Đề Cương Bài Giảng Pháp Luật Đại Cương - Pdf 34

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP CAO SU
Vì chất lượng nguồn nhân lực Cao su Việt Nam
ĐT: 06513 879787

Fax: 06513 870291 www.ric.edu.vn

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
(Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng)

LƯU HÀNH NỘI BỘ
BÌNH PHƯỚC 2011


MỤC LỤC
Lời mở đầu....................................................................................................... 1
Bài 1 : Một số vấn đề cơ bản về Nhà nước ................................................................ 2
Bài 2 : Một số vấn đề cơ bản về Pháp luật ................................................................. 6
Bài 3 : Quan hệ pháp luật ........................................................................................... 9
Bài 4 : Thực hiện pháp luật – Vi phạm pháp luật – Trách nhiệm pháp lý ................ 11
Bài 5 : Ý thức pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa ............................................ 16
Bài 6 : Luật nhà nước - Hiến pháp 1992 .................................................................... 20
Bài 7 : Luật hành chính .............................................................................................. 23
Bài 8 : Luật lao động .................................................................................................. 26
Bài 9 : Luật dân sự và luật tố tụng dân sự .................................................................. 31
Bài 10 : Luật hình sự và luật tố tụng hình sự ............................................................ 34
Bài 11 : Pháp luật kinh tế và pháp luật kinh doanh .................................................... 38
Bài 12 : Luật đất đai ................................................................................................... 40
Bài 13 : Luật hôn nhân và gia đình............................................................................. 42
Bài 14 : Luật phòng chống tham nhũng ..................................................................... 45


Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng

Bài 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƢỚC
I/ Bản chất, đặc trƣng của Nhà nƣớc.
1/ Bản chất của Nhà nước
Nhà nước chỉ sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai cấp, do đó nhà nước bao giờ
cũng thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc. Bản chất đó thể hiện trước hết ở chỗ Nhà nước
là tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của giai cấp thống trị. Bằng quyền lực chính trị
này giai cấp thống trị buộc các giai cấp khác phục tùng ý chí của mình.
Như vậy : Nhà nước là một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để
trấn áp các giai cấp đối địch, duy trì sự thống trị, duy trì trật tự xã hội phù hợp với lợi
ích của giai cấp mình.
Tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất của nhà nước. Tuy nhiên, Nhà
nước còn có tính xã hội thể hiện ở chỗ cùng với việc bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm
quyền, Nhà nước còn đồng thời phải đảm đương các công việc công ích vì lợi ích
chung của tòan xã hội như làm đê điều, phòng chống dịch bệnh, bảo vệ trật tự công
cộng vv…
Như vậy : Nhà nước là bộ máy để duy trì sự thống trị giai cấp, đồng thời còn là
bộ máy duy trì trật tự xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.
Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là “Nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân”:
Nhà nước ta là kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa, là nhà nước kiểu mới có bản
chất khác hẳn với các nhà nước bóc lột. Cũng như mọi nhà nước đều là công cụ thống
trị của một giai cấp, Nhà nước ta là công cụ thống trị của giai cấp công nhân nó khác
hẳn về bản chất và mục đích so với sự thống trị của giai cấp bóc lột. Sự thống trị của
giai cấp bóc lột là sự thống trị của thiểu số đối với đa số Nhân dân lao động bị áp bức
bóc lột để bảo vệ cho lợi ích của chúng. Còn sự thống trị của giai cấp công nhân là sự
thống trị của đa số đối với thiểu số giai cấp bóc lột đã bị đánh đổ nhưng không chịu
khuất phục mà vẫn tìm trăm phương nghìn kế nhằm khôi phục địa vị thống trị của nó.

+ Nhà nước CHXHCN VN là Nhà nước là Nhà nước thống nhất của các dân tộc
cùng sinh sống trên đất nước Việt nam.
Hiến pháp cùng các đạo luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước đều ghi
nhận Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc,
nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị chia rẽ dân tộc.
Tất cả các dân tộc đều có quyền dùng tiếng nói , chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và
phát huy những phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình.
Tất cả các dân tộc đều có quyền và nghĩa vụ tham gia vào việc tổ chức và hoạt
động của bộ máy Nhà nước, có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho các dân tộc thiểu số để họ có điều kiện thực hiện các quyền trên.
+ Nhà nước CHXHCN VN thể hiện tính xã hội rộng rãi
Là Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở liên minh xã hội rộng lớn.
Đây là đặc trưng khác biệt với nhà nước bóc lột. Nhà nước bóc lột dựa trên cơ sở các
giai cấp và các đảng phái, các tầng lớp thuộc giai cấp bóc lột. Ngược lại Nhà nước ta
dựa trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức do Đảng lãnh đạo. Đ 9. HP 1992 ghi nhận “ Mặt trận tổ quốc Việt nam và các tổ
chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền Nhân dân”.
+ Nhà nước CHXHCN VN là Nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình,
hợp tác và hữu nghị.
Nhà nước ta thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại “ Độc lập tự chủ, mở
rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế.VN sẵn sàng là bạn, là đối tác
tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát
triển”.
HP 1992 Điều 14 đã thể chế hóa đường lối đó như sau : “ Nước CHXHCN VN
thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các
nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn
trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, tăng cường đoàn kết hữu nghị và
quan hệ hợp tác với các nước XHCN và các nước láng giềng, tích cực ủng hộ và góp

