QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC CHỦ THỂ CỦA QUYỀN
TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN
Trong tập bài giảng về Quyền Sở hữu trí tuệ của mình, giáo sư Michael Blakeney
(Viện nghiên cứu sở hữu trí tuệ Queen Mary, Đại học London) viết: “Sự phát triển của
một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào khả năng sáng tạo của người dân của quốc gia đó, và
việc khuyến khích khả năng sáng tạo cá nhân và truyền bá nó là điều kiện thiết yếu cho
sự tiến bộ. Quyền tác giả là yếu tố cấu thành quan trọng của quá trình phát triển. Kinh
nghiệm cho thấy, sự giàu có của di sản văn hóa quốc gia phụ thuộc trực tiếp vào trình độ
bảo hộ đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Số lượng các sáng tạo trí tuệ quốc gia
càng nhiều thì danh tiếng của quốc gia ấy càng cao; số lượng các sản phẩm trong văn
học và nghệ thuật càng nhiều thì càng có nhiều cộng sự trong các ngành công nghiệp
giải trí, sách báo, ghi âm; và thực vậy, suy cho cùng thì việc thúc đẩy sáng tạo trí tuệ là
một trong những cơ sở tiên quyết cho mọi sự phát triển xã hội, kinh tế và văn hóa. Bảo
hộ quyền tác giả, từ góc độ của người tạo ra tác phẩm, chỉ có ý nghĩa nếu người tạo ra
tác phẩm thực sự được hưởng lợi từ các tác phẩm đó, và điều này không thể có được nếu
không có sự công bố, truyền bá đó.” Thật vậy, pháp luật của hầu hết các quốc gia đều ghi
nhận tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền tác giả. Việc bảo hộ quyền tác giả góp phần
thúc đẩy sự sáng tạo của con người. Dưới góc độ pháp lý, bảo hộ quyền tác giả là việc
nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, xác lập quyền của chủ thể (có thể là tổ chức, cá
nhân) đối với đối tượng quyền tác giả tương ứng và bảo vệ quyền đó chống lại bất kỳ sự
vi phạm nào từ phía thứ ba.
Các khía cạnh của quyền tác giả:
Vào cuối thế kỷ 18, theo sáng kiến của các nhà triết học vĩ đại như Kant, họ cho
rằng, quyền tác giả không chỉ là một quyền về tài sản mà hơn thế, còn là một quyền về
nhân cách. Tác phẩm không phải là một thứ hàng hóa, mà nó là nhân cách của tác giả và
1
là sự kéo dài chính bản thân con người. Trào lưu tư tưởng đó đã có một ảnh hưởng to lớn
đến sự tiến triển trong các bộ luật về quyền tác giả ở Tây Âu sau này, và đó cũng là
2
2
b) Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi
tác phẩm được công bố, sử dụng;
c) Công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
d) Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên
tạc tác phẩm.”
Nhìn chung, hầu hết các nước đều công nhận ít nhất hai loại quyền nhân thân là:
-
Quyền đứng tên là tác giả của phẩm: khi tác phẩm của một tác giả được xuất bản,
tái bản, truyền tải đến công chúng hoặc trưng bày công khai, người chịu trách
nhiệm làm việc này phải bảo đảm tên của tác giả phải được nêu trong hoặc gắn
-
liền với tác phẩm một cách hợp lý;
Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm: quyền này cấm việc thay đổi, sửa đổi
hoặc thay thế nội dung tác phẩm theo chiều hướng gây phương hại đến danh dự
hoặc uy tín của tác giả.
Theo pháp luật Việt Nam, các quyền nhân thân của tác giả gồm 4 quyền cụ thể
được quy định tại khoản 2 điều 738 BLDS 2005 và điều 19 Luật sở hữu trí tuệ:
-
Quyền đặt tên cho tác phẩm là quyền nhân thân quan trọng đầu tiên, khai sinh cho
-
Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm giúp tác giả bảo vệ tác phẩm trước bất kỳ
sự sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm. Thông qua việc bảo đảm sự toàn vẹn tác
phẩm, pháp luật bảo vệ danh dự và uy tín của tác giả. Bất kỳ sự sửa chữa, xuyên tạc, cắt
xén mà không được sự đồng ý của tác giả đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Quyền
này có thể bị hạn chế trong một số trường hợp và việc không đảm bảo sự không toàn vẹn
của tác phẩm không bị coi là xâm phạm tác phẩm, ví dụ việc trích dẫn vì mục đích nghiên
cứu khoa học, đưa tin, giảng dạy,…( điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ).
