Cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở một nguồn lực quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta - Pdf 34

Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học
xã hội và nhân văn

Viện khoa học xã hội việt nam
Viện Triết học

Phạm Thị Phượng

Cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở - Một nguồn lực quan trọng
trong việc xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta
( Dựa trên thực tiễn đào tạo và sử dụng đội ngũ CBQLVH cấp
cơ sở ở tỉnh Thanh hóa)

Luận văn thạc sĩ triết học

Hà nội 2009


Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học
xã hội và nhân văn

Viện khoa học xã hội việt nam
Viện triết học

Phạm Thị Phượng

Cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở - Một nguồn lực quan trọng
trong việc xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta
( Dựa trên thực tiễn đào tạo và sử dụng đội ngũ CBQLVH cấp


triển kinh tế xã hội
I.1.1

Quan niệm về văn hóa

8

I.1.2.

Vai trò của văn hóa

17

1.1.3

Những yếu tố cơ bản tác động đến quá trình xây dựng nền văn

26

hóa mới
1.2.

Cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở - quan niệm, tiêu chuẩn và

35

vai trò
1.2.1.



2.1.2.

Yếu tố cơ chế chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý văn hoá

50

cơ sở
2.2.

Thực trạng của đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở ở

52

tỉnh Thanh Hóa
2.2.1

Thực trạng của việc đào tạo - sử dụng

52

2.2.2

Thực trạng về cơ cấu cán bộ

62

2.2.3.

Những hạn chế còn tồn tại


79

2.3.4.

Tăng c-ờng nguồn ngân sách của Nhà n-ớc cũng nh- của địa

81

ph-ơng nhằm đầu t- cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa cơ sở
Kết luận

83

Phụ lục

85

Danh mục Tài liệu tham khảo

88


Những từ viết tắt dùng trong luận văn
BCHTW : Ban chấp hành Trung ương
ĐHĐBTQ : Đại hội Đại biểu toàn quốc
NQTW : Nghị quyết Trung ương
NĐ: Nghị định
TW : Trung ương
UBND: Uỷ ban nhân dân

thực hiện thắng lợi Nghị quyết V- XV- XVI của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về
phát triển văn hóa nói riêng nhằm đem lại sự hưởng thụ đồng đều những
thành quả văn hóa trong nhân dân, thông qua đó để thực hiện thành công đề
án quy hoạch đào tạo cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở giai đoạn 2003- 2010
của tỉnh Thanh Hóa thì đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa cơ sở cần phải nhanh


3

chóng được đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuyên sâu mới có thể đáp ứng
được yêu cầu đòi hỏi trong giai đoạn cách mạng mới. Vì vậy, việc làm rõ vai
trò nguồn lực của đội ngũ quản lý văn hóa cấp cơ sở trên phương diện lý luận
sẽ góp phần không nhỏ cho việc khai thác và sử dụng hiệu quả đội ngũ này
trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta nói chung và ở tỉnh
Thanh Hóa nói riêng. Từ tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn đó, chúng
tôi lựa chọn vấn đề: "Cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở - một nguồn lực
quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta hiện nay"
(Dựa trên thực tiễn đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ văn hóa cấp sơ sở ở
tỉnh Thanh Hóa) làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Về vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nguồn lực trong xây dựng văn
hóa cũng như vị trí của cán bộ cơ sở trong giai đoạn hiện nay đã có nhiều bài
viết, nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên các công trình đó nghiên cứu ở
nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau cụ thể:
- "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc) do Viện Văn hóa tổ chức tác giả Xuân Đông có đề cập đến vấn đề:
Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa một giải pháp
quan trọng thực hiện mục tiêu: "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tién, đậm đà bản sắc dân tộc" tác giả cũng đề cập đến những nguồn
lực đóng góp trong quá trình xây dựng nền văn hóa của đất nước, cũng đã chỉ

thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay”, Luận án tiến sĩ Triết học, 2000
Bên cạnh đó có nhiều văn bản của Đảng và Chính phủ ban hành có liên
quan đến chức năng, nhiệm vụ, chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ
sở. Điều này cũng xuất phát từ thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế- xã
hội, cũng như từ thực tiễn hoạt động từ đó thấy được vị trí, vai trò của cấp cơ
sở trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.


