Phân tích màu sắc dân tộc trong bài thơ Tương tư của
Nguyễn Bính
Tháng Tư 3, 2015 - Category: Lớp 12 - Author: admin
Phan tich mau sac dan toc trong bai tho Tuong tu – Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phân tích
Màu sắc dân tộc trong Tương tư của Nguyễn Bính.
Khác với những nhà thơ mới khác Nguyễn Bính không ảnh hưởng bởi phương Tây mà trong nhà
thơ luôn có một nỗi niềm hoài cổ. Nếu như Xuân Diệu tiếp thu những cái hay của văn học phương
Tây hiện đại thì Nguyễn Bính lại trở về với những hơi thở của ca dao của những gì gọi là truyền
thống. Cái “tôi” của Nguyễn Bính luôn là cái tôi bất an, một tâm hồn tha thiết với những giọt cổ
truyền của dân tộc đang nguy cơ mai một trước sự âu hóa của đô thị thị dân. Đặc biệt ông mang cái
truyền thống ấy vào trong sáng tác của mình. Tiêu biểu trong những bài thơ mang đậm hồn quê dân
tộc ấy phải kể đến tác phẩm tương tư. Có thể nói tác phẩm ấy mang đạm màu sắc dân tộc Việt
Nam.
Bài thơ được trích từ tập lỡ bước sang ngang, viết về đề tài tình yêu đôi lứa. bài thơ là lời giãi bày
nỗi lòng mong nhớ một cách chân thật tinh tế của một chàng trai thôn quê. Có thể nói tương tư là
dành cho những người yêu thương nhau nhưng phải cách xa nhau khiến cho nỗi nhớ cứ thế trào
dâng mãnh liệt. Tâm trạng tương tư cũng mang đầy màu sắc dân tộc.
Màu sắc dân tộc trước hết thể hiện trong hoàn cảnh, khung cảnh tương tư. Đến cái tương tư ấy
cũng mang đầy màu sắc dân tộc:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”
Màu sắc dân tộc được hiện lên ở đây là hình ảnh Thôn Đoài và Thôn Đông. Đó là hình ảnh biểu
trưng cho những làng quê mộc mạc mà giản dị nên thơ. Có thể nói tình yêu của đồi trai gái ấy
không diễn ra trên những cảnh trang hoàng của phố xá đông vui mà là nơi bình yên của làng quê
mộc mạc.
được. Điệp ngữ ngữ “qua ngày” càng làm tăng thêm sự nhớ nhung của người con trai ấy. Xa cách
nhau khiến cho thời gian trôi qua dẫu có ngắn mà cứ tựa ba thu, những chiếc lá xanh đã chuyển
thành màu vàng cũng như người nhớ nhung ấy đang héo hon vì thương nhớ.
Hình ảnh mang đậm những nét đẹp làng quê. Đó là nét đẹp của mái đình, của những chuyến đò
qua sông. Bến nước con đò không chỉ là hình ảnh mang đầy màu sắc dân tộc mà nó trở thành hình
ảnh tượng trưng cho tình yêu, không riêng thơ Nguyễn Bính mà hình ảnh ấy đã trở đi trở lại không
biết bao nhiêu trang thơ của những nhà thơ khác. Nhưng cái khác ở đây là hình ảnh ấy không mang
nghĩa của sự đợi chờ một người khác mà nó mang nghĩa của sự cách trở trong tình yêu. Tuy nhiên
ở trong tác phẩm thì sự cách trở đó là giả thiết để cho người con trái trách móc người con gái vì sao
lại không sang trong khi không có sự cách trở sông đò.
Sự cách trở ấy chỉ cách có cái đầu đình mà sao lại thấy tình xa xôi đến thế. Hình ảnh cái đình kia
gợi cho ta biết bao nhiêu là vẻ đẹp của những cảnh làng quê dân tộc ta, ở đó không chỉ là không
gian cho những sinh hoạt thường ngày mà đó còn là nơi cho người ta hò hẹn. chàng trai kia như
muốn trách sự vô tâm của người con gái. Thế nhưng là người con gái vô tâm thật hay chính là do
sự tương tư làm cho chàng trai ngỡ cô gái vô tâm với mình. Nỗi tương tư ấy làm cho chàng trai
thức mấy đêm không ngủ được, câu hỏi tu từ lại được cất lên để cho thấy được sự trách móc cũng
là nhớ nhung của anh. “hỏi ai người biết cho”. Và chính từ những nỗi nhớ ấy mà chàng khát khao
được gặp nàng. ở đây tác giả vận dụng lối nói ước lệ ẩn dụ của ca dao xưa ( bến- đò, hoa khuê
các- bướm giang hồ).
Đến những câu thơ cuối cùng chàng trai tiếp tục thể hiện tâm trạng và ước muốn của mình thông
qua đó ta thấy được những hình ảnh mang đậm chất dân tộc:
“Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”
Anh và em vẫn còn một khoảng cách xa xôi quá chừng, hình ảnh trầu cau hiện lên với số lượng là
một thể hiện sự đơn độc lẻ loi của cả hai bên. Đồng thời thể hiện được ước nguyện của chàng trai
là nên duyên cau trầu với hình ảnh đám cưới làng quê giản dị ngọt ngào lắm.