Nêu và lí giải về những điểm khác nhau giữa điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 - Pdf 34

A, ĐẶT VẤN ĐỀ
Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình – tế bào của xã hội. Luật Hôn nhân và gia
đình có nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia
đình tiến bộ, cây dựng chuẩn mực pháp lí cho cách ứng xử của các thành viên trong
gia đình , bảo vệ. Theo đó, nam nữ cần phải có những điều kiện nhất định mới được
kết hôn, để đảm bảo hạnh phúc gia đình và thực hiện được các chức năng của gia
đình. Tuy nhiên , do hoàn cảnh khác nhau nên ở mỗi thời kì, Luật HN&GĐ lại có
những quy định khác nhau về điều kiện kết hôn. Sau đây, em xin tìm hiểu đề tài sau
để làm rõ hơn vấn đề điều kiện kết hôn qua các Luật HN&GĐ của Việt Nam “Nêu và
lí giải về những điểm khác nhau giữa điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia
đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000”
B, NỘI DUNG CHÍNH:
1, Giải thích từ ngữ:
- Kết hôn : theo khoản 2 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định “ kết hôn là
việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết
hôn và đăng kí kết hôn”. Như vậy, kết hôn dưới góc độ pháp lí là một sự kiện pháp lí,
gồm 2 chủ thể (1 nam, 1 nữ), xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định pháp luật, bao
gồm quy định về điều kiện nội dung (điều kiện kết hôn) và điều kiện về hình thức
(đăng kí kết hôn).
- Điều kiện kết hôn: theo quy định tại điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định
thì nam nữ muốn kết hôn với nhau phải tuân thủ 3 điều kiện : tuổi kết hôn, sự tự
nguyện của 2 bên, việc kết hôn không thuộc trường hợp cấm theo quy định tại điều 10
của luật này. Đây là một trong hai nhóm điều kiện để hôn nhân trở thành hôn nhân
hợp pháp. Tuy nhiên, nam nữ có đủ điều kiện kết hôn như trên mà không tiến hành
đăng kí kết hôn đúng quy định thì vẫn không được coi là hôn nhân hợp pháp.
2. Nêu và lí giải về những điểm khác nhau giữa điều kiện kết hôn theo quy
định tại 3 văn bản Luật:
2.1 Điều kiện về tuổi kết hôn:
- Căn cứ pháp lí :Luật HN&GĐ năm 1959 quy định tuổi kết hôn tại Điều 6 “Con
gái từ 18 tuổi, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn”, Luật HN&GĐ năm 1986

nào được ép buộc bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.”, Luật HN&GĐ
năm 2000 quy định tại khoản 2 Điều 9 “ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết
định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản
2


trở”. Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định thêm yếu tố lừa dối cũng là một
căn cứ vi phạm sự tự nguyện.
- Nhận xét và lí giải: như vậy qua cả ba văn bản Luật đều ghi nhận sự tự nguyện
của nam và nữ trong hôn nhân là một điều kiện quan trọng. Tự nguyện hoàn toàn
trong việc kết hôn là hia bên nam nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí
muốn trở thành vợ chồng của nhau. Mỗi bên nam nữ không bị tác động bởi bên kí hay
của bất kì người nào khiến họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ. Sự thể hiện ý
chí phải thống nhất với ý chí. Hai bên nam nữ mong muốn trở thành vợ chồng xuất
phát từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích cùng nhau xây dựng gia đình. Sự
tự nguyện của các bên là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại lâu
dài và bền vững. Để đảm bảo cho hôn nhân tự nguyện, pháp luật quy địn việc kết hôn
phải không có hành vi ép buộc, lừa dối của hai bên, hoặc hành vi cưỡng ép, cản trở
của bên thứ ba. Điểm khác biệt là ở Luật HN&GĐ năm 2000 có quy định thêm yếu tố
“ lừa dối” là căn cứ để xác định sự vi phạm sự tự nguyện. Sở dĩ, đến Luật năm 2000
mới quy định thêm yếu tố này ngày càng có nhều hiện tượng nam hoặc nữ, dùng thủ
đoạn, hoặc cố tính giấu giếm những điều mà đáng lẽ người kia cần được biết… làm
ảnh thưởng xấu đến cuộc sống và quyền lợi của người kết hôn. Theo nghị quyết số
02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì
lừa dối được hiểu là ……. Ví dụ : lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc
nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài, không có khả năng sinh lí nhưng cố tình giấu
… và bên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn.
2.3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn:
- Căn cứ pháp lí: Luật HN&GĐ năm 1959 quy định Điều 5 “cấm người đang có

