Bài tập học kỳ
MỞ BÀI
Hành vi xâm phạm mồ mả nếu thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội
phạm thì người thực hiện hành vi đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo
BLHS 1999. Theo khái niệm chung mồ mả là nơi chôn cất người chết. Việc
chôn cất được thực hiện theo phong tục tập quán. Mỗi địa phương có cách thức
xây mồ mả hoặc cất giữ hài cốt người chết khác nhau, cho nên chi phí cũng khác
nhau. Vì vậy, khi có hành vi xâm phạm cần phải tính đến các yếu tố tập quán.
Trong phạm vi bài tiểu luận này, em xin chọn đề bài số 31: “Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả”.
Bài làm còn nhiều thiếu sót do kiến thức còn hạn chế và kĩ năng lập luận
chưa vững vàng, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô trong tổ bộ môn
để bài làm của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM MỒ MẢ
1. Một số khái niệm liên quan
1.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trong lịch sử pháp luật thế giới, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là
một trong những chế định có sớm nhất của pháp luật dân sự. Trải qua các thời kì
lịch sử và ở những nước khác nhau, quy định về người phải bồi thường, cách
thức bồi thường, thiệt hại phải bồi thường cũng như mức độ bồi thường… có sự
khác biệt.
Môn Luật Dân Sự module 2
1
Bài tập học kỳ
Bài tập học kỳ
1.2. Khái niệm mồ mả
Phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có từ rất lâu đời. Đó là một
phong tục đẹp, giàu bản sắc, có tính chất giáo dục truyền thống cho các thế hệ.
Tự bản thân phong tục thờ cúng tổ tiên đã mang trong nó những giá trị văn hóa
nhân bản. Chính vì lẽ đó mà người Việt Nam có thể chấp nhận nhiều tôn giáo,
tín ngưỡng khác nhau, nhưng phong tục tốt đẹp này được tồn tại và chấp nhận
như một lẽ đương nhiên của cộng đồng mà không phân biệt tôn giáo, tín
ngưỡng. Chúng ta coi việc thờ cúng tổ tiên cũng chính là việc cầu xin ông bà
phù hộ cho gia đình, dòng họ; cho sự trường tồn của quốc gia, cho “quốc thái
dân an”. Pháp luật thừa nhận quyền tự do tín ngưỡng của công dân; việc thờ
cúng tổ tiên là tự nguyện, không hề có sự áp đặt và quan niệm: “Có thờ có
thiêng, có kiêng có lành” đã in sâu vào người Việt. Hầu hết trong gia đình người
Việt đều có bàn thờ tổ tiên trong nhà. Vì thế việc cất xây mồ mả cho người thân
đã chết thể hiện sự tôn trọng, tình cảm của người sống với người đã khuất, mong
muốn người đã khuất phù hộ độ trì cho con cháu sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt
và ăn nên làm ra.
Đa số ỏ các nơi đều có phong tục lập mồ mả cho người chết nhưng ở mỗi
vùng miền khác nhau, việc này lại thực hiện khác nhau song cùng hướng tới
mục đích lập mồ mả cho người thân thiết của mình để họ có một nơi an nghỉ
cuối cùng được chu đáo.
Theo định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt thì “Mồ mả là nơi chôn cất
người chết”. Tại Nghị định số 35/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/03/2008
về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang không có khái niệm “mồ mả” mà
chỉ có phần mộ của cá nhân là nơi mai táng thi hài, hài cốt của một người
(Khoản 4, điều 2).
Bộ luật dân sự 2005 đã gộp chung hai khái niệm “mồ” và “mả” bởi vì trên
thực tế nếu bóc tách khái niệm này thành hai khái niệm riêng thì cũng rất khó
Môn Luật Dân Sự module 2
Môn Luật Dân Sự module 2
4
Bài tập học kỳ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả là một loại trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Hành vi xâm phạm mồ mả là hành
vi thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động và có lỗi của người xâm
phạm.
Như vậy, có thể khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm
phạm mồ mả như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả là
một loại trách nhiệm pháp lý, theo đó người có hành vi trái pháp luật xâm hại tới
mồ mả phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra.