Nhà nƣớc

Cơ quan
Kiểm sát

Cơ quan
Xét xử

Quốc hội

Chính phủ

VKSND Tối cao

TAND Tối cao

HĐND Tỉnh

UBND
Tænh

VKSND Tỉnh

TAND Tỉnh

HĐND Huyện

HĐND Xã

UBND

chủ trương và định hướng về tổ chức và họat động của bộ máy nhà nước. Đồng thời
Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác cán bộ, giới thiệu những cán bộ ưu tú có đức,
có tài, có sức khỏe để nhà nước lựa chọn giữ những cương vị trong bộ máy Nhà nước.
Đảng lãnh đạo bằng vai trò tiên phong, gương mẫu của mỗi đảng viên, tổ chức đảng
trong hệ thống các cơ quan Nhà nước.(Nguyên tác này được ghi nhận tại Điều 4 HP
1992 )
Phương pháp lãnh đạo của Đảng là giáo dục , thuyết phục và tuyên truyền.
+ Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia đông đảo của Nhan dân lao động vào quản lý Nhà
nước.
Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong tổ chức và họat động của bộ máy nhà
nước ta. Theo nguyên tắc này không những tạo ra khả năng phát huy tính năng động
sáng tạo của quần chúng Nhân dân lao động tham gia vào công việc nhà nước làm cho

Trường Cao Đẳng Công Nghiêp Cao Su

4 / 49


Pháp luật đại cương

Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng

Nhà nước vững mạnh, mà còn là một trong những phương pháp hữu hiệu góp phần
hạn chế tệ nạn quan liêu, hách dịch cửa quyền trong bộ máy nhà nước.
Nhân dân lao động tham gia vào tổ chức và họat động của bộ máy Nhà nước
bằng nhiều hình thức phong phú như bầu cử, ứng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước.
Tham gia thảo luận đóng góp ý kiến vào các dự án luật, giám sát sự họat động của các
cơ quan nhà nước và nhân viên cơ quan Nhà nước. Tham gia vào họat động xét xử của
tòa án vv... (Nguyên tác này được ghi nhận tại Điều 53 HP 1992 )
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ

hạn xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
- Các cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép.
- Giữa các cơ quan nhà nước phải có sự phân định thẩm quyền và chế ước,
giám sát lẫn nhau.

Trường Cao Đẳng Công Nghiêp Cao Su

5 / 49


Pháp luật đại cương

Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng

Bài 2 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
I/ Bản chất, đặc trƣng và vai trò của Pháp luật
1/ Bản chất của Pháp luật
Pháp luật mang tính giai cấp sâu sắc. Tình giai cấp của pháp luật biểu hiện ở
các điểm sau :
Pháp luật là những quy tắc thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Giai cấp nào
nắm quyền lực Nhà nước thì trước hết ý chí của giai cấp đó được phản ánh trong PL.
Ý chí của giai cấp thống trị thể hiện trong pháp luật không phải là sự phản ánh
một cách tùy tiện. Nội dung của ý chí này phải phù hợp với quan hệ kinh tế - xã hội
của nhà nước đó.
Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích của nó. Mục đích của pháp
luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự phù hợp với ý chí và lợi ích của
giai cấp nắm quyền lực nhà nước.
Định nghĩa chung về pháp luật : Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự
do Nhà nước đặt ra( Hoặc thừa nhận) có tính quy phạm phổ biến, tính xác định chặt
chẽ về mặt hình thức và tính bắt buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền


