BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
**********
TÓM TẮT BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở
CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC ĐỂ ỨNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐÃ
QUA ĐÀO TẠO PHỤC VỤ SỰ NGIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN
ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Mã số:
Chủ nhiệm đề tài: TS. Vi Thái Lang
HÀ