2. Tính chất đặc biệt của bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả
Tính chất đặc biệt của “Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả” xuất
phát từ truyền thống, một phong tục phổ biến của người Việt từ xưa đến nay.
Người ta quan niệm rằng việc chôn cất mai táng tổ tiên cũng như chọn đất làm
nhà cho người sống, có quan hệ mật thiết mật thiết với cuộc sống tồn vong họa
phúc của con cái. Và việc giữ gìn mộ của tổ tiên, người thân thiết ngoài yếu tố
tình cảm còn chứa đựng yếu tố tâm linh. Vì vậy, việc bảo vệ mồ mả không chỉ là
trách nhiệm của riêng một cá nhân, một gia đình, một dòng họ… mà còn là trách
nhiệm của toàn xã hội. Điều này đã được thể hiện ở việc quy định trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả trong BLDS 2005 và cũng đã được
quy định là khách thể trong BLHS 1999.
Bồi thường thiệt hại trong trường hợp này là một chế định dân sự đặc biệt
bởi nó không chỉ là một nghĩa vụ dân sự thông thường mà còn chứa đựng cả
những quy phạm khác như quy phạm đạo đức… do khách thể trong quan hệ bồi
thường này không chỉ là vật chất mà còn chứa đựng yếu tố đạo đức.
Môn Luật Dân Sự module 2
6
Bài tập học kỳ
là: Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích
hợp pháp của người khác: “Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự
không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi
ích hợp pháp của người khác” (Điều 10, BLDS 2005). Nguyên tắc này buộc các
chủ thể không được xâm phạm, nếu xâm phạm sẽ bị áp dụng cưỡng chế theo quy
định của pháp luật.
Xác lập căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả nói riêng là việc làm cần
thiết để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại và mức độ bồi thường thiệt
hại.
Cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa vào các quy định tại
BLDS 2005:
Điều 307 BLDS 2005 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “1.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về
vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần; 2. Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế,
tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí
hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc
bị giảm sút; 3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm
đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài
việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường
một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại”.
Điều 604 BLDS 2005 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại: “1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng,
hoặc ngược lại đối với một số tội như tội thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc vi
phạm luật lệ giao thông thì phải có thiệt hại nghiêm trọng mới cấu thành tội
phạm. Nhưng trong trách nhiệm dân sự chỉ cần có thiệt hại dù không nghiêm
trọng cũng phải bồi thường. Vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không có thiệt hại thì không phải bồi
thường vì vậy trước tiên cần xác định thế nào là thiệt hại.
Môn Luật Dân Sự module 2
8
Bài tập học kỳ
●
Thiệt hại về tài sản biểu hiện cụ thể nhất là mất tài sản, giẩm sút tài sản,
những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền
với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản. Đây là những thiệt hại vật
chất của người bị thiệt hại.
●
Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao
gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu
nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe.
●
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp
lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do
Bài tập học kỳ
● Thiệt
hại do mồ mả bị san lấp;
● Thiệt
hại do một phần của mồ mả bị xâm phạm như hư hỏng bia ghi tên
người chết gây nhầm lẫn cho những người thân thích của người chết.
Như vậy, thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm
mồ mả là những tổn thất về vật chất thực tế tính được thành tiền cho việc xâm
phạm đến mồ mả. Đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng cấu thành nên trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do mồ mả bị xâm phạm.
1.2. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật
Ở bất kỳ xã hội nào, bảo vệ mồ mả của người chết luôn được quan tâm
bởi mồ mả gắn với yếu tố phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo… Pháp luật
nước ta luôn có những quy định bảo vệ mồ mả của cá nhân, ngăn chặn, trừng trị
người có hành vi cố ý xâm phạm mồ mả của cá nhân. Xâm phạm mồ mả được
định là một tội trong BLHS 1999 quy định về Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài
cốt: “1. Người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ,
trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải
tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm; 2.
Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”
(Điều 246 BLHS 1999). Trong BLDS 2005 cũng quy định về bồi thường thiệt
hại do xâm phạm mồ mả. Như vậy, hành vi xâm phạm mồ mả không chỉ bị xử lý
về mặt hình sự khi đủ điều kiện cấu thành tội danh mà còn phải chịu trách nhiệm
dân sự.
mồ mả của người chết, làm mất dấu tích của ngôi mộ,… khiến không thể xác
định được vị trí của ngôi mộ đó; thay đổi tấm bia ghi tên người chết;
●
Hành vi xâm phạm đến không gian, hình dáng ngôi mộ, tường rào bao
bọc xung quanh ngôi mộ.
Cấu trúc vật chất xây dựng xung quanh ngôi mộ với mục đích bảo vệ ngôi
mộ tránh bị biến dạng được xem là phần không tách rời của ngôi mộ, đặc biệt
mộ được xây trên núi. Việc xâm phạm tới tường rào xung quanh ngôi mộ là một
trong những nguyên nhân gây thiệt hại mồ mả.
Những hành vi sau không bị coi là xâm phạm mồ mả và không phải bồi
thường: Hành vi của cơ quan chức năng có thẩm quyền thực hiện những việc mà
cơ quan có thẩm quyền giao cho như: khai quật mộ để khâm niệm tử thi, di rời
Môn Luật Dân Sự module 2
11
Bài tập học kỳ
ngôi mộ theo quy định khi thân nhân người chết không chịu di rời, đưa mộ liệt sĩ
về nghĩa trang liệt sĩ…
1.3. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành vi
trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra. Điều này được quy định tại
Điều 604 BLDS dưới dạng: “Người nào… xâm phạm… mà gây thiệt hại” thì
phải bồi thường. Ở đây chúng ta có thể thấy hành vi “xâm phạm” đến tính
mạng, tài sản… là nguyên nhân và thiệt hại là hậu quả của hành vi đó. Tuy
thể nói thiệt hại về mồ mả là không có nguyên nhân gây ra, nguyên nhân này có
thể do yếu tố thiên nhiên hoặc do hành vi của con người.
●
Nguyên nhân sản sinh ra kết quả nên là cái có trước kết quả, được sinh
ra trước kết quả. Về nguyên tắc, bao giờ nguyên nhân cũng phải xảy ra trước kết
quả trong một khoảng thời gian xác định và phải là nguyên nhân trực tiếp hoặc
nguyên nhân có ý nghĩa quyết định với thiệt hại xảy ra.
● Cần
phân biệt nguyên nhân với điều kiện bởi bởi điều kiện không sinh ra
kết quả nhưng nó cùng xuất hiện với nguyên nhân. Việc xác định sai lầm sẽ dẫn
đến xác định không đúng chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
xâm phạm mồ mả. Trong mối quan hệ nhân quả, nguyên nhân là yếu tố quyết
định còn điều kiện là yếu tố quan trọng dẫn đến kết quả.
●
Một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy điều kiện cụ
thể và một kết quả có nhiều nguyên nhân khác nhau. Những nguyên nhân này có
vai trò khác nhau trong hình thành kết quả. Do vậy, khi xem xét nguyên nhân
gây thiệt hại về mồ mả chúng ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên
nhân cơ bản, nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân thứ yếu dẫn đến tình trạng xâm
hại mồ mả. Các nguyên nhân này liên kết với nhau tạo ra kết quả, nếu thiếu một
trong các nguyên nhân đó thì kết quả không xảy ra.
1.4. Người gây thiệt hại có lỗi
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi của mình và hậu quả
do hành vi đó mang lại. Khoản 2, Điều 308 BLDS 2005 quy định:
thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung.
Như vậy, bốn yếu tố cơ bản mang tính điều kiện: có thiệt hại xảy ra, hành
vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại là những yếu tố
Môn Luật Dân Sự module 2
14
Bài tập học kỳ
để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và bồi
thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả nói riêng. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố
thì việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại chưa được xem xét một cách
khách quan, toàn diện.