Pháp luật đại cương

Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng

b/Pháp luật là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi
công dân.
Công dân có các quyền và nghĩa vụ do hiến pháp và pháp luật quy định. Sở dĩ
Nhà nước quy định các quyền và nghĩa vụ cho công dân trong pháp luật để nhà nước
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ, mặt khác để mỗi công dân không thể lợi
dụng quyền gây thiệt hại cho lợi ích của người khác, cho tập thể và cho nhà nước.
Tóm lại : bằng việc quy định trong pháp luật các quyền và nghĩa vụ của công
dân mà pháp luật trở thành phương tiện để :
Công dân thực hiện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khỏi sự
xâm hại của người khác, kể cả từ phía nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền trong
bộ máy Nhà nước tạo lập sự yên ổn trong các quan hệ xã hội.
Nhà nước thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ các quyền của công
dân, ngăn ngừa những biểu hiện lộng quyền, thiếu trách nhiệm đối với công dân. Đồng
thời đảm bảo cho mỗi công dân thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước và
các công dân khác.
II/ Hệ thống Pháp luật.
1/ Khái niệm hệ thống Pháp luật :
Hệ thống Pháp luật là phạm trù thể hiện cấu trúc bên trong( Hệ thống các ngành
luật) và hình thức biểu hiện bên ngoài (Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật) của
PL
2/ Hệ thống cấu trúc
Hệ thống các ngành luật là một cấu trúc gồm ba thành tố ở ba cấp độ khác nhau :
- Quy phạm pháp luật ( Đơn vị nhỏ nhất của hệ thống)
- Chế định pháp luật ( Ba gồm một số quy phạm)
- Ngành luật ( Gồm các chế định).

c/ Ngành luật
Ngành luật là tổng hợp các Chế định pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã
hội cùng tính chất.
Như vậy : Các quy phạm pháp luật trong một ngành luật có chung một đối
tượng điều chỉnh là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất. Các quan hệ xã hội rất đa
dạng, muôn hình, muôn vẻ nhưng dựa vào tính chất giống nhau, gần gũi của chúng mà
có thể xếp thành từng nhóm. Một số nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất hợp thành
đối tượng điều chỉnh của một ngành luật. Ví dụ các nhóm quan hệ về kết hôn, cha mẹ
và con cái, ly hôn.vv… có cùng tính chất là tình cảm vợ chồng, cha mẹ, con cái hợp
thành đối tượng điều chỉnh của ngành luật hôn nhân và gia đình..
3/ Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ( Hình thức bên ngoài pháp luật)
Các loại văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao thấp khác nhau do
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình tự và thủ tục do pháp luật
quy định, nhưng đều tồn tại trong thể thống nhất.
a/ Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật :
- Do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục luật định.
- Nội dung chứa đựng những quy tắc xử sự chung.
- Được sử dụng nhiều lần trong thời gian và không gian rộng lớn.
- Được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
b/ Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật :
- Hiệu lực thời gian : Là khoảng thời gian văn bản có hiệu lực được tính từ khi
văn bản bắt đầu có hiệu lực đến khi hết hiệu lực.
- Hiệu lực không gian : Là phạm vi lãnh thổ phải chịu tác động của văn bản.
Nói chung văn bản của cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực trong phạm vi lãnh
thổ cả nước, văn bản của cơ quan nhà nước ở địa phương cấp nào có hiệu lực trong
phạm vi lãnh thổ của địa phương đó.
- Hiệu lực đối tượng : Một văn bản quy phạm pháp luật có thể có hiệu lực với
nhóm người này, nhưng lại không có hiệu lực đối với nhóm người khác. Nói chung
văn bản không chỉ rõ đối tượng chịu tác động thì mọi tổ chức, cá nhân đều phải chịu
tác động của văn bản đó ( Trừ một số trường hợp có quy định riêng), văn bản có chỉ rõ

Quy phạm pháp luật

C. tòch Lệnh
Nước Quyết đònh

Chính Nghò quyết Thủ Quyết đònh
Thông tư
Phủ Nghò đònh tướng Chỉ thò
Bộ Quyết đònh
Chỉ thò
Hội đồng nhân dân các cấp
y ban nhân dân các cấp
Và Chủ tòchUBND các cấp

Bài 3 :

Nghò quyết
Quyết đònh
Chỉ thò

QUAN HỆ PHÁP LUẬT

I/ Khái niệm quan hệ Pháp luật :
Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội xuất hiện dưới tác
động điều chỉnh của quy phạm pháp luật và sự kiện pháp lý.
II/ Đặc điểm quan hệ Pháp luật :
-

+ Là quan hệ mang tính ý chí.
Quan hệ pháp luật phát sinh trên cơ sở có quy phạm pháp luật điều chỉnh mà

- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng TS đó.
- Nhân danh mình tham gia các quan hệ PL một cách độc lập.
2/ Khách thể của quan hệ pháp luật :
Khách thể của quan hệ pháp luật là cái mà các chủ thể của quan hệ đó hướng tới để
tác động.
Đối tượng mà hành vi của các chủ thể trong quan hệ pháp luật thường hướng tới để
tác động có thể là lợi ích vật chất (Tài sản), giá trị tinh thần (Danh dự, nhân phẩm, tự
do) hoặc lợi ích chính trị ( bầu cử, ứng cử). Do vậy các đối tượng cụ thể như : tài sản,
danh dự, tự do, nhân phẩm của công dân hay các quyền chính trị .vv… là khách thể
của hành vi các chủ thể trong quan hệ pháp luật.
3/ Nội dung của quan hệ pháp luật :

-

-

Nội dung mang quyền và nghĩa vụ của chủ thể.
a/Quyền của chủ thể
Là khả năng được hành động trong khuôn khổ do QPPL xác định trước.
Là khả năng được yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ của họ.
Là khả năng được yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp
cưỡng chế cần thiết đối với bên kia để họ thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp
quyền của mình bị chủ thể bên kia vi phạm.
b/Nghĩa vụ của chủ thể
Là sự bắt buộc phải có những xử sự nhất định do QPPL quy định .
Sự bắt buộc phải có xử sự bắt buộc nhằm thực hiện quyền của chủ thể bên kia.
Trong trường hợp chủ thể không thực hiện nghĩa vụ pháp lý, Nhà nước bảo đảm
bằng sự cưỡng chế.
SƠ ĐỒ CẤU TRÚC CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT
Chủ thể

VI PHẠM PHÁP LUẬT – TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

I/ Thực hiện pháp luật.
1/ Thực hiện pháp luật
a/ Khái niệm :
Để điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật thì trước hết Nhà nước phải tổ
chức xây dựng, ban hành hệ thống các văn bản QPPL. Tuy nhiên, việc ban hành văn
bản không phải là mục đích tự thân của Nhà nước mà điều Nhà nước mong muốn là
các quy định pháp luật phải đi vào cuộc sống, biến các quan hệ xã hội thành quan hệ
pháp luật phục vụ lợi ích và mục đích của Nhà nước và xã hội. Điều đó có thể đạt
được khi các QPPL do Nhà nước đặt ra được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực
hiện một cách chính xác, đầy đủ. Do vậy, vấn đề không phải chỉ là ban hành thật nhiều
các văn bản pháp luật, điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật, làm cho các yêu
cầu, quy định của chúng trở thành hiện thực.
Việc thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật XHCN là mối quan tâm không chỉ
về phía Nhà nước XHCN mà từ cả mỗi người dân trong xã hội. Họ tự giác thực hiện
pháp luật và đòi hỏi pháp luật phải được các tổ chức, các cá nhân khác tôn trọng, thực
hiện chính xác và đầy đủ. Thực hiện pháp luật là hành vi ( Hành động hoặc không
hành động) của con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Nói khác đi, tất
cả những họat động nào của con người, của các tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy
định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện thực tế các quy
phạm pháp luật.
Dưới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp, hành vi đó
không trái, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật, phù hợp với quy định
của pháp luật và có lợi cho xã hội, cho Nhà nước và cho cá nhân.
Pháp luật gồm rất nhiều các lọai quy phạm pháp luật khác nhau và với mỗi lọai
thì những cách thức thực hiện chúng cũng khác nhau : Có thể đó là xử sự chủ động (
Hành đông) nhằm đạt đạt được một cái gì đó như sử dụng quyền hoặc làm nghĩa vụ
pháp lý ví dụ : Thực hiện đội mũ bảo hiểm, làm đơn khiếu nại vv...; Có thể là xử sự bị
động, kiềm chế không làm những điều pháp luật cấm ví dụ ; Không buôn bán ma túy,

tích cực. Những QPPL bắt buộc được thực hiện dưới hình thức này.
Sử dụng pháp luật : Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể
pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình ( Thực hiện những hành vi mà pháp luật
cho phép). Những QPPL quy định các quyền tự do dân chủ của công dân được thực
hiện dưới hình thức này. ( Chủ thể không bị ép buộc phải thực hiện).
Áp dụng pháp luật : Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước
thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể
pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy
định của pháp luật để tạo ra quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt
những quan hệ pháp luật cụ thể. Trong trường hợp này các chủ thể pháp luật thực hiện
các quy định của pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước.
2/ Áp dụng pháp luật
a/ Khái niệm và các trường hợp áp dụng :
Pháp luật tác động vào các QHXH, vào cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất chỉ khi
tất cả các quy định của nó đều được thực hiện chính xác, triệt để. Nhưng nếu chỉ thông
qua các hình thức tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật thì sẽ có
rất nhiều QPPL không được thực hiện. Lý do để các chủ thể không muốn thực hiện
hoặc không đủ khả năng tự thực hiện nếu thiếu sự tham gia của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền. Do đó họat động áp dụng pháp luật cần phải được tiến hành trong các
trường hợp sau :
Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, hoặc áp dụng các chế tài
pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật.
Khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước Ví dụ : Đ 55 HP quy định
" Lao động là quyền và nghĩa vụ của Công dân", nhưng QHPL lao động với những
quyền và nghĩa vụ lao động cụ thể giữa một công dân với một cơ quan, tổ chức chỉ
phát sinh khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyển dụng người
công dân đó vào làm việc.
Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham
gia QHPL mà các bên đó không tự giải quyết được. Ví dụ : Tranh chấp giữa các bên