Trong số các quyền nhân thân trên có thể chia thành hai nhóm: quyền nhân thân gắn với
tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản. Các quyền nhân thân không gắn với tài
sản là những quyền gắn liền với các giá trị nhân thân của tác giả và không thể chuyển
giao, bao gồm: quyền được đặt tên cho tác phẩm, quyền đứng tên tác phẩm và bảo vệ sự
toàn vẹn của nội dung tác phẩm. Các quyền nhân thân không gắn với tài sản được bảo hộ
vô thời hạn, khác với những quyền khác được bảo hộ có thời hạn (Điều 27 Luật sở hữu
trí tuệ). Trong khi đó, quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm có thể
được chuyển giao cho người khác bởi tác giả hoặc theo thừa kế.
4
Công ước Berne gọi khía cạnh quyền này của quyền tác giả là Quyền tinh thần,
bao gồm quyền đứng tên tác giả và phản đối một số sự sửa đổi và hành vi xuyên tạc khác.
Khoản 1 điều 6 bis Công ước quy định: “Độc lập với quyền kinh tế của tác giả và cả sau
khi quyền này đã được chuyển nhượng, tác giả vẫn giữ nguyên quyền được đòi thừa
nhận mình là tác giả của tác phẩm và phản đối bất kỳ sự xuyên tạc, cắt xén hay sửa
đổi hoặc những vi phạm khác đối với tác phẩm có thể làm phương hại đến danh dự và
tiếng tăm của tác giả.” Công ước Berne chỉ quy định thời hạn bảo hộ tối thiểu đối với các
quyền đó kể từ khi tác giả chết (sau khi tác giả chết, những quyền tác giả được hưởng
Làm tác phẩm phái sinh;
Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
Sao chép tác phẩm;
Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
5
đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng
thông tin điện từ hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Như vậy, Luật sở hữu trí tuệ đã bóc tách quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng để
phân biệt quyền này với quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng những hình
thức gián tiếp mang tính chất kỹ thuật khác.
Xét dưới góc độ truyền thống, quyền sao chép tác phẩm là quyền quan trọng nhất
của tác giả. Việc khai thác, sử dụng tác phẩm thường được thực hiện thông qua sao chép
tác phẩm nguyên gốc. Quyền sao chép tác phẩm là quyền thể hiện lại tác phẩm dưới hình
thức khách quan cho phép những người khác cảm nhận được tác phẩm, chẳng hạn sao
chụp tác phẩm, in các bản sao của tác phẩm,…Quyền sao chép tác phẩm thường chỉ có
thể thực hiện thông qua dạng vật chất nào đó (như sách in, tranh ảnh…). Quyền sao chép
tác phẩm của tác giả dựa trên cơ sở độc quyền, điều này có nghĩa là những người khác
phải tôn trọng quyền của tác giả và không được thực hiện hoạt động sao chép tác phẩm
nếu không có sự cho phép của tác giả, bất kể số lượng là bao nhiêu và mục đích sao chép
là gì. Công ước Berne đã thừa nhận ngoại lệ có thể có đối với quyền sao chép, tức là
quyền này không hoàn toàn là tuyệt đối. Khoàn 2 Điều 9 Công ước quy định: “Luật pháp
quốc gia thành viên Liên hiệp, trong một vài trường hợp đặc biêt, có quyền cho phép sao
in những tác phẩm nói trên (những tác phẩm văn học nghệ thuật được công ước bảo hộ),
miễn là sự sao in đó không được phương hại đến việc khai thác bình thường tác
phẩm hoặc không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến những quyền lợi hợp pháp của tác
giả.
Quyền đối với tác phẩm phái sinh, bao gồm hai nội dung: tác giả tự mình tạo nên
các tập bài giảng được tập hợp theo chủ đề, có bình luận, đánh giá, so sánh …
Khi một người muốn dịch, cải biên, chuyển thể một tác phẩm, họ phải xin phép chủ sở
hữu quyền tác giả gốc, bởi vì những hành vi kể trên là những hành vi sử dụng tác phẩm
mà chủ sở hữu quyền tác giả có quyền cho hay không cho (Khoản 3 Điều 20 Luật SHTT
quy định: “Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền
quy định tại khoản 1 Điều này <các quyền tài sản>, khoản 3 điều 19 Luật này , phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất
khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.”
Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm giúp tác giả thu được
lợi ích kinh tế từ việc sử dụng, khai thác tác phẩm. Nội dung của quyền này được làm rõ
qua hoạt động phân phối và nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.