5

Thông qua những công trình nghiên cứu đó đội ngũ cán bộ cấp cơ sở đã
được đề cập một có hệ thống, qua đó thấy được sự cần thiết của chính quyền
cơ sở trong hệ thống chính trị của nước ta.
Nhìn chung, các công trình, bài viết đã được công bố có những vấn đề liên
quan đến đề tài được chúng tôi tham khảo có kế thừa, chọn lọc. Tuy nhiên cho
đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách cụ thể đến nguồn lực góp
phần xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam cụ thể là tầm quan trọng của đội
ngũ cán bộ quản lý văn hóa cơ sở một yếu tố không thể thiếu để có thể thực
hiện triển khai đạt hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
về văn hóa và xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn:
3.1.

Mục đích nghiên cứu của luận văn:

Trên cơ sở làm rõ vị trí, vai trò của đội ngũ quản lý văn hóa cấp cơ sở đồng
thời dựa trên thực tế của tỉnh Thanh Hóa, luận văn phân tích thực trạng cũng
như các yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của đội ngũ này, từ đó đề ra
các giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ này trong công
tác quản lý hoạt động của đời sống văn hóa ở tỉnh Thanh Hóa.

tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ
thể.
Đồng thời sử dụng những số liệu báo cáo tổng kết, các số liệu đã được thẩm
định để thực hiện nội dung của đề tài.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn:
- Thông qua những dữ liệu thực tế của đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ
sở ở tỉnh Thanh Hóa chỉ ra được những việc cần tiếp tục bổ sung, để góp phần
nâng cao chất lượng đội ngũ này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
- Đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ này
thông qua thực tế của tỉnh Thanh Hóa để họ thực sự là một nguồn lực quan
trọng góp phần xây dựng nền văn hóa của đất nước.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn


7

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ những yếu tố
cơ bản trong xây dựng nền văn hoá mới ở nước ta hiện nay, đặc biệt nhấn
mạnh đến vai trò của nguòn lực cán bộ quản lý văn hoá cơ sở xét đến cùng là
một bộ phận cấu thành nguồn lực con người nói chung trong giai đoạn hiện
nay.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên
cứu trong các trường có nội dung đào tạo liên quan.
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có nội
dung gồm 2 chương và 5 tiết


8


9

con người.Và mặc dù: bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc
chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên [5, tr
655], nhưng "Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát ra
khỏi trạng thái thuần túy là loài vật"[5, tr 673], song con người không phải là
một động vật thuần tuý, xét dưới góc độ xã hội con người còn là sản phẩm
của xã hội.
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác về bản chất con người thì "bản chất con
người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt.
Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã
hội"[5, tr 11]
Ngoài ra, con người và đời sống xã hội của con người chỉ có thể tồn tại theo
đúng nghĩa khi được tiến hành sản xuất. Hoạt động sản xuất của con người có
thể phân thành sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, sản xuất ra con người
trong đó hoạt động sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng. Chính thông qua
quá trình sản xuất vật chất con người tác động vào giới tự nhiên nhằm cải
biến giới tự nhiên theo mục đích của con người, và cũng chính thông qua quá
trình này mà con người làm hoàn thiện mình hơn và cải tạo ngay chính bản
thân con người, hơn nữa cũng chính trong quá trình cải biến giới tự nhiên con
người cũng sáng tạo ra lịch sử cho chính mình, sáng tạo ra toàn bộ nền văn
hoá vật chất, tinh thần. Chính những điều này đã được Mác khẳng định: "có
thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo hay bằng cái gì
cũng được, nhưng bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay từ
khi con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình. Sản xuất ra
những tư liệu sinh hoạt, con người đồng thời sản xuất ra chính đời sống vật
chất của mình"[5, tr 29]. Đó cũng chính là hành vi lịch sử đầu tiên của con
người.



