1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, tự do hóa kinh tế và hội nhập kinh tế
là vấn đề thời sự quan trọng của mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát
triển. Mỗi quốc gia phải nhận thức đúng đắn và phải thiết lập cơ chế phù hợp,
tuân thủ các quan hệ kinh tế quốc tế cùng những cam kết mang tính toàn cầu,
qua đó tạo nên một nền kinh tế đa dạng, hợp tác và cùng phát triển. Hội nhập
đang đem đến nhiều cơ hội lớn lao nhưng cũng là thách thức không kém phần
cam go cho nền kinh tế đất nước.
Trong nhưng năm gần đây, khối ngân hàng thương mại đã có những
bước tiến đáng kể, đóng vai trò không nhỏ vào sự phát triển chung của ngành
ngân hàng và nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, khi cánh cửa hội nhập đang
đến “gõ cửa” từng doanh nghiệp và lộ trình của nó đang ngày một rút ngắn về
thời gian thì các ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với những thách
thức nhất định. Thách thức về tiềm lực tài chính, công nghệ, năng lực, kinh
nghiệm quản trị, chất lượng dịch vụ… Đây là vấn đề thời sự, luôn được Nhà
nước quan tâm và chỉ đạo sâu sát, ngân hàng nhà nước Việt Nam đã đưa ra
nhiều biện pháp để thực hiện những chủ trương, chỉ đạo của Nhà nước nhằm
giúp các Ngân hàng thương mại mở rộng quy mô hoạt động, hiệu quả kinh
doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh và hòa nhập tốt với nền kinh tế khu vực
và thế giới.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng thương mại
đã được xem như một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động kinh tế của
đất nước. Trong điều kiện các hoạt động tài chính như thị trường chứng
khoán, thị trường tiền tệ chưa thực sự phát triển thì hệ thống ngân hàng giữ
vai trò chủ lực trong việc làm trung gian giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa tác
nhân thừa vốn và tác nhân thiếu vốn. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động của hệ
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Ngoại thương Quảng Ninh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Ngoại thương Quảng Ninh.
- Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng trong nghiên cứu từ 2010 - 2013.
4. Đóng góp và ý nghĩa của nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ tiền đề lý luận về huy động vốn trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thương mại trong giai đoạn hội nhập kinh tế
quốc tế. Xác định vai trò và tác động của huy động vốn tới nền kinh tế nói
chung, ngân hàng thương mại nói riêng.
- Tổng kết kinh nghiệm trong huy động vốn của ngân hàng thương mại.
- Phân tích và đánh giá hiệu quả huy động vốn của Chi nhánh NHTM CP
Ngoại thương Quảng Ninh. Chỉ ra các vướng mắc và xác định những thách thức
mới trong huy động của ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại
Chi nhánh NHTM CP Ngoại thương Quảng Ninh.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu thành
4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động vốn trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại;
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Thực trạng huy động và hiệu quả huy động vốn tại Chi
nhánh Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương Quảng Ninh;
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Chi nhánh
Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương Quảng Ninh.
5
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [15].
Theo luật pháp nước Mỹ: “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản
tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc
hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay kinh doanh hay cho vay tín dụng
thương mại sẽ được xem là một ngân hàng” [15].
Theo Luật 6-41 của Pháp “những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề
thường xuyên, nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức
khác các số tiền mà họ dùng vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay tài chính
thì được coi là ngân hàng” [17]
Theo quy định tại Luật tổ chức tín dụng của Việt Nam (năm 2010):
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng theo quy định. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình
ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách và ngân hàng
hợp tác xã” [6], [3].
“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh tiền tệ, cung ứng thường
xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng;
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và các dịch vụ khác” [3].
Từ những khái niệm trên và định nghĩa trên, có thể rút ra khái niệm
ngân hàng thương mại như sau:
- Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính làm cầu nối giữa
những người có tiền nhàn rỗi muốn gửi tiết kiệm và người có nhu cầu vay vốn
để đầu tư.
- Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền
tệ, tín dụng, thanh toán. Vì vậy có thể nói các ngân hàng thương mại là những
doanh nghiệp đặc thù, thể hiện ở vốn điều lệ (tối thiểu có 3.000 tỉ đồng), dịch
vụ thực hiện và những ràng buộc về hạn mức kinh doanh tiền tệ, tín dụng
- Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả
hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, ngân hàng có những điều kiện thuận lợi
về kho quỹ, thông tin quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp. Qua đó ngân
7
hàng có thể làm tư vấn tài chính, đầu tư, giữ hộ tài sản quý giá, làm đại lý
phát hành chứng khoán cho các doanh nghiệp để nhận được khoản hoa hồng,
phí…sẽ vừa tiết kiệm chi phí vừa đạt hiệu quả cao.
NHTM làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh
toán. Khi các khác hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được ngân hàng đảm
bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng,
tiện lợi, nhất là đối với những khoản thanh toán có giá trị lớn, cùng khắp địa
phương mà nếu khách hàng tự thực hiện sẽ rất tốn kèm và khó khăn. Trong
khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông như
séc, thẻ thanh toán… đã tiết kiệm được cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu
thông. NHTM làm trung gian thanh toán trên cơ sở những hoạt động đi vay để
cho vay. Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản chi trên tài khoản tiền gửi
của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện chức năng này. Khi làm
trung gian thương mại, NHTM tiến hành những nghiệp vụ như: mở tài khoản
tiền gửi, nhận vốn tiền gửi vào tài khoản và thanh toán theo yêu cầu của
khách hàng. Trong đó thanh toán theo yêu cầu của khách hàng là kết quả sau
khi thực hiện hai công việc trên. Ngân hàng trích tiền từ tài khoản tiền gửi của
khách hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền
gửi, tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng. Như
vậy, với sự ra đời và phát triển của NHTM, phần lớn các khoản thanh toán
tiền hàng hóa, dịch vụ của xã hội được thực hiện qua ngân hàng với những
hình thức thanh toán tiên tiến và thủ tục ngày càng đơn giản.
Bên cạnh những chức năng trên, NHTM còn có chức năng quan trọng
khác là chức năng tạo tiền. Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian
thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền gửi thanh toán. Thông qua chức
phát triển sẽ tạo ra nhiều nguồn vốn. Trong điều kiện đó, ngân hàng thương
mại có nhiều cơ hội huy động các nguồn vốn nhàn rỗi, tạm thời nhàn rỗi ở
mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế được tạo ra từ quá trình sản
xuất, kinh doanh trong xã hội. Thông qua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng
9
thương mại cung cấp vốn cho các hoạt động kinh tế. Nhờ có hoạt động của hệ
thống ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh có điều kiện mở rộng sản xuất, đầu tư cải tiến
máy móc, công nghệ, tăng năng suất lao động và tăng quy mô sản xuất (tái
sản xuất mở rộng) từ đó làm tăng quy mô toàn nền kinh tế.
Thứ hai, Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị
trường vốn. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh
nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy
luật cạnh tranh... Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, doanh
nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ
chế quản lý kinh tế mà còn phải cải tiến máy móc, thiết bị và công nghệ. Những
hoạt động này đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư lớn vượt quá khả năng vốn tự
có của chủ sở hữu của doanh nghiệp. Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp
buộc phải đến ngân hàng vay vốn thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình.
Như vậy, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối giữa
doanh nghiệp với thị trường vốn (nguồn cung về vốn). Nguồn vốn tín dụng của
ngân hàng cho doanh nghiệp vay đóng vai trò quan trọng đối với nâng cao chất
lượng sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt nhu cầu thị trường, từ
đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
Thứ ba, Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô
nền kinh tế. Khi hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả sẽ
thực sự là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bằng hoạt
động tín dụng cho vay và thanh toán, các ngân hàng đã góp phần mở rộng
chóng vì vậy thường là các ngân hàng lớn. Có phạm vi hoạt động rộng, hoạt
động đa năng, có nhiều cho nhánh hoặc công ty con.