Áp dụng pháp luật có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ
thể có liên quan.
Văn bản áp dụng pháp luật chỉ do cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền
áp dụng pháp luật ban hành. Văn bản áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc phải thực
hiện đối với những tổ chức và cá nhân có liên quan. Trong những trường hợp cần thiết,
quyết định áp dụng pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế nhà nước.
Áp dụng pháp luật là họat động có hình thức thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy
định.
Do tính chất quan trọng và phức tạp của họat động áp dụng pháp luật , chủ thể
bị áp dụng pháp luật có thể được hưởng các lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải
chịu những hậu quả rất nghiêm trọng nên pháp luật xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện,
trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên. Trong quá trình áp dụng pháp luật
phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục đó để tránh những sự tùy tiện
có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, không chính xác.
Áp dụng pháp luật là họat động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ
xã hội xác định
Đối tượng của họat động áp dụng pháp luật là những QHXH cần đến sự điều
chỉnh cá biệt, bổ sung trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong QPPL. Bằng họat động
áp dụng pháp luật những QPPL nhất định được cá biệt hóa một cách cụ thể và chính
xác.
Áp dụng pháp luật là họat động đòi hỏi tính sáng tạo
Khi áp dụng pháp luật các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cức kỹ lưỡng
vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản
áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành. Trong trường hợp pháp luật chưa quy định
hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp
luật tương tự. Để đạt tới điều đó, đòi hỏi các nhà chức trách phải có ý thức pháp luật
cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức cánh mạng và có tay
nghề cao.

Trường Cao Đẳng Công Nghiêp Cao Su

Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật có đủ 4 dấu hiệu cơ bản sau :
- Vi phạm pháp luật phải là hành vi ( Hành động hoặc không hành động) xác
định của con người hoặc là họat động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội...( các chủ
thể pháp luật) gây nguy hiểm hoặc có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội được biểu
hiện ra bên ngoài, không phải là những suy nghĩ hay những đặc tính cá nhân của con
người.
- Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật , xâm hại tới các quan hệ xã hội
được pháp luật xác lập và bảo vệ: Vi phạm pháp luật không những phải là hành vi
nguy hiểm của các chủ thể pháp luật, mà hành vi đó còn phải trái pháp luật xâm hại tới
các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Những hành vi trái với các quy
định của các tổ chức xã hội, trái với quy tắc tập quán hoặc đạo đức... mà không trái
pháp luật thì không bị coi là vi phạm pháp luật ( Những gì mà pháp luật không cấm,
không xác lập và bảo vệ thì dù có làm trái, có xâm hại cũng không bị coi là vi phạm
pháp luật).
- Hành vi trái pháp luật đó phải chứa đựng lỗi ( Cố ý hoặc vô ý) của chủ thể
hành vi đó. Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái
pháp luật của mình. Nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những điều kiện
hòan cảnh khách quan, chủ thể hành vi không cố ý và cũng không vô ý thực hiện hoặc
không thể ý thức được, từ đó không thể lực chọn được cách xử sự theo yêu cầu của
pháp luật thì chủ thể hành vi đó không thể bị coi là có lỗi và hành vi đó không bị coi là
vi phạm pháp luật.
- Chủ thể hành vi trái pháp luật phải có năng lực trách nhiệm pháp lý, tức là người
phải có khả năng nhận thức, điều khiển được việc làm của mình và chịu trách nhiệm
Trường Cao Đẳng Công Nghiêp Cao Su

