MỞ ĐẦU
Thừa kế là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời
kỳ sơ khai của xã hội loài người. Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và
quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền
hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di
chúc hoặc theo pháp luật. Với ý nghĩa có tầm quan trọng như vậy, nên trong bất kỳ
chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các
chế định pháp luật nói chung và bản thân nó cũng phản ánh phần nào bản chất chế
độ xã hội đó, thậm chí còn phản ánh được tính chất từng giai đoạn trong quá trình
phát triển của một chế độ xã hội nói riêng. Pháp luật nước ta quy định những người
không được hưởng thừa kế theo pháp luật là nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của
những người thừa kế khác khi họ có đủ tiêu chuẩn và điều kiện để được hưởng
phần di sản đó.Vậy những người nào không được quyền hưởng di sản thừa kế theo
pháp luật và tại sao luật lại quy định như vậy, đề tài : “Một số vấn đề về người
không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 BLDS” sẽ
giúp chúng ta tìm hiểu sâu hơn.
NỘI DUNG
I.
Lí luận chung về người không được hưởng di sản thừa kế
Người không được hưởng di sản thừa kế bao gồm cả những người bị
truất quyền thừa kế do người để lại di sản thừa kế truất quyền và người bị tước
quyền thừa kế do pháp luật quy định. Do yêu cầu của để bài là tìm hiểu một số vấn
đề về người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 643
BLDS, nên bài làm dưới đây chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề người bị tước
quyền thừa kế do pháp luật quy định. Nhưng trước hết ta cũng cần tìm hiểu sơ qua
về người bị truất quyền hưởng thừa kế do người để lại di sản thừa kế truất quyền.
1
thừa kế ở đây là do ý chí của người để lại di sản là muốn truất quyền thừa kế của
những người thuộc diện thừa kế.
•
Hệ quả pháp lý của việc truất quyền hưởng di sản của người thừa kế
Bộ luật Dân sự tại Điều 648 đã quy định người lập di chúc có quyền truất
quyền hưởng di sản của người thừa kế, nhưng không đề cập cách thức truất
như thế nào thì mới hợp pháp . Nhìn nhận thực tế, thường thấy rằng việc
truất quyền hưởng di sản có thể được thực hiện bằng cá hình thức:
-
Truất quyền trực tiếp: Theo cách này thì người lập di chúc sẽ nêu rõ trong di
chúc truất(không cho) một cá nhân ( được xác định ) được quyền thừa kế di
sản của mình
Truất quyền gián tiếp: Khi đó Người lập di chúc sẽ định đoạt phần di sản
không chỉ định một cá nhân nhất định để nhận di sản.
Đối với truất quyền trực tiếp thì đã quá rõ ràng, không có gì tranh cãi vì
trong mọi trường hợp họ sẽ không được nhận di sản; nhưng với cách thức truất
quyền gián tiếp sẽ xuất hiện tình huống người lập di chúc không định đoạt hết
tài sản của mình, và phần tài sản còn lại mặc nhiên được đem chia theo pháp
luật vậy liệu những người bị truất quyền hưởng di sản có được thừa kế phần tài
sản hay không? Câu trả lời là không. Tuy nhiên, đối với những người nằm trong
trường hợp được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì dù di
chúc không cho họ hưởng thừa kế thì họ vẫn đương nhiên đợc hưởng một phần
bằng 2/3 một suất thừa kế nếu chia theo luật. Điều đó đã được pháp luật nước ta
quy định rất rõ tại
“Điều 669: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
4
quy định của Bộ luật dân sự tại Điều 667 thì đương nhiên người thừa kế sẽ bị truất
quyền nếu di chúc sau là hợp pháp; thế nhưng nếu như di chúc thứ hai không hợp
pháp thì liệu người thừa kế có bị truất quyền? Tôi cho là sẽ không truất quyền thừa
kế đối với người này bởi hành vi làm vô hiệu di chúc thứ nhất bằng di chúc thứ hai
không hợp pháp, không có giá trị pháp lý nên sẽ không dẫn đến sự vô hiệu của di
chúc đầu tiên.