Ngân hàng sở hữu Nhà nước là loại hình ngân hàng mà vốn sở hữu do
Nhà nước cấp, có thể là Trung ương, tỉnh, thành phố. Các ngân hàng được
thành lập nhằm thực hiện một số mục tiêu nhất định thường là do chính sách
11
của chính quyền Trung ương hoặc địa phương quy định. Những Ngân hàng sở
hữu nhà nước thường được hỗ trợ về tài chính và bảo lãnh phát hành giấy nợ,
các ngân hàng này phải thực hiện các chính sách của Nhà nước có thể gây bất
lợi cho hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng liên doanh được hình thanh dựa trên vốn của hai hoặc nhiều
bên, thường là giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận
dụng ưu thế của nhau [2].
1.1.4.2. Theo tính chất hoạt động
Hoạt động chuyên doanh và đa năng: (1) Ngân hàng hoạt động theo
hướng chuyên doanh chỉ tập trung cung cấp một dịch vụ ngân hàng, như cho
vay đối với xây dựng cơ bản hoặc đối với nông nghiệp. Tính chuyên môn hóa
cao cho phép ngân hàng có đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp
vụ. Ngân hàng này thường gặp rủi ro khi ngành hoặc lĩnh vực hoạt động mà
ngân hàng phục vụ sa sút. (2) Ngân hàng đa năng là ngân hàng cung cấp mọi
dịch vụ ngân hàng cho mọi đối tượng. Đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện
nay của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng đa năng thường là ngân hàng
lớn, tính đa dạng sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập và hạn chế rủi ro.
Hoạt động bán buôn và ngân hàng bán lẻ: (1) Hoạt động bán buôn là
cung cấp các dịch vụ cho các ngân hàng, công ty tài chính, cho Nhà nước,
cho các doanh nghiệp lớn. Ngân hàng có hoạt động bán buôn phát triển
thường là ngân hàng lớn hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế cung
cấp các khoản tín dụng lớn. (2) Hoạt động ngân hàng bán lẻ cung cấp các
lượng vốn nhất định để thực hiện hoạt động huy động và cho vay vốn. Vậy
vốn là gì?
Vốn là một trong các yếu tố cơ bản trong hoạt động kinh doanh, không
chỉ trong ngân hàng mà còn trong toàn xã hội. Đối với mỗi ngân hàng, muốn
tiến hành hoạt động kinh doanh thì phải có vốn và trong nền kinh tế thị trường
13
vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại trong kinh
doanh của doanh nghiệp.
Vốn là phạm trù kinh tế cơ bản, vốn gắn liền với nền tảng sản xuất và
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và quá
trình tiếp theo cho hoạt động kinh doanh. Có thể hiểu: Vốn là biểu hiện bằng
tiền của tất cả giá trị tài sản được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, là giá trị ứng ra ban đầu cho các quá trình sản xuất
tiếp theo của doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lời [4], [5].
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy
động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh
khác. Thực chất vốn của ngân hàng là bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời
nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng mà người chủ sở
hữu chúng gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Hay nói
cách khác, họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tiền tệ cho ngân hàng đề rồi
ngân hàng phải trả lại cho họ một khoản thu nhập. Như vậy, ngân hàng đã
thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thái tiền tệ, làm
tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động
kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định đến sự tồn
tại và phát triển của hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhìn chung, vốn
chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết định đối với việc thực hiện các chức
năng của NHTM.
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng
phát hành cổ phiếu trên thị trường.
- NHTM liên doanh: Vốn điều lệ do phía Việt Nam và phía nước ngoài
đóng góp theo tỷ lệ tham gia đã thỏa thuận trong điều lệ.
- Chí nhánh Ngân hàng nước ngoài: Vốn do ngân hàng mẹ ở chính
quốc chuyển qua.
- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Vốn điều lệ do tổ chức thành lập tự
đáp ứng.