Phân phối là việc chuyển giao tác phẩm gốc hoặc bản sao tới các cá nhân hoặc tổ chức
khác dưới bất cứ cách thức nào, ví dụ điển hình là việc tổ chức bán hoặc cho thuê các bản
7
sao. Do quyền tác giả có tính chất lãnh thổ nên việc phân phối bản gốc hoặc bản sao chỉ
được thực hiện trong thị trường nội địa, trừ trường hợp quyền tác giả được đăng ký ở
những quốc gia là thành viên của những công ước mà Việt Nam cũng tham gia thì quyền
phân phối được mở rộng ra ngoài lãnh thổ Việt Nam theo quy định của các điều ước quốc
tế đó và pháp luật nước sở tại.
Quyền đối với việc nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao giúp chủ sở hữu quyền tác giả kiểm
soát việc phân phối tác phẩm của mình khi nó được tạo ra ở nước ngoài. Tác giả có
quyền cho phép người khác hoặc tự mình nhập khẩu các tác phẩm được tạo ra ở nước
ngoài, thậm chí hạn chế số lượng tác phẩm được nhập khẩu. Quyền này của tác giả đặc
biệt có ích khi các bản sao tác phẩm được tạo ra ở nước nơi quyền của tác giả này không
được bảo hộ, vì vậy chúng được lưu thông tự do.3
Quyền tác giả cho phép chủ sở hữu cấm người khác bán, cho thuê, chuyển giao,
thuê những bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu. Tuy nhiên, ở nhiều
chúng một cuộc trình diễn; 2. Bản dịch]
1. Tác giả các tác phẩm kịch, nhạc kịch và ca nhạc được hưởng toàn quyền ủy thác quyền :
i. Trình diễn công cộng tác phẩm của mình, sử dụng bất cứ phương tiện hoặc kỹ thuật nào
ii. Truyền phát tới công chúng những cuộc trình diễn đó bằng bất kỳ một phương pháp nào.
2. Các tác giả của các tác phẩm kịch và nhạc kịch trong suốt thời gian sở hữu các quyền đối với
nguyên tác, được hưởng tất cả những quyền nói trên đối với bản dịch các tác phẩm đó của mình
Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao theo điểm đ, khoản 3 điều 738 BLDS chỉ áp
dụng đối với chương trình máy tính. Trong khi đó, Luật sở hữu trí tuệ mở rộng đối với cả
tác phầm điện ảnh ( Điểm e Khoản 1 điều 20). Nội dung chính của quyền này là việc tác
giả của tác phẩm điện ảnh hoặc chương trình máy tính có quyền cho phép hoặc cấm cá
nhân, tổ chức khác thực hiện việc cho thuê bản gốc hoặc bản sao đối với công chúng mà
có hoạt động mang tính chất thương mại qua những bản gốc, bản sao đó. Sở dĩ có quy
định này vì nếu chủ sở hữu quyền đối với tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính chỉ
khai thác tác phẩm hay chương trình của mình dựa vào việc bán bản gốc hoặc bản sao thì
những công chúng có thể lợi dụng để cho thuê thương mại, thu được lợi nhuận mà không
phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ tài chính nào đối với chủ sở hữu bản tác phẩm hoặc
chương trình máy tính.
2. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
9
2.1.
Xác định quyền của các chủ thể của quyền tác giả trong những trường
hợp khác nhau:
Tác giả là người nắm toàn bộ quyền nhân thân (theo quy định tại điều 19 Luật sở
hữu trí tuệ) và một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản trong trường hợp tác giả chính là
công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
Chủ sở hữu quyền tác giả cũng có thể là người được tác giả chuyển giao quyền và
cá nhân/tổ chức này được hưởng toàn bộ các quyền tài sản và quyền nhân thân trừ
-
những quyền nhân thân không thể chuyển giao.
Trong trường hợp tác phẩm khuyết danh mà chưa có tổ chức, cá nhân nào quản lý
(được hưởng quyền sở hữu); trường hợp tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà
chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối
nhận di sản hoặc không được hưởng quyền hưởng di sản; trường hợp tác phẩm
được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao cho Nhà nước, thì chủ sở hữu quyền
10
tác giả chính là Nhà nước. Việc sử dụng những tác phẩm đó sẽ được thực hiện
theo những quy định cụ thể của chính phủ.
Tác giả và chủ sở hữu tác phẩm có độc quyền về quyền tài sản đối với tác phẩm,
nhưng không có nghĩa rằng quyền này là tuyệt đối. Để cân bằng giữa việc bảo vệ lợi ích
của chủ thể nắm giữ quyền tác giả với lợi ích của công chúng nói chung, pháp luật cũng
định ra những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép, có hoặc
không phải trả tiền nhuận bút, tiền thù lao. Các trường hợp này được quy định tại điều 26
và 27 Luật SHTT 2005.