11

Từ sự phân tích trên có thể nhận thấy chính lao động và tri thức đã tạo ra
thiên nhiên thứ hai của con người và theo nghĩa rộng: đó chính là văn hoá.
Dưới góc độ của chủ nghĩa duy vật lịch sử, thiên nhiên thứ hai không phải là
sự sáng tạo của thần thánh mà là sản phẩm của lịch sử do chính hoạt động
thực tiễn của con người tạo ra. Trình độ phát triển của văn hoá phụ thuộc trực
tiếp vào trình độ tác động vào tự nhiên, cũng như trình độ chinh phục tự nhiên
của con người, qua đó con người làm chủ tự nhiên và làm chủ chính bản thân
con người.
Như vậy, mọi hoạt động có ý thức của con ngưòi tác động vào tự nhiên và
xã hội tạo ra các sản phẩm, các kết quả mang theo giá trị nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người, chính những điều này
đều thuộc về văn hoá, ngoài ra điểm xuất phát của văn hoá là con người xã
hội hoạt động trong thực tiễn, trước hết là nhằm cải biến giới tự nhiên rồi tiến
đến cải biến hoàn cảnh xã hội, con người sáng tạo ra văn hoá và như vậy văn
hoá lại tái tạo ra bản thân con người.
Trong giai đoạn hiện nay, văn hoá đóng vai trò quan trọng trong đời sống
của con người. Tuy nhiên về khái niệm, phạm vi, nội dung nghiên cứu cũng
có nhiều quan niệm khác nhau, điều này thể hiện sự phức tạp của nội hàm
khái niệm văn hóa, và văn hóa đã thâm nhập vào đời sống xã hội một cách sâu
sắc, làm thay đổi nhận thức của con người trong cả hướng tiếp cận, lẫn cách
hiểu về nó. Văn hóa đã và đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học khác nhau.
Khi xác định nội hàm về văn hóa Từ điển Triết học đã đưa ra định nghĩa:
"Văn hóa gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra
trong quá trình thực tiễn xã hội- lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được
trong lịch sử phát triển xã hội...Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển
phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội" [53, tr1329- 1330].



13

càng hoàn thiện cho phù hợp, điều này đã được thể hiện rõ nét trong suốt quá
trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nếu trước năm 1945, xã hội Việt Nam là
một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, một nền văn hoá tồn tại lúc bấy giờ là
một nền văn hoá thực dân phong kiến cực kỳ phản động với những tính chất
nô dịch, ngu dân. Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nền
văn hoá mới được xã định với ba tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng. Khi
miền Bắc bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa thì văn hoá phải
mang đặc điểm xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức. Đến
Đại hội VIII nền văn hoá mới mà Đảng chủ trương xây dựng đó là nền văn
hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong giai đoạn hiện nay Đảng ta luôn
khẳng định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế- xã hội, đồng thời cũng chính là mục tiêu của chủ nghĩa xã
hội, điều này thể hiện rõ nét thông qua Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành
TW khóa VIII nhận định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội"[22, tr 55].
Ngoài ra để văn hóa thực sự trở thành là nền tảng tinh thần của xã hội, trở
thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu
cao cả của chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay thì chúng ta phải xây
dựng cho được một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa quá trình giao lưu văn hóa giữa
các quốc gia dân tộc, kể cả những nước có chế độ chính trị khác nhau đang
diễn ra trên quy mô rộng lớn và tốc độ nhanh, sự biến đổi văn hóa của các dân
tộc do đó cũng diễn ra nhanh chóng. Bên cạnh những thời cơ lớn, giao lưu và
hội nhập quốc tế còn khiến cho nhiều nước, nhất là các nước chậm phát triển
về kinh tế, có nguy cơ bị chèn ép và đồng hóa về văn hóa. Do đó, vấn đề giữ
gìn, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc chống nguy cơ đồng hóa về
văn hóa là một trong những thách thức lớn đối với các quốc gia chậm phát