đỡ nhau. Luật cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống với người
khác như vợ chồng nhằm chống ảnh hưởng lối sống của xã hội tư sản trong hôn nhân.
Người đang có vợ hoặc có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác sẽ ảnh
hưởng tới quyền lợi của người vợ hoặc người chông hợp pháp của họ, đồng thời ảnh
hưởng tới lối sống lành mạnh trong gia đình và trong xã hội, ảnh hưởng tiêu cực tới
xây dựng chế độ hôn nhân gia đình mới xã hội chủ nghĩa. Như vậy, theo quy định của
Luật HN&GĐ thì người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác thì việc kết
hôn của họ đã vi phạm điều cấm kết hôn và việc kết hôn đó là trái pháp luật.
+, Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định trực tiếp cấm kết hôn với người bị
“loạn óc và đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình”
vì những người có biểu hiện như vậy đã được quy định tại khoản 2 Điều 10 “ Người
4


mất năng lực hành vi dân sự”. Quy định như vậy sẽ tổng quát, hợp lí hơn. Và đây
cũng là thuật ngữ pháp lí được sử dụng ở nhiều ngành luật khác tạo nên tính hệ thống
và đồng đều, tránh nhầm lẫn, rắc rối và phức tạp.
Theo quy định tại Điều 22 BLDS 2005 :người mất năng lực hành vi dân sự là
người “do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ
được hành vi của mình”. Như vậy, những người này không thể nhận thức và làm chủ
được hành vi của mình thì không thể thể hiện ý chỉ của họ một cách đúng đắn trong
việc kết hôn, như thế, không thể đánh giá được sự tự nguyện của họ. Hơn nữa, khi kết
hôn, theo Luật HN&GĐ, họ phảo thực hiện nghĩa vụ đối với vợ, chồng, đối với các
con. Nhưng những người mất năng lực hành vi dân sự thì không thể nhận thức và thực
hiện được trách nhiệm của mình. Do vậy, nếu cho họ kết hôn sẽ ảnh hưởng tới quyền
lợi của vợ, chồng con cái họ. Đồng thời, cấm kết hôn trong trường hợp này còn đảm
braqo cho con cái của thế hệ sau sinh ra được khỏe mạnh, đảm bảo giống nòi phát
triển tốt.
+, Điều 9 Luật HN&GĐ năm 1959 ( đã nêu ở trên) đã mở rộng phạm vi kết hôn
giữa những người có họ trong phạm vi năm đời hoặc có qua hệ thích thuộc về trực hệ.

nuôi con nuôi.
+, Trong Luật HN&GĐ năm 1959 và 1986 đều quy định cấp người mắc bệnh hoa
liễu không được kết hôn, Luật HN&GĐ năm 1959 còn cấm kết hôn với người bất lực
hoàn toàn về sinh lí; mắc một trong các bệnh hủi, loạn óc, mà chưa chữa khỏi. Nhưng
Luật HN&GĐ năm 2000 không cấm các đối tượng này kết hôn. Sở dĩ có sự thay đổi
như vậy vì với trường hợp bỏ cấm đoán kết hôn đối với người đang mắc bệnh hoa
liễu, bệnh hủi (và chúng ta liên tưởng đến cả người nhiễm HIV-AIDS) mang nhiều ý
nghĩa nhân đạo. Bởi lẽ, những căn bệnh trên không thể là lý do để tước bỏ quyền kết
hôn của công dân khi họ có tình yêu thương và thật sự tự nguyện chấp nhận cuộc sống
lứa đôi trong hoàn cảnh bệnh tật khó khăn đó. Mặt khác, đối với y học ngày nay thì
việc ngăn ngừa sự lây lan và chữa trị bệnh hoa liễu không còn là nan giải nữa.
+, Việc không có quy định trực tiếp cấm kết hôn giữa hai người là anh chị em
cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha cần được hiểu như thế nào? Những người
này có liên hệ về huyết thống, do đó căn cứ đoạn 2, mục 3 Điều 10 Luật HN&GĐ
năm 2000 thì họ thuộc diện có họ trong phạm vi ba đời, không được kết hôn với
nhau. Hiểu như vậy là theo đúng lô-gíc: giữa những người có họ trong phạm vi ba đời
(bao gồm trực hệ và bàng hệ) đều bị cấm kết hôn, trong đó anh chị em cùng cha khác
mẹ hoặc cùng mẹ khác cha thuộc trường hợp không thể cho kết hôn với nhau được.

6


+, Về các trường hợp cấm kết hôn thì ngoài việc làm rõ thêm các quy định đã
có, trong điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000 còn thể hiện một sự điều chỉnh và bổ sung
rất đáng kể. Như tại khoản 4 Điều 10 nêu trên đã bổ sung thêm việc cấm kết hôn giữa
“bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với
con riêng của chồng”. Đây là bổ sung sáng suốt góp phần bảo vệ nền tảng đạo đức, sự
trong sáng, lành mạnh và tôn ti trật tự trong quan hệ gia đình mang bản sắc luân lý đặc
trưng của dân tộc Việt Nam.
+, Luật HN&GĐ 2000 bổ sung thêm trường hợp cấm kết hôn giữa “những người