Về thời hạn bảo hộ, trong khi quyền nhân thân (trừ quyền công bố và cho phép
người khác công bố tác phẩm) được bảo hộ vô thời hạn thì quyền công bố, cho phép
người khác công bố tác phẩm và các quyền tài sản được bảo hộ trong một thời gian nhất
định. Thời hạn bảo hộ đối với những quyền đó như sau: (điều 27 Luật SHTT)
-
Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời
Bên cạnh các quyền đối với tác phẩm thì các chủ thể của quyền tác giả cũng phải tuân thủ
những nguyên tắc, quy định chung của SHTT: ví dụ chỉ được thực hiện quyền của mình
trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của LSHTT; không xâm phạm lợi ích
của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác, và
không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan. Các chủ thể cũng có
nghĩa vụ tuân thủ những quy định của Chính phủ về việc cấm hoặc hạn chế chủ thể thực
hiện quyền của họ, hoặc buộc phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một
số quyền của họ đó với những điều kiện phù hợp cũng như việc giới hạn quyền đối với
sáng chế thuộc bí mật Nhà nước trong trường hợp nhằm đảm bảo mục tiếc quốc phòng,
an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội.
3. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của Quyền liên quan đến quyền tác giả.
3.1.
Định nghĩa.
Việc ra đời của một tác phẩm phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực lao động sáng tạo
của tác giả, nhưng để tác phẩm ấy có thể tiếp cận với công chúng, và truyền tải được
thông điệp sáng tạo của tác giả một cách rộng rãi nhất, không thể không nhắc đến vai trò
của những người trung gian, làm cầu nối giữa tác giả và công chúng. Họ có thể là người
thể hiện tác phẩm (người biểu diễn), cũng có thể là người có khả năng đưa tác phẩm tới
công chúng một cách rộng rãi (nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng). Tất
cả những người sử dụng tác phẩm để đưa nó đến được với công chúng cũng cần một sự
bảo hộ cho riêng họ, nhằm chống lại việc sử dụng bất hợp pháp các sản phẩm của mình
trong quá trình truyền bá tác phẩm. Việc bảo hộ này được thực hiện thông qua các quyền
kế cận hay quyền liên quan. Đây là những quyền phát sinh từ quyền tác giả, bổ sung và
tồn tại song song với quyền tác giả.
Sở dĩ nói như vậy vì:
-
Thứ nhất, quyền liên quan được hình thành dựa trên việc sử dụng tác phẩm gốc.
mang chương trình được mã hóa”.
3.2. Nội dung của quyền liên quan.
3.2.1. Quyền của các chủ thể của quyền liên quan
3.2.1.1. Quyền đối với cuộc biểu diễn.
Theo Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm:
“Người biểu diễn” là diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công, và những người khác nhập
vai, hát, đọc, ngâm, thể hiện, diễn xuất hoặc biểu diễn khác các tác phẩm văn học hoặc
nghệ thuật hoặc những thể hiện tác phẩm văn học dân gian;
5
Theo Lê Nết, Tập bài giảng về Quyền sở hữu trí tuệ, NXB ĐHQG Hồ Chí Minh, tr 72, 73
13
Điều 745 BLDS 2005 không quy định trực tiếp quyền của người biểu diễn, mà quy định
gián tiếp thông qua quyền đối với cuộc biểu diễn, với hàm ý là phân biệt quyền của người
biểu diễn và quyền của người đầu tư cho cuộc biểu diễn trong trường hợp người biểu diễn
không đồng thời là người đầu tư cho cuộc biểu diễn. Cũng với ý nghĩa như vậy, khoản 1
điều 29 Luật SHTT quy định: “Người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì có các quyền
nhân thân và các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; trong trường hợp người biểu diễn
không đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư
có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn”. Như vậy, chủ thể quyền đối với cuộc biểu
diễn bao gồm người biểu diễn và chủ đầu tư cuộc biểu biễn (sau đây gọi chung là quyền
của người biểu diễn). Nội dung của quyền bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Trong đó, quyền nhân thân là quyền gắn liền với người biểu diễn và không thể chuyển
giao, quyền tài sản có thể chuyển giao cho cá nhân và tổ chức khác.