động, là đức hy sinh cao thượng vì độc lập dân tộc, vì hạnh phức của nhân


16

dân, là sự tế nhị trong cư xử, tính giản dị trong lối sống" [22, tr 56] chính
những giá trị tốt đẹp đó đã giúp nhân dân Việt Nam chiến thắng được kẻ thù.
Còn khi nói đến cái gì là những giá trị truyền thống dân tộc GS- TS Nguyễn
Trọng Chuẩn đã xác định: Đó là " Những giá trị tương đối ổn định, tới những
gì là tốt đẹp, là tích cực, là tiêu biểu cho bản sắc văn hoá dân tộc, có khả năng
truyền lại qua không gian, thời gian, là những gì cần phải bảo vệ và phát
triển"[8].
Theo quan điểm của UNESCO bản sắc dân tộc là: "tổng thể sống động các
hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang
diễn ra trong hiện tại. Qua hàng ngàn thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu
thành nên một giá trị, truyền thống, thị hiếu, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên
đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của dân tộc mình"[1,tr16]. Như vậy,
văn hóa của mỗi dân tộc đều chứa đựng trong nó cái ổn định, bất biến trong
cái biến động, thay đổi.
Chúng ta đều biết rằng, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất
trong đa dạng, tính chất tiên tiến và bản sắc dân tộc trong văn hoá là hai mặt
không thể tách rời. Mỗi dân tộc anh em có những đặc trưng riêng tạo nên sự
phong phú đa dạng góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Đề cập đến vấn đề này Nghị quyết TW5 đã nêu rõ: "Các giá trị và sắc thái văn
hoá đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt Nam và củng cố
sự thống nhất dân tộc, là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa
dạng văn hoá của các dân tộc anh em"[22, tr 57].
Như vậy quan điểm về văn hoá được đề cập đến trong Nghị quyết TW5khoá VIII đã bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống tinh thần xã hội nói chung,
trong đó tư tưởng, đạo đức lối sống và đời sống văn hoá được coi là lĩnh vực
quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay. Cốt lõi của việc xây dựng nền văn

Đảng ta đã khẳng định: " Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa
và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân


18

tộc, làm cho chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo
trong đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo
con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước" [17, tr114].
Như vậy, trong thực tiễn xây dựng đất nước chúng ta luôn phải chú trọng cả
hai mặt này. Nói văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội có nghĩa văn hóa là
tổng thể các giá trị, tiềm năng sáng tạo của con người, và xã hội muốn phát
triển bền vững cần phải dựa trên những nền tảng vững chắc đó. Nếu kinh tế là
đời sống vật chất thì văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Hai lĩnh vực
này luôn giữ vị trí quan trọng và quyết định đối với sự vận động và phát triển
của xã hội. " Do vậy chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần
của xã hội, nếu thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm
giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội
thì không có sự phát triển kinh tế- xã hội bền vững" [22, tr 55].
Về vấn đề này đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí Thư Ban chấp hành TW
Đảng tại Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng khóa VII( 4/1/1993)
cũng khẳng định: " Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao
và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị
tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên
nhiên. nó là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, vừa là mục tiêu của
chúng ta. Văn học nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của nền văn hóa, thể
hiện khát vọng của nhân dân về chân- thiện- mỹ. Vì vậy cùng với việc xây
dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa, phải xây dựng và phát triển nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa với
những đặc trưng cơ bản là dân tộc, hiện đại, nhân văn như Hiến pháp năm

cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển phục vụ đắc lực sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước..." [22, tr 54] đòi hỏi chúng ta phải có
một quan điểm đúng đắn trong tiến trình xây dựng nền văn hoá mới theo quan
điểm chỉ đạo của Đảng. Trên toàn bộ ý nghĩa đó, Nghị quyết TW 5, khóa VIII


20

của Đảng đã đề ra nhiệm vụ cơ bản của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới
ở nước ta hiện nay là: Xây dựng và phát triển thành công nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư
tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm lối sống, xây dựng môi trường văn hóa
lành mạnh cho sự phát triển xã hội.
Thứ hai: Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội
Văn hóa có tiềm năng to lớn khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo
của con người, tạo ra nguồn nội sinh quyết định sự phát triển của đời sống xã
hội. Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu thúc đẩy sự
phát triển kinh tế- xã hội, do vậy nếu không giải quyết đúng đắn mối quan hệ
giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hoá thì không có sự phát triển xã hội
bền vững.
Khi nói về vai trò động lực của văn hóa chúng ta có thể khảo sát sơ đồ sau :

Giá trị tinh
thần

Văn
hoá

Động
lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status