Như đã nói ở trên, việc truất quyền thừa kế chỉ được đề cập sơ lược, nhưng có
thể thấy việc truất quyền của người để lại di sản gắn liền với di chúc; nên nếu như
lập di chúc với hình thức nào thì việc truất quyền thừa kế cũng phải tuân theo hình
thức đó,có như thế mới đảm bảo tính toàn diện của pháp luật.
2. Người không được hưởng di sản theo quy định của BLDS năm
2005
Theo như nghiên cứu các quy định pháp luật trước đây và những quy định của
Bộ luật dân sự đều thấy rằng người thừa kế thực hiện những hành vi trái pháp luật,
trái đạo đức được liệt kê tại Điều 643 Bộ luật dân sự thì sẽ bị pháp luật trừng trị
bằng cách tước quyền hưởng di sản mà đáng ra họ sẽ được hưởng nếu như không
có các hành vi trên. Việc này là sự trừng trị mà xã hội, nhà nước dành cho họ đồng
thời cũng là lời cảnh cáo cho những hành vi trên của nhưng người hưởng thừa kế
khi họ không thực hiện tốt bổn phận của mình.
Trong quan hệ thừa kế, những người là vợ, chồng, con,…của những người đã
chết hoặc những người được chỉ định trong di chúc là những người được hưởng
thừa kế của người chết. Tuy nhiên trong thực tế có những trường hợp họ đã vi
phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình, có những hành vi trái pháp luật, trái đạo
đức xã hội, trái với thuần phong mĩ tục của nhân dân Việt Nam, xâm phạm đến
danh dự nhân phẩm, uy tín, tính mạng sức khỏe của bố mẹ, anh, em, vợ, chồng,…
5
Khoản 1 Ðiều 643. Người không được quyền hưởng di sản
6
“ Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về
hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm
nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác
nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có
quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản
trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.”
1.
Điểm a Khoản 1 Điều 643 : “Người bị kết án về hành vi cố ý xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ
người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người
đó;”
•
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ
Theo Ðiều 71 Hiến pháp năm 1992 quy định rất rõ về quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân
phẩm. Pháp luật nước ta nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm của công dân.
Toà án có thể ra quyết định H không được quyền hưởng di sản, theo đó tất cả di
sản của ông bà X, Y sẽ do G được hưởng).
•
Cơ sở để không cho người có hành vi ngược đãi nghiêm trọng,
hành hạ người để lại di sản là:
8
-
Hành vi phạm tội đó phải là nghiêm trọng
Đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực bởi các tội được quy
định trong BLHS đó là: Điều 100. Tội bức tử; Điều 110. Tội hành hạ người khác
Hành vi ngược đãi, hành hạ đến người khác ví dụ như: đánh đập, chửi mắng,
dung lời lẽ cay nghiệt để nhục mạ người khác, chói, nhốt người đó….Những
người hành hạ, ngược đãi người phụ thuôc vào mình như con ngược đãi cha, me.
Cháu ngược đãi ông, bà, cô, dì, chú, bác….dẫn đến sự tự sát của người đó thì đều
bị tước quyền hưởng di sản mà người đó để lại.
•
-
Cơ sở không cho người có hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến
danh dự nhân phẩm của người để lại di sản là:
Hành vi phạm tội của người đó là loại tội nghiêm trọng
Đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực về các tội sau: Điều
111. Tội hiếp dâm; Điều 112. Tội hiếp dâm trẻ em;Điều 113. Tội cưỡng dâm. Điều
quyền thừa kế là thời điểm mở thừa kế chứ không liên quan gì đến thời điểm viết
di chúc.
2.