15
Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật (gọi là
vốn pháp định). Ở Việt Nam cũng như tại các quốc gia trên thế giới đều có
quy định mức vốn pháp định cho mỗi loại hình ngân hàng. Mức vốn pháp
định có thể được quy định thay đổi tùy mỗi thời kỳ, phù hợp với yêu cầu quản
lý và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Vốn điều lệ của mỗi NHTM không phải là một con số bất biến mà có
thể thay đổi theo xu hướng tăng lên nhờ được cung cấp bổ sung hoặc phát
hành cổ phiếu bổ sung, hoặc được kết chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều
lệ theo quy định của luật pháp. Tuy vốn điều lệ không phải là nguồn vốn chủ
lực trực tiếp phục vụ cho nhu cầu kinh doanh tiền tệ đối với NHTM. Song,
vốn điều lệ lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng xuất phát từ mục đích sử dụng
nó. Trước hết, vốn điều lệ được sử dụng để xây dựng, mua sắm tài sản cố
định, trang thiết bị chuyên dùng… tức là tạo nên cơ sở vật chất ban đầu phục
vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngoài ra các NHTM còn được
phép sử dụng vốn điều lệ để góp vốn liên doanh, đầu tư, cấp vốn cho các công
ty trực thuộc và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác. Điều này có nghĩa
là mỗi NHTM có vốn điều lệ lớn sẽ có khả năng để đa dạng hóa hoạt động
kinh doanh của mình. Vốn điều lệ cũng là yếu tố làm cơ sở để xác định các
mức khống chế cho vay tối đa đối với một khách hàng, mức vốn có thể huy
động được quy định bởi pháp luật. Vốn điều lệ cũng là yếu tố quan trọng tạo
Có rủi ro quy đổi
=
Σ (Tài sản Có nội bảng × Hệ số rủi ro) + Σ
(Tài sản ngoại bảng × Hệ số rủi ro)
1.2.2.2. Vốn huy động
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu sử dụng trong hoạt động kinh
doanh của NHTM, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân
hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy
đủ theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Nguồn vốn huy động
chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM bao gồm:
- Tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng, còn được gọi là tiền gửi thanh
toán, tiền gửi giao dịch.
- Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức, đoàn thể.
- Nguồn vốn huy động qua phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu,
trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi.
1.2.2.3. Vốn đi vay
Trong trường hợp vốn tự có và vốn huy động không đáp ứng đủ nhu
cầu kinh doanh, NHTM có thể vay vốn của các chủ thể sau:
- Vay của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức được tái cấp vốn như
chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá, cầm cố các giấy tờ có giá, vay
lại theo hợp đồng tín dụng.
- Vay của các NHTM khác qua thị trường liên ngân hàng.
17
- Vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế.
1.2.2.4. Nguồn vốn khác
1.2.3.2. Đối với ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho
ngân hàng nhưng hoạt động này là nghiệp vụ rất quan trọng. Không có hoạt
động huy động vốn xem như không có hoạt động của ngân hàng thương mại.
NHTM khi được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định, tuy
nhiên vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định, máy móc, thiết bị… cần
thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt
động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác. Để có vốn
phục vụ cho các hoạt động này ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng.
Nghiệp vụ huy động vốn, do vậy, có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng
cũng như đối với khách hàng.
Đối với NHTM, hoạt động huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn
cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh. Không có hoạt động huy
động vốn, NHTM sẽ không đủ vốn tài trợ cho hoạt động của mình. Mặt khác
thông qua huy động vốn, NHTM có thể đo lường được uy tín cũng như sự tín
nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Từ đó, NHTM có các biện pháp
không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng
quan hệ với khách hàng. Có thể nói, huy động vốn góp phần giải quyết đầu
vào cho ngân hàng.
1.2.3.3. Đối với khách hàng
Hoạt động huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm
và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng
tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp
cho khách hàng một nơi an toàn để họ cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn
rỗi. Cuối cùng nghiệp vụ huy động giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận
với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân
19
hàng và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh
và tiền gửi dài hạn). Tiền gửi có kỳ hạn thường có quy mô số dư trung bình
lớn hơn so với các khoản tiền gửi tiết kiệm, tạo nguồn vốn tương đối lớn cho
hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, nguồn vốn này thường không ổn định và tạo
sức ép cho ngân hàng nếu khách hàng rút tiền với số lượng lớn.