2. Xác định thiệt hại
Thiệt hại là điều kiện đầu tiên làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường. Nguyên
tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại chỉ có thể thực hiện đầy đủ và chính xác khi xác
định “toàn bộ thiệt hại” là bao nhiêu và trên cơ sở đó ấn định mức bồi thường.
Việc xác định thiệt hại không hề đơn giản bởi các quy định của pháp luật về bồi
thường thiệt hại nói chung, thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng là những quy định
mang tính “đính tính” chứ không “định lượng” cụ thể. Mặt khác, ngoài thiệt hại
về vật chất còn có thiệt hại về tinh thần. Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể
mà việc xác định thiệt hại được tính toán khác nhau.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả, tại Điều 629
BLDS 2005 quy định: “Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác gây thiệt hại đến mồ
mả của người khác phải bồi thường thiệt hại. Thiệt hại do xâm phạm mồ mả
gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại”. Ở điều này, pháp luật
không quy định rõ ràng thiệt hại gồm những gì và xác định thiệt hại thuộc về vật
chất. Thiệt hại do hành vi xâm phạm mồ mả gây ra là phần thiệt hại về tài sản
liên quan đến những chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; bao gồm
phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội
Chiều 31/08/2010, UBND quận Hà Đông cho biết, với nỗ lực của các cấp
các ngành và sự tham gia tích cực của các đơn vị thi công tuyến đường Lê Văn
Lương gần khu vực nghĩa trang Đồng Trưa, đã tìm thấy hầu hết những ngôi mộ
bà con phường Dương Nội sau nhiều ngày bị vùi dưới bùn. Theo UBND quận,
sau khi các ngôi mộ phát lộ, người dân và các lực lượng hỗ trợ sẽ tiếp tục tiến
hành tổng vệ sinh, dọn dẹp sạch sẽ bùn đất, trả lại nguyên trạng nghĩa trang
Đồng Trưa. Trước đó, khi nhận được tin báo của người dân, các đơn vị liên quan
đã khẩn trương vào cuộc tiến hành xác minh, làm rõ bản chất vụ việc xâm phạm
mồ mả hay chỉ là vụ đổ trộm phế thải của một số đối tượng. Bên cạnh đó,
UBND quận Hà Đông đã giao UBND phường Dương Nội tổ chức khắc phục
hậu quả; huy động nguồn lực, phương tiện thu gom, vận chuyển bùn đất nạo,
vét, xúc từ nghĩa trang ra đổ tại nơi quy định, trả lại hiện trạng ban đầu cho
nghĩa trang. Các lực lượng chức năng đã tiến hành rà soát toàn bộ 41 dự án đang
thi công trên địa bàn quận Hà Đông và riêng địa bàn Dương Nội có 3 công trình
lớn. Trong số đó có 2 đơn vị đang tiến hành thi công khoan cọc nhồi và có nhiều
bùn đất phát sinh trùng khớp với mẫu bùn đất thu được tại hiện trường. Ngay sau
khi vụ việc xảy ra, chính quyền phường Dương Nội đã cùng với bà con, phối
Môn Luật Dân Sự module 2
16
Bài tập học kỳ
hợp với các chủ đầu tư, đơn vị thi công trên địa bàn nhanh chóng khắc phục hậu
quả. Chủ đầu tư tuyến đường Lê Văn Lương kéo dài – tuyến đường đang được
khẩn trương hoàn thành để chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - cũng là
nạn nhân của việc đổ trộm phế thải nêu trên, đã đề nghị các cơ quan chức năng
nhanh chóng tìm ra thủ phạm để xử lý nghiêm minh trước pháp luật; đồng thời
cũng đã tích cực tham gia cả người và phương tiện, cùng chính quyền và bà con
ông đã thuê xe đào san lấp cho bằng phẳng để xây nhà. Vì sợ đất trên núi hàng
năm hay sạt lở nên ông đã xây một bờ tường, móng đá chẻ chắn ngang phía dưới
chân các ngôi mộ. Mùa mưa năm 2007, mưa kéo dài ngày, nước trên núi đổ
xuống làm sạt lở đất, sụp bờ tường và sạt lở gần hết mộ vợ ông B. Việc mộ bị
sạt lở là do mưa lũ gây ra, là lý do khách quan nên ông không đồng ý bồi
thường.