Điểm b Khoản 2 Điều 643: “Người vi phạm nghiêm trọngnghĩa
vụ nuôi dưỡng người để lại di sản”
Vì quy định về tước quyền thừa kế chỉ xảy ra đối với trường hợp di sản thừa kế
chia theo pháp luật cho nên những người bị tước quyền thừa kế chỉ xảy ra đối với
những người thừa kế theo pháp luật, được quy định tại Điều 676 BLDS. Đó là
những người có mối quan hệ: Huyết thống, hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng giữa
người thừa kế với người để lại di sản thừa kế.
- Quan hệ hôn nhân là quan hệ vợ chồng trên cơ sở đăng ký kết hôn
hoặc hôn nhân thực tế theo quy định của pháp luật.
- Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng
máu trực hệ hoặc bàng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ.
+ Quan hệ huyết thống trực hệ: cụ, ông, bà, cha, mẹ đẻ và con đẻ.
10
+ Quan hệ huyết thống bàng hệ: Anh, chị, em ruột; bác, chú, cậu, cô, dì ruột, cháu
gọi ngừơi chết là bác, chú, cậu, cô, dì ruột.
- Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ dựa trên cơ sở nuôi con nuôi hợp
pháp, tức việc nuôi con nuôi phải đăng ký và làm thủ tục tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền theo quy định luật hộ tịch. Trường hợp nhận con nuôi trước năm 1986
Luật hôn nhân gia đình có hiệu lực thì không cần đủ các thủ tục trên, mà được
công nhận là con nuôi thực tế.
Nuôi dưỡng chính là sự chăm lo về vật chất giữa người này với người khác
cho dù họ cùng chung sống hay không. Người thừa kế bị coi là có hành vi vi phạm
Tuy nhiên con riêng và cha dượng, mẹ kế không có mối quan hệ huyết thống
nuôi dưỡng nhưng theo quy định họ lại có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau.
Điều 38 LHNGD. Điều 679 BLDS. Kết hợp hai quy định trên thì chỉ cẩn khi con
riêng và cha dượng, mẹ kế cùng song chung với nhau mới phát sinh nghĩa vụ nuôi
dưỡng giữa họ, và họ được quyền hưởng thừa kế (theo di chúc lẫn theo pháp luật)
của nhau, nếu một bên vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng thì khi bên kia chết trước,
quyền thừa kế của bên vi phạm sẽ bị tước. Nhưng việc cùng sống chung được hiểu
như thế nào lại chưa được pháp luật quy định rõ, cùng sống chung có phải là cùng
nơi cư trú hay không hay còn căn cứ vào sự phụ thuộc về kinh tế, tình cảm giữa họ
việc trên thực tế họ tự nguyện dành cho nhau những khoản tiền, khoản vật chất
khác giúp nhau ổn định cuộc sống. Pháp luật nên quy định nghĩa vụ nuôi dưỡng
giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế không ảnh hưởng đến không gian của họ bởi
lẽ điều đó không ảnh hưởng tới việc nuôi dưỡng. Như vậy, cha dượng, mẹ kế chỉ
có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con riêng của vợ, của chồng khi người con riêng
đó chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật mất khả năng lao động, mất
năng lực hành vi dân sự, không có đủ tài sản để tự nuôi sống bản thân, còn con
12
riêng khi đã sống chung thì phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ dượng, mẹ kế trong
mọi trường hợp
Thứ ba người thừa kế là cháu của người để lại di sản
Thứ tư người thừa kế là ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại của người để lại di
sản
Pháp luật không đương nhiên thừa nhận quan hệ thừa kế giữa cha đẻ, mẹ đẻ
của một người với con nuôi của người đó ( không thừa nhận quan hệ thừa kế giữa
ông bà và cháu trong trường hợp này) bởi lẽ quan hệ thừa kế này chỉ dựa trên mối
quan hệ huyết thống. Theo điểm b Khoản1 Điều 676 BLDS quy định: “Hàng thừa
kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột
vì trong Khoản b Điều 643 BLDS 2005 lại không quy đinh hành vi vi phạm
nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản phải bị kết án. Do vậy việc
đánh giá mức nghiêm trọng của hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại
di sản hoàn toàn phụ thuộc vào sự đánh giá của người có thẩm quyền giải quyết
trên cơ sở các chứng cứ, tình tiết xảy ra trên thực tế. Đó cũng là một điểm hạn chế
và thiếu sót của pháp luật.