14 / 49


Pháp luật đại cương


pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
- Vi phạm dân sự.
Là những hành vi trái pháp luật, có lỗi xâm phạm tới những quan hệ tài sản, quan
hệ nhân thân có liên quan tới tài sản, quan hệ phi tài sản .vv…
- Vi phạm kỷ luật.
Là những hành vi có lỗi, trái với những quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ
một cơ quan, xí nghiệp, trường học… không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập,
phục vụ được quy định trong nội quy, quy chế của cơ quan, xí nghiệp, trường học…
2/ Trách nhiệm pháp lý.
a/ Khái niệm :
Là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa Nhà nước ( thông qua cơ quan có thẩm
quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu
những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế Nhà nước được quy định ở chế tài
các quy phạm pháp luật.
Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với những biện pháp cưỡng chế nhà nước. Tuy
nhiên cần chú ý là có một số biện pháp cưỡng chế được nhà nước áp dụng không liên
quan gì đến trách nhiệm pháp lý ví dụ : cách ly người mắc bệnh truyền nhiễm, trưng
dụng, trưng mua tài sản vv...
Trường Cao Đẳng Công Nghiêp Cao Su

15 / 49


Pháp luật đại cương

Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng

b/ Các loại trách nhiệm pháp lý:
Tương ứng với 4 loại vi phạm pháp luật có 4 loại trách nhiệm pháp lý.
- Trách nhiệm pháp lý hình sự

không hệ thống về đời sống pháp luật và thể hiện dưới dạng tình cảm, tâm trạng... đối
với pháp luật. Cụ thể tâm lý pháp luật tồn tại ở một số dạng cơ bản sau:
- Tình cảm pháp luật: Do giao tiếp của con người mà hình thành. Các biểu hiện
sợ hãi trước hành vi vi phạm pháp luật hay phấn khởi do pháp luật được thực hiện
nghiêm túc, có hiệu quả...là biểu hiện của tình cảm pháp luật.Tình cảm PL thường
không bền vững và do đó không có tác dụng hình thành khi pháp luật bền vững.
- Tâm trạng : Là một yếu tố linh động của tâm lý pháp luật. Ví dụ : Thái độ thờ
ơ, lãnh đạm với PL hoặc cương quyết, không khoan dung đối với vi phạm pháp luật.
- Những xúc động, sự tự đánh gía biểu hiện cao của lương tâm, có ý nghĩa
phòng ngừa những hành vi lệch chuẩn.

Trường Cao Đẳng Công Nghiêp Cao Su

16 / 49


Pháp luật đại cương

Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng

+ hệ tư tưởng pháp luật là những quan điểm, tư tưởng, học thuyết phản ánh đời
sống pháp luật một cách sâu sắc, hình thành một cách tự giác, là phản ánh bên trong
mang tính chất của đời sống pháp luật ( Về vai trò của pháp luật, bản chất của pháp
luật, giá trị xã hội của pháp luật, mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước, với chính
trị, với dân chủ, tự do, công bằng...)
Giữa tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật có mối quan hệ chắt chẽ và tác
động qua lại lẫn nhau. Tâm lý pháp luật tuy không phản ánh đời sống pháp luật một
cách hệ thống, sâu sắc song đối với mỗi cá nhân thì nó có tác dụng rất to lớn. Lê nin đã
từng nói " Thiếu cảm xúc thì con người không tìm được chân lý". Tình cảm dồi dào sẽ
là " bệ đỡ'" cho hệ tư tưởng phát triển. Ngược lại, nếu nắm được lý luận thì tâm lý

3/ Nâng cao ý thức pháp luật :
Mặc dù trong truyền thống văn hóa của Việt nam ở một số thời kỳ đã chứa
đựng yếu tố pháp luật khá rõ nét song nhìn chung, pháp luật chưa phải là yếu tố chi
phối tòan diện, chủ đạo trong các quan hệ xã hội ở nước ta. Người dân ít chuẩn bị tâm
thế để sống và làm việc theo pháp luật, chỉ khi có việc mới quan tâm. Ngay cả cơ quan

Trường Cao Đẳng Công Nghiêp Cao Su

17 / 49


Pháp luật đại cương

Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng

nhà nước nhiều khi cũng xử sự theo cảm tính. Do vậy việc nâng cao ý thức pháp luật ở
nước ta đang trở thành nhu cầu cấp thiết.
Để tiếp nâng cao ý thức pháp luật trong xã hội thì cần phải xây dựng hệ thống
pháp luật hòan chỉnh phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội để tạo ra một đời
sống pháp luật lành mạnh. Hiện nay cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau :
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức
trong đó việc đưa pháp luật vào nhà trường ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo là
giải pháp có tính chiến lược.
- Nâng cao chất lượng họat động của các cơ quan thực thi pháp luật như tóa án,
viện kiểm sát, công an, các cơ quan hành chính nhà nước.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong mọi lĩnh vực của đời sống XH.
- Tạo điều kiện cho nhân dân tham gia quản lý xã hội thông qua các hình thức
dân chủ trực tiếp và gián tiếp, các họat động giám sát, phản biện xã hội đối với việc
xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật của nhà nước.
- Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, nâng cao trình độ văn hóa


