BLDS năm 2005 và Điều 13 Luật tổ chức của Chính Phủ năm 2002, bên
cạnh quy định cấm các hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời quy định
cấm các hành vi lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm lợi ích của nhà nước,
lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Những hành vi bị
nghiêm cấp còn được nêu cụ thể trong Điều 15 của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn
giáo, Điều 2 Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01-3-2005. Ngoài ra liên quan
đến vấn đề này, Điều 87 BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 quy
định về tội phá hoại chính sách đoàn kết trong đó bao gồm hành vi: “Gây chia rẽ
người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo
với chính quyền nhân dân với các tổ chức xã hội.

* Về Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
Xuất phát từ nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong
thời kỳ đổi mới và yêu cầu thực hiện công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng,
tôn giáo và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, ngày 18-6-2004, ủy
ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI
đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, sau đó ngày 29-6-2004 Chủ tịch
nước đã ký Lệnh công bố Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và có hiệu lực thi
hành từ ngày 15-11-2004. Ngày 01-3-2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng,
tôn giáo. Đây là những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt
động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo có 6 chương, 41 điều đã thể hiện chính sách
dân chủ, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; xác định rõ
quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, trách nhiệm của các cơ
quan quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá
nhân trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc
những việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo do các tôn giáo tự giải quyết theo

với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là có quyền hoạt động hợp pháp. Tổ chức
tôn giáo được thành lập trường đào tạo, mở lớp bồi dưỡng những người chuyên
hoạt động tôn giáo và thực hiện theo những quy định chung về thủ tục mở
trường, lớp.
Nhà nước có trách nhiệm quản lý xã hội, trong đó có tổ chức và hoạt động
tôn giáo. Do vậy, việc đăng ký hoạt động tôn giáo hàng năm với chính quyền địa
phương nhằm giúp các cơ quan chức năng chủ động hỗ trợ cho các hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo có đông tín đồ tham dự, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã
hội.
Người đi tu tại các cơ sở tôn giáo trên cơ sở tự nguyện, không ai được ép
buộc hoặc cản trở. Đối với người chưa thành niên, phải được cha mẹ hoặc người
giám hộ đồng ý. Khi nhận người vào tu, người phụ trách cơ sở tôn giáo có trách
nhiệm đăng ký với ủy ban Nhân dân cấp xã về danh sách người vào tu nhằm đảm
bảo cho người dân thực hiện đầy đủ, đúng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
mình mà không gặp trở ngại. Các hoạt động khác của các tổ chức tôn giáo đều
được tạo điều kiện thuận lợi như: hội nghị thường niên, đại hội hoặc việc giảng
đạo, truyền đạo trong hoặc ngoài cơ sở tôn giáo... Tuy nhiên, hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo có thể bị đình chỉ nếu vi phạm một trong các trường hợp:
xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng
hoặc môi trường; xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản
của người khác hoặc có những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác
làm ảnh hưởng hoặc tác động xấu đến các quan hệ xã hội được Nhà nước bảo
vệ.
Nhà nước bảo hộ những tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo;
tạo điều kiện trong việc quản lý, sử dụng đất có các công trình tín ngưỡng, tôn
giáo cũng như việc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các công trình
thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.
8



Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là chính sách nhất quán của Nhà nước
Việt Nam, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững hướng tới mục tiêu
xây dựng "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" của Việt
Nam. Nhà nước ta đã và đang làm hết sức mình để bảo đảm và thực hiện quyền
con người thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực thi
các biện pháp cụ thể phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm bảo đảm cho người
dân một cuộc sống ngày càng đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần, xây
dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

9


Bài tập lớn học kì

Môn Luật hiến pháp Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2008, 2009.
2. Nguyễn Văn Động, Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp
Việt Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2005.
3. Bộ tư pháp, Việt Nam với vấn đề quyền con người, Nxb. Tư pháp, Hà
Nội, 2005.
4. Nguyễn Văn Động, Các quyền hiến định về xã hội của công dân Việt
Nam hiện nay, Nxb. Tư pháp, Hà nội, 2004.
5. Hiến pháp Việt Nam năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992; năm
1992(được sửa đổi, bổ sung năm 2001).
6. Tìm hiểu Hiến pháp nước Việt nam dân chủ cộng hòa, Nxb. Sự thật, Hà
Nội, 1976.
7. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status