1.2.4.3. Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào khoản tiền
gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định
của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp
luật về bảo hiểm tiền gửi. Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để
phát hành séc và thực hiện các giao dịch thanh toán, trừ trường hợp chuyển
khoản sang tài khoản tiền vay hoặc tài khoản khác của chính chủ sở hữu tiền
gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó. Nhìn chung, tiền gửi tiết
kiệm là nguồn vốn tương đối ổn định, cho phép ngân hàng chủ động trong
việc sử dụng vốn để cấp tín dụng, đầu tư. Tuy nhiên, lãi suất áp dụng cho các
khoản tiền gửi tiết kiệm thường cao hơn và quy mô số dư trung bình của
những khoản tiền gửi này thường có giá trị không lớn. Thông qua các hình
thức tiền gửi tiết kiệm khác nhau, ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng
của khách hàng. Thông thường có 2 loại cơ bản:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là loại tiền gửi tiết kiệm mà người gửi
tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày giờ
làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Loại tiền gửi tiết kiệm
không kỳ hạn lãi suất thấp nguyên nhân giống như tiền gửi không kỳ hạn. Khi
khách hàng có nhu cầu chi tiêu có thể rút một phần trên số tiền tiết kiệm, sau
khi xuất trình các giấy tờ hợp lệ.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết
kiệm, trong đó người gửi tiền thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm về
kỳ hạn gửi nhất định. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể thể được phân thành
nhiều loại theo kỳ hạn ngày, tuần, tháng. Khách hàng được rút tiền gửi tiết kiệm
22
Chi phí huy động nguồn vốn là khoản chi phí được cấu thành bởi chi
phí lãi phải trả cho các khoản tiền gửi của khách hàng và các chi phí lãi phát
sinh khác trong quá trình huy động vốn. Đây là khoản chi phí trọng yếu trong
tổng chi phí của mỗi ngân hàng, cho nên với hầu hết các ngân hàng muốn
tăng thu nhập thì việc hạ thấp chi phí tiền gửi của mình là nhu cầu bức thiết.
Tuy nhiên, các ngân hàng không thể hạ thấp chi phí tiền gửi của mình bởi nó
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức cung tiền gửi, khả năng cạnh tranh của
ngân hàng, lãi suất cho vay, quy mô của khoản tiền gửi không phải trả lãi và
quan trọng nhất là sự chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất đi vay.
Những loại tiền gửi khác nhau tương ứng với mức độ rủi ro khác nhau
sẽ quyết định những lãi suất huy động khác nhau, như tiền gửi có kỳ hạn thì
rủi ro thấp hơn tiền gửi không kỳ hạn. Thêm vào đó, thu nhập của người gửi
tiền và mức cạnh tranh trên thị trường cũng tác động tới lãi suất huy động.
Hơn nữa, những khoản tiền gửi ngân hàng không phải trả lãi có ảnh
hưởng tới mức chênh lệch lãi suất của ngân hàng. Quy mô của các khoản tiền
gửi không phải trả lãi càng nhiều thì thu thập từ lãi suất ròng sẽ càng lớn và
ngân hàng càng có khả năng cạnh tranh mạnh hơn so với các đối thủ. Có 3
phương pháp xác định chi phí huy động vốn thường được các ngân hàng áp
dụng phổ biến là: Phương pháp chi phí bình quân, chi phí vốn biên chế và chi
phí hỗn hợp. Mỗi phương pháp đều có ý nghĩa nhất định tùy theo mục đích sử
dụng của số liệu về chi phí huy động vốn tính toán được.