Như vậy theo điểm b Khoản 1 Điều 643 BLDS thì người vi phạm nghĩa vụ
nuôi dưỡng người để lại di sản sẽ không có quyền hưởng di sản của người để lại di
sản cho dù hành vi đó đã bị kết án hay chưa.
Điểm c Khoản 3 Điều 643 : “Người bị kết án về hành vi cố ý
3.
xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ
phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng”
Người thừa kế khác ở đây có thể hiều là người thừa kế theo di chúc hoặc thừa
kế theo pháp luật của người để lại di sản. Có thể xảy ra các trường hợp sau đây:
-
Hai người đều được chỉ định là người thưa kế theo di chúc và họ là
hai người duy nhất thuộc diện và hàng thừa kế theo pháp luật của người để lại di
sản.
-
Một người thừa kế sau khi biết được nội dung di chúc đã giết
14
người thừa kế duy nhất theo di chúc hoặc giết tất cả người thừa kế theo di chúc để
15
nêu trên và bản án đó cũng phải có hiệu lực. Nếu một người có hành vi cố ý xâm
phạm đến tính mạng người thừa kế đó thì không những bị tước quyền hưởng di sản
của người để lại di sản mà còn bị tước quyền hưởng di sản của người thừa kế khác
đó ( nếu bản thân người có hành vi xâm phạm đến tính mạng người thừa kế khác
cũng chính là người thừa kế của người mà mình xâm hại)
Và cũng như nêu ở trên, nếu người đó đã được xóa án tích thì vẫn không bị
tước quyền thừa kế.
4.
Điểm d Khoản 4 Điều 643: “Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép
hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa
chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý
chí của người để lại di sản.”
Theo như quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 652 BLDS 2005 một trong
những điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp đó là người lập di chúc không bị
lừa dối đe dọa, cưỡng ép. Như vậy khi người thừa kế có hành vi lừa dối cưỡng ép
hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc thì di chúc đó sẽ không có
hiệu lực, chính điều này là cơ sở để phát sinh các trường hợp thừa kế theo pháp
luật.
Điều 132 BLDS 2005: “Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền
yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm
làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung
của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Ðe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho
phần hoặc toàn bộ nội dung của di chúc. Hành vi hủy di chúc là hành vi dùng thủ
đoạn như xé, đốt, vứt…tác động đến di chúc làm cho di chúc bị phá hủy hoàn toàn,
không còn nguyên vẹn, không thể phục hồi trạng thái ban đầu. Người hủy di chúc
thông thường là những người vừa được chia theo pháp luật vừa được chia theo di
chúc hoặc chỉ được chia theo pháp luật.
17
Cơ sở để tước quyền thừa kế của người có hành vi giả mạo, sửa chữa, hủy bỏ
di chúc là những hành vi này phải trái vơi ý chí của người để lại di sản, như vậy
việc giả mạo, sửa chữa, hủy bỏ di chúc mà không trái với ý chí của người lập di
chúc thì tất nhiên không thể tước quyền của họ. Như vậy đê xác định được có trái
với ý chí của người để lại di chúc hay không thì cần phải xác định được nội dung
của di chúc và ý chí của người để lại di chúc để có thể chứng minh trên thực tế.
Trên thực tế còn xuất hiện rất nhiều trường hợp người thừa kế cố tình giấu di
chúc của người để lại di chúc nhằm có lợi cho mình hay một việc giấu đi một phần
di sản mà người chết để lại, những trường hợp trên đều đi ngược lại với những
nguyên tắc về thừa kế, nhưng hiện tại lại không có quy định tước quyền thừa kế
của những trường hợp trên.