Như vậy, khi những người này yêu cầu đăng kí kết hôn thì cơ quan đăng kí từ
chối việc đăng kí kết hôn, trong trường hợp họ đã đăng kí kết hôn mà có chứng cứ cho
rằng họ cùng giới tính thì khi có yêu cầu, việc kết hôn này sẽ bị hủy. một số trường
hợp không đăng kí kết hôn mà tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau thì các cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội trong việc giáo dục, vận động chấm dứt việc chung sống đó.
Những người ủng hộ hôn nhân đồng giới dựa trên quyền chung của con người,
bình đẳng trước pháp luật. Những người phản đối thường dựa vào việc từ hôn nhân
có bao gồm cả các cặp cùng giới hay không. Các lý do khác là tác động trực tiếp và
năm 2001. Sau đó chín quốc gia khác (Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Na Uy ,
Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Iceland và Argentina…..) cũng cho phép hôn nhân đồng
giới.
Ngoài những điểm khác nhau trên đây, xin được mở rộng ra trường hợp kết hôn
có yếu tố nước ngoài: Luật HN&GĐ năm 1959 không có quy định về trường hợp này.
Đến Luật HN&GĐ năm 1986 đã dành hẳn một chương để quy định về trường hợp
này, trong đó điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 52, kế thừa quy định này Luật
HN&GĐ năm 2000 quy định tại Điều 103. Kết hôn có yếu tố nước ngoài. Có thể thấy
rằng, theo quy định tại luật HN&GĐ năm 1959 và năm 2000 thì công dân Việt Nam
và công dân nước ngoài muốn kết hôn với nhau đều phải tuân theo quy định của pháp
luật của nước mình về điều kiện kết hôn, hơn nữa, nếu việc kết hôn này được tiến
hành ỏ Việt Nam thì người nước ngoài cũng phải tuận theo các quy định về điêu kiện
kết hôn theo Luật HN&GĐ của Việt Nam. Luật HN&GĐ năm 2000 đã mở rộng hơn
về việc quy định trường hợp những người nước ngoài kết hôn tại Việt Nam thì cũng
phải tuân theo các điều kiện kết hôn theo luật này. Sở dĩ Luật HN&GD năm 1959
chưa quy định về trường hợp này vì thời kì này, các cuộc hôn nhân có yếu tố nước
ngoài vẫn còn gặp nhiều yếu tố hạn chế, xuất phát từ đặc điểm hoàn cảnh chiến tranh
loạn lạc, nên các cuộc kết hôn có yếu tố nước ngoài chưa được điều chỉnh bởi pháp
luật, thường mang tính chất xã hội, các cá nhân sống với nhau như vợ chồng mà
8



yêu cầu chính quyền cho đăng ký kết hôn thì cán bộ hộ tịch không tìm ra quy định
9


pháp luật để giải quyết. Còn đôi uyên ương lại lý sự: “Chúng tôi được làm những gì
pháp luật không cấm!”. Như vậy là rất khó xử lí.
Ngoài ra, vấn đề hôn nhân đồng giới cũng cần phải được quy định rõ rang hơn.
Và có nên chăng việc thừa nhận hôn nhân đồng giới? đây là vấn đề còn nhiều tranh
cãi. Nhưng theo ý kiến cá nhân thì em có quan điểm rằng : về mặt pháp lí, con người
có quyền bình đẳng với nhau, những người cùng giới cũng hoàn toàn giống những
người bình tường về năng lực hành vi và năng lực pháp luật, cấm họ kết hôn với nhau
như vậy là hạn chế quyền công dân của họ. Hơn nữa, về mặt thực tiễn, số lượng người
đồng tính đăng ngày càng tăng lên, và có hiện tượng nhiều đôi đã công khai chung
sống với nhau, cưới nhau dù không được pháp luật thừa nhận.Ví dụ đám cưới đồng
tính nữ đầu tiên ở Việt Nam vào 14.12.2010 ở Hà Nội được tổ chức Quang Minh (con
gái, tự đổi tên mình cho giống con trai) và Thùy Linh. Đám cưới đồng tính nam đầu
tiên diễn ra hôm 4-6-2011,tại thành phố Hồ chính minh giữa Phi và Pin (tên thân mật
của "chú rể"và cô dâu). (2)
Như vậy, vô hình chung là có những mối quan hệ xã hội đã không được luật pháp
điều chỉnh. Trước thực trạng đó, cần có những quy định của pháp luật để điều chỉnh
mối quan hệ này.
Bên cạnh đó, việc quy định tuổi kết hôn như phần trên đã nêu cũng có nhiều bất
cập. Vì đối với nữ giới thì 17 tuổi 1 ngày đã đủ điều kiện kết hôn, nhưng họ lại chưa
đủ năng lực hành vi dân sự, như vậy, khi tham gia các giao dịch dân sự vẫn cần có
người đại diện. Vậy là chưa thật hợp lí, cần có sự thống nhất giữa Luật HN&GĐ và
Luật dân sự.
KẾT LUÂN:
Qua những phân tích trên đây, ta đã những điểm khác nhau giữa điều kiện kết
hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Từ đó thấy được những điểm tiến bộ của Luật

KẾT LUÂN……………………………………………………………………..10

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status