- Phương pháp chi phí bình quân: Đây là phương pháp được sử dụng
rộng rãi nhất, phương pháp này chú trọng vào cơ cấu hỗn hợp các nguồn vốn
mà ngân hàng đã huy động được trong quá khứ và xem xét cẩn thận mức lãi
suất mà thị trường đòi hỏi ngân hàng phải trả cho mỗi nguồn vốn huy động
được. Công thức tính chi phí bình quân như sau:
Chi phí trả lãi bình quân
rút vốn ra và đầu tư vào nơi khác hấp dẫn hơn. Để tính chi phí vốn sở hữu,
một phương pháp hợp lý là ước tính mức tỷ suất sinh lời cần thiết mà các cổ
đông cho rằng cần thiết sẽ duy trì mức góp vốn hiện tại.
Như vậy, tỷ suất sinh lợi tối thiểu cần thiết phát sinh từ toàn bộ các
nguồn vốn huy đọng và vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ là:
Tỉ suất sinh lời
Tỷ suất sinh lời tối thiểu
+
Tỷ suất sinh lời
=
tối thiểu
để bù đắp chi phí
trước thuế cho cổ đông
- Phương pháp chi phí vốn biên chế: Phương pháp chi phí bình quân
tuy có ưu điểm là đơn giản nhưng chỉ nhìn về quá khứ để xem xét chi phí và
tỷ suất lợi nhuận tối thiểu đã thực hiện của ngân hàng. Trong khi đó, phần lớn
các quyết định kinh doanh của ngân hàng là cho hiện tại và hướng về tương
24
lai, tức phải trả lời câu hỏi: Khi một khách hàng xin cấp một khoản tín dụng,
để đáp ứng nhu cầu đó, ngân hàng phải tốn phí là bao nhiêu? Tỷ lệ thu nhập
ngân hàng phải tạo ra từ tín dụng và đầu tư chứng khoán tương lai tối thiểu
phải bằng bao nhiêu để có thể bù đắp chi phí huy động những nguồn vốn mới.
Phương pháp chi phí vốn biên chế giả định rằng toàn bộ nguồn vốn để đáp
để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào chi
phí của mỗi nguồn mà còn phụ thuộc rủi ro mà nguồn vốn huy động có thể
mang lại. Các loại rủi ro tác động đến nguồn vốn huy động của ngân hàng:
- Rủi ro lãi suất: Khi lãi suất thị trường giảm, ngân hàng sẽ bị thiệt hại do
trước đó đã huy động những nguồn vốn dài hạn với lãi suất cao. Khi lãi suất thị
25
trường tăng, người gửi tiền sẽ thấy lãi suất mà ngân hàng trả cho họ không thỏa
đáng nên họ sẽ rút tiền để đầu tư vào lĩnh vực khác có lợi hơn. Như vậy, có thể
thấy rủi ro lãi suất hiện ở những nguồn huy động vốn có thời hạn dài.
- Rủi ro thanh khoản: Xảy ra khi tình trạng rút tiền hàng loạt của khách
hàng làm sụt giảm nghiêm trọng nguồn vốn của ngân hàng. Như khi tình
trạng thất nghiệp gia tăng, các doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng hóa sẽ
làm cho tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán sẽ giảm đi một cách đột
ngột… buộc ngân hàng phải tìm kiếm những nguồn vốn khác có chi phí cao
hơn để bù đắp.
- Rủi ro vốn chủ sở hữu: Khi vốn huy động quá lớn so với vốn chủ sở
hữu, nhà đầu tư sẽ lo lắng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng và có thể họ
sẽ rút vốn khỏi ngân hàng.
Lựa chọn giữa chi phí và rủi ro trong huy động nguồn vốn của ngân hàng:
Thứ nhất, có sự đánh đổi giữa rủi ro và chi phí huy động vốn, những
nguồn vốn có chi phí thấp có thể phải chịu rủi ro về lãi suất, thanh khoản.
Như thế, mỗi khi phải huy động vốn mới, nhà quản trị phải lựa chọn một vị trí
(điểm A hoặc điểm B trên đồ thị) theo chỉ đạo của các đại cổ đông của ngân
hàng về tương quan ưu tiên giữa rủi ro và lợi nhuận trên bảng đối chiếu giữa
rủi ro và chi phí theo từng cách phối hợp giữa các nguồn vốn.
Hình 1.1. Biểu đồ tương quan giữa chi phí và rủi ro