Tất cả những hành vi trên đều làm cho di chúc bị vô hiệu và người thực hiện
hành vi trên đều bị tước quyền thừa kế.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 643 thì những người được quy định theo
Khoản 1 vẫn có thể hưởng di sản thừa kế nếu người để lại di sản đã lập di chúc thể
hiện ý chí vẫn cho họ hưởng di sản. Tức là những người bị tước quyền thừa kế vẫn
được quyền hưởng thừa kế theo di chúc.
IV.
Thực trạng áp dụng và giải pháp hoàn thiện pháp luật trong việc quy
định người không được hưởng di sản
1. Thực trạng áp dụng
Giải pháp hoàn thiện pháp luật
- Hoàn thiện các quy định về thừa kế
+ Quy định về người thừa kế
Pháp luật dân sự nên ghi nhận quy định cá nhân sinh ra và sống được từ 24 giờ
trở lên thì được coi là sinh ra và còn sống, nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm
mở thừa kế thì sẽ được hưởng di sản.
+ Việc thừa kế giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế
Pháp luật nên quy định nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa con riêng và cha dượng, mẹ
kế không phụ thuộc vào điều kiện không gian sống của họ. Hơn nữa, nếu con riêng
và cha dượng, mẹ kế có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau khi cùng sống chung thì nên
19
cho họ vào hàng thừa kế thứ nhất. Vì lúc này nghĩa vụ của họ giống như với cha
mẹ đẻ với con đẻ, cha mẹ nuôi với con nuôi.
+ Tính nghiêm trọng của hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa
những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng với nhau
Chúng ta nên nhìn nhận tính nghiêm trọng đó thông qua các điều kiện, hoàn
cảnh của người bị coi là xâm phạm nghiêm trọng đến nghĩa vụ nuôi dưỡng. Vì nếu
điều kiện hoàn cảnh của họ không đủ nuôi sống chính bản thân họ thì sao họ có thể
thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Những người chỉ được coi là xâm phạm
nghiêm trọng đến nghĩa vụ nuôi dưỡng khi bản thân họ có điều kiện và việc thực
hiện nghĩa vụ trên không làm ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống hiện tại. Chính vì
vậy pháp luật hiện hành cần thừa nhận nội dung của điểm b Mục 2 Nghị quyết của
hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ngày 19 tháng 10 năm 1990 hướng
dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế.
-
Trong thực tiễn áp dụng luật để giải quyết những tranh chấp về thừa kế liên quan
đến xác định người không được quyền hưởng di sản còn rất nhiều khó khăn vướng
mắc. Chính vì vậy pháp luật nước ta cần hoàn thiện hơn về luật thừa kế.
KẾT LUẬN
Vấn đề chia di sản thừa kế từ trước đến nay luôn là vấn đề được nhiều người
quan tâm. Trong thực tế đã có rất nhiều những vụ án thương tâm xảy ra do việc
phân chia di sản của người chết để lại. Nhất là trong thời đại ngày nay, khi nền
kinh tế phát triển, khi các nề nếp đạo đức tốt đẹp đã dần bị mai một thì càng cần
hơn việc có một chế tài hợp lý xử phạt những người không có tư cách để hưởng di
sản thừa kế. Điều đó vừa thể hiện tính nghiêm minh cho pháp luật vừa đảm bảo
công bằng cho những người thừa kế khác khi họ hoàn thành đúng nghĩa vụ mà
pháp luật cũng như đạo đức quy định.
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
Giáo trình Luật dân sự Việt Nam – Trường đại học luật Hà Nội
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Trường đại học luật Hà Nội
Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình – Trường đại học luật Hà Nội
Luận văn thạc sỹ luật học – Người không được quyền hưởng di sản theo quy
5.