Ngày 3-6, TAND huyện Sông Cầu xử sơ thẩm đã nhận định việc mộ vợ
ông B. bị sạt lở không phải do lỗi của ông S. Từ đó, tòa đã bác yêu cầu đòi bồi
thường của ông B. Không đồng ý, ông B. lập tức kháng cáo.
Ngày 15-8, TAND tỉnh Phú Yên đã mở phiên xử phúc thẩm vụ án. Tại
phiên xử, tòa nhận định: Việc ông B. cho rằng nguyên nhân làm hư hỏng mộ của
vợ ông do lỗi hoàn toàn thuộc về ông S. là không có căn cứ. Ông S. chỉ có một
phần lỗi gián tiếp mà thôi. Tòa phân tích trên thực tế, việc đào ủi, hạ thấp độ cao
để làm đường quốc lộ 1A đã có từ trước khi ông S. san ủi mặt bằng khu đất của
mình. Sau đó, năm 2002, ông S. thuê xe san ủi cho khu đất bằng phẳng, vuông
vức đã tạo ra độ sâu và khoảng cách nhất định. Ông S. cũng thấy và biết sẽ có
nguy cơ sạt lở đất, gây hư hại mồ mả của người khác nên đã chủ động xây bờ kè,
móng đá chẻ để hạn chế hậu quả có thể xảy ra. Năm 2007, do mưa lớn kéo dài
nhiều ngày, mộ vợ ông B. lại ở khu vực trên cao nên bị sạt lở. Việc này đúng là
có một phần lỗi gián tiếp do việc san ủi đất của ông S. gây ra.
Môn Luật Dân Sự module 2
18
Bài tập học kỳ
Trên cơ sở thiệt hại thực tế được xác định là ba triệu đồng, cuối cùng
TAND tỉnh Phú Yên đã chấp nhận một phần kháng cáo của ông B. và sửa án sơ
thẩm, buộc ông S. phải bồi thường 1/3 thiệt hại (một triệu đồng) do xâm phạm
Bài tập học kỳ
2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật
Trước hết, cần có một văn bản pháp lý xác định rõ khái niệm “mồ mả”.
Xác định hành vi xâm phạm mồ mả là vi phạm pháp luật là việc cần thiết
để có thể xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Do đó cần có một hướng
dẫn cụ thể việc xác định hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật trong xâm
phạm mồ mả.
Pháp luật cần có những quy định rõ ràng, cụ thể về xác định thiệt hại do
mồ mả bị xâm phạm; quyền di rời, bảo quản, trông nom mồ mả.
Nghị định số 35/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/03/2008 Về xây
dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang đã quy định diện tích đất tối đa cho một
phần mộ cá nhân tại Điều 4: “1. Diện tích sử dụng đất cho mỗi mộ hung táng và
chôn cất một lần tối đa không quá 5 m2 ; 2. Diện tích sử dụng đất cho mỗi mộ cát
táng tối đa không quá 3m2 ’’. Vì vậy, Tòa án, chính quyền địa phương cần dựa
vào quy định này để xác định diện tích cho mỗi khu mộ như thế nào là vi phạm.
Tòa án nên linh động trong việc xác định, giải quyết các vụ tranh chấp đất
có mồ mả.
KẾT LUẬN
Như vậy, bài tiểu luận trên đã giúp chúng ta hiểu thêm một phần về vấn
đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả nói riêng theo quy định của pháp luật
dân sự Việt Nam hiện hành.
Môn Luật Dân Sự module 2
20
Nội, quận Hà Đông, Hà Nội..............................................................................................16
1. Một số điểm hạn chế, bất cập ......................................................................................19
2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật..............................................................................20
KẾT LUẬN...............................................................................................................................20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................21
Môn Luật Dân Sự module 2
22