18 / 49


Pháp luật đại cương

Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng

đòi hỏi người dân làm đúng pháp luật mà quan trọng hơn là sự đòi hỏi của cơ quan,
công chức nhà nước gương mẫu thực hiện pháp luật bởi nhà nước là chủ thể quản lý xã
hội. Nếu nhà nước thực hiện đúng pháp luật sẽ tạo điều kiện tốt cho việc thực hiện
pháp luật của các chủ thể. Ngược lại, nếu nhà nước không thực hiện nghiêm chỉnh
pháp luật thì lập tức nó ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân, gây mất lòng tin ở
nhân dân và dễ dẫn đến mất ổn định xã hội.
Sự bắt buộc chung này còn thể hiện ở việc thực hiện bổn phận theo pháp luật
của chủ thể. Có nghĩa là một chủ thể có nghĩa vụ pháp lý thì nhất thiết phải thực hiện,
không được thóai thác. Ví dụ Công an đang làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông không
thể làm ngơ khi thấy vi phạm pháp luật giao thông xảy ra. Việc thực hiện nghĩa vụ
pháp lý này bắt buộc và nằm trong khuôn khổ pháp luật quy định.
d/ Nguyên tắc trách nhiệm pháp lý bắt buộc.
Trách nhiệm pháp lý là bắt buộc đối với tất cả những ai đã vi phạm pháp luật.
Có như vậy mới đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Bất cứ cơ quan nào, tổ chức
nào, cá nhân nào dù ở bất cứ cương vị nào khi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo
pháp luật. Không cho phép tồn tại một "Vùng cấm". Trong quá trình hòan thiện pháp
chế XHCN ở nước ta, nguyên tắc này đã được quán triệt và vận dụng đúng đắn. Tuy
vậy, vẫn còn hiện tượng ô dù, bao che cho hành vi vi phạm pháp luật. Những hiện
tượng này đã gây nên tâm lý coi thường pháp luật, thậm chí tự xử hay sử dụng "Luật
rừng" theo kiểu xã hội đen. Đặc biệt khi chuyển sang kinh tế thị trường, khi giá trị
đồng tiền được đề cao và có những người có nhiều tiền thì họ đã dùng đồng tiền để
chạy tội là hiện tượng vi phạm pháp chế rất đáng lo ngại.


c/ Giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật.
Trong xã hội bao giờ cũng có những đối tượng chậm nắm bắt các yêu cầu của pháp
luật hoặc cố tình chống lại pháp luật, vì vậy muốn pháp luật được thực hiện nghiêm
chỉnh thì cần phải có sự giám sát, kiểm tra thường xuyên để phát hiện kịp thời các
hành vi vi phạm để xử lý đúng người, đúng vi phạm, đúng pháp luật. Bởi lẽ nơi nào
xảy ra vi phạm pháp luật thì pháp chế ở nơi đó bị phá vỡ, trật tự xã hội bị ảnh hưởng
xấu. Cũng qua kiểm tra việc thực hiện pháp luật mà phát hiện những quy định không
phù hợp để kiến nghị sửa đội, bổ sung tránh độ chên lệch giữa tính hợp pháp và tính
hợp lý trong hành vi của các chủ thể trong xã hội.

Bài 6 : LUẬT NHÀ NƢỚC- HIẾN PHÁP 1992.
I/ Luật Nhà nƣớc.
1/ Khái niệm
Là một ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật, là nguồn trực tiếp của các
ngành luật khác, quy định trật tự thiết lập, thay đổi các quy phạm pháp luật của ngành
luật khác.
Là luật gốc (hay luật mẹ )là trung tâm của các ngành luật khác, là nhân tố đảm
bảo sự thống nhất các ngành luật .
2/ Đối tượng, phương pháp điều chỉnh của luật Nhà nước.
Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật nói chung là nhũng vấn đề, những
quan hệ xã hội mà ngành luật ấy tác động đến nhằm thiết lập một trật tự xã hội nhất
định phù hợp với ý chí nhà nước.
Luật nhà nước chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất - đó là
những quan hệ xã hội thể hiện chủ quyền của nhân dân. Nhân dân ở đây với tư cách
không phải là cá nhân công dân mà là cộng đồng dân tộc trong một nhà nước thống
nhất, là chủ thể của luật nhà nước.
Luật nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm củng cố cơ sở nền tảng của
một nhà nước, một xã hội, đó là :
- Điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, nền tảng chế độ chính trị của một nhà