Quyền nhân thân (“quyền tinh thần” – Hiệp ước của WIPO) của người biểu diễn
được quy định tại khoản 2 điều 745 BLDS và được cụ thể hóa tại Khoản 2 điều 29 luật
Ngoài ra, việc Luật SHTT sử dụng cụm từ: “phân phối bản gốc hoặc bản sao của cuộc
biểu diễn” không chính xác bằng cách sử dụng cụm từ “phân phối bản gốc hoặc bản sao
bản ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn” mà BLDS sử dụng, do không phù hợp với đặc tính
thực tế của cuộc biểu diễn.
Ngoài ra, Hiệp ước của WIPO còn quy định Quyền cho thuê của người biểu diễn:
“Người biểu diễn được hưởng độc quyền cho phép cho thuê thương mại tới công chúng
bản gốc và bản sao buổi biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm như
được xác định trong luật pháp quốc gia của các Bên ký kết, thậm chí sau khi phân phối
chúng bởi hoặc theo sự cho phép của người biểu diễn.” (điều 9)
Quyền của người biểu diễn đối với việc phát sóng cuộc biểu diễn: là quyền phát
sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình mà
công chúng có thể tiếp cận được. “Người biểu diễn sẽ được hưởng quyền độc quyền cho
phép cung cấp tới công chúng các buổi biểu diễn của mình đã được định hình trong bản
ghi âm bằng các phương tiện hữu tuyến hoặc vô tuyến, theo cách thức mà Bên ký kết
trong xã hội có thể tiếp cận chúng từ một địa điểm và vào thời gian do cá nhân họ lựa
chọn.” (theo Hiệp ước Wipo). Trong trường hợp mục đích buổi biểu diễn đó nhằm mục
đích phát sóng, hay việc phát sóng cuộc biểu diễn đã được định hình thì quyền này sẽ
không còn. Vì cuộc biểu diễn nhằm mục đích phát sóng thì người biểu diễn không thể sử
15
dụng quyền này để ngăn cấm việc phát sóng vì như vậy cũng chính là phủ nhận chính
cuộc biểu diễn. Khi đó, hoạt động này thuộc về nội dung của quyền phân phối cuộc biểu
diễn.
Quyền tài sản của người biểu diễn có thể được chính người này hoặc cá nhân và tổ
chức khác sử dụng. Trong trường hợp này thì phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn
theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật (khoản 4 điều 29 Luật SHTT).
3.2.1.2. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình.
“Nhà sản xuất bản ghi âm” là cá nhân hoặc pháp nhân khởi xướng và có trách
nhiệm đối với việc định hình lần đầu tiên những âm thanh biểu diễn hoặc những âm
thời gian mà họ lựa chọn.
Quyền của tổ chức phát sóng là độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác
thực hiện các quyền sau:
+ Phát sóng, tái phát sóng chương trình của mình.
+ Phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình.
+ Định hình chương trình phát sóng của mình.
+ Sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình theo đúng mục đích đã thỏa
thuận.
3.2.2. Hạn chế quyền:
Các quyền của chủ thể liên quan có thể bị hạn chế nếu vi phạm các nguyên tắc
chung của pháp luật.
Công ước Bern cũng nói rằng: “Việc lưu giữ các bản ghi nói trên tại cơ quan lưu trữ của
nhà nước có thể được luật pháp cho phép nếu bản ghi đó có giá trị đặc biệt về mặt tư
liệu”.
Các quyền tài sản của các chủ thể có liên quan có thể bị hạn chế để đảm bảo sự cân bằng
với lợi ích chung của cộng đồng. Cụ thể:
Điều 32 Luật SHTT quy định các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải
xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
Điều 33 Luật SHTT quy định các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải
xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
Tuy nhiên, người sử dụng không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường
cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương tình phát sóng, và không gây phương hại
đến quyền của các chủ thể liên quan.
3.2.2. Nghĩa vụ của các chủ thể
Để có thể hưởng được các quyền trên, chủ thể kế cận phải thực hiện các nghĩa vụ tương
ứng xuất phát chủ yếu từ đặc trưng của quyền kế cận là phát sinh chủ yếu dựa trên quyền
tác giả. Đây được xem như điều kiện để bảo hộ quyền kế cận.
17
10) Tài liệu điện tử về Quyền sở hữu trí tuệ của Cục sở hữu trí tuệ tại
www.noip.gov.vn/html/.../pdf/ip_panorama_5_learning_points.pdf
11) Giáo sư Michael Blakeney (Viện nghiên cứu sở hữu trí tuệ Queen Mary, Đại
học London) , Tập bài giảng về Quyền Sở hữu trí tuệ (Unit 5_Copyright)
12) TS. Trần Văn Hải, Những bất cập trong quy định của Pháp luật sở hữu trí tuệ
Việt Nam về quyền tác giả.
19