Chương IV : Quy định về bảo vệ tổ quốc VN XHCN.
Chương V : Quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của cơng dân.
Chương VI - X : Quy định về bộ máy Nhà nước.
Chương XI : Quy định về biểu tượng Nhà nước.
Chương XII : Quy định về hiệu lực pháp lý của hiến pháp.
Một số nội dung cơ bản
Chế độ chính trị
Hiến pháp 1992 tiếp tục khảng định “ Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân
dân”, “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân cơng và phối hợp giữa các cơ
quan Nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(Đ2 HP92 )
Vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN đối với Nhà nước Việt nam khơng những mang
tính quy luật khách quan, mà còn được Nhân dân Việt nam thừa nhận.( Đ4 HP92 )
Mặt trận tổ quốc Việt nam và các thành viên được xác định là cơ sở chính trị
của chính quyền Nhân dân.( Đ9 HP92 )
Chế độ kinh tế
Hiến pháp 1992 ( Sửa đổi, bổ sung năm 2001) ghi nhận sự tồn tại của ba
hình thức sở hữu :( Đ15 HP92 )
- Sở hữu Nhà nước ( Hay sở hữu toàn dân)
- Sở hữu tập thể.
- Sở hữu tư nhân
Hiến pháp còn khảng định “ Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN”
Hiến pháp 1992 ( Sửa đổi, bổ sung năm 2001)ghi nhận sự tồn tại của các thành
phần kinh tế :( Đ16 HP92 ).
- Thành phần kinh tế Nhà nước.
- Thành phần kinh tế tập thể.
- Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ.
- Thành phần kinh tế tư bản tư nhân.
- Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước.
- Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi.

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, bình đẳng về hưởng quyền và làm nghĩa
vụ trước pháp luật. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm
1992 được phân loại như sau :
-

Các quyền về chính trị :

Công dân có quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội và HĐND các cấp, quyền được
tham gia quản lý Nhà nước, xã hội, thảo luận những vấn đề chung của cả nước và địa
phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi NN có trưng cầu.
-

Các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội :

Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, có quyền sở hữu
những thu nhập hợp pháp, những của cải để dành, tư liệu sản xuất, vốn và những tài
sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Tổ chức và cá nhân
có quyền thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động.
Nhà nước cho phép các tổ chức và cá nhân sử dụng ruộng đất một cách lâu dài, có
quyền chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Mọi công dân đều có
quyền lao động, quyền được học tập, quyền được nghiên cứu, được sáng tạo khoa học,
nghệ thuật, được bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền được bảo vệ
sức khỏe, quyền bình đẳng nam nữ, quyền được Nhà nước bảo hộ về hôn nhân gia
đình…
-

Các quyền về tự do dân chủ, tự do cá nhân :

Gồm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội, biểu tình theo
quy định của pháp luật, tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm về

– Sở tư pháp).
+ Quan hệ giữa cơ quan quản lý hành chính Nhà nước không trực thuộc nhau về mặt
tổ chức ( Bộ tư pháp – Bộ GD&ĐT).
+ Quan hệ giữa cơ quan quản lý hành chính Nhà nước với các đơn vị kinh tế, các tổ
chức đóng trên địa bàn lãnh thổ ( UBND – Các đơn vị kinh tế).
+ Quan hệ giữa cơ quản lý hành chính Nhà nước với tổ chức xã hội, đoàn thể nhân dân
( UBND – Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên…).
+ Quan hệ giữa cơ quan quản lý hành chính Nhà nước với công dân .
3/ Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính.
Do đối tượng điều chỉnh mang tính đặc thù “ Không bình đẳng” của hoạt động
“chấp hành - điều hành” Phương pháp điều chỉnh của ngành luật này là một phương
pháp đặc thù xuất phát từ quan hệ Uy quyền – phục tùng, đó là phương pháp mệnh
lệnh – đơn phương. Một bên – Nhân danh Nhà nước ra những quyết định hành chính
có tính chất mệnh lệnh, bắt buộc thi hành và một bên là đối tượng quản lý có nghĩa vụ
phục tùng mệnh lệnh đó.
II/ Vi phạm hành chính - Xử lý vi phạm hành chính.
1/ Vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính là hành vi của cá nhân hay tổ chức làm trái hoặc không thực
hiện theo đúng quy định của pháp luật hành chính do cố ý hoặc vô ý mà xâm phạm các
quy tắc quản lý nhà nước, quản lý XH, có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so
với tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

Trường Cao Đẳng Công Nghiêp Cao Su

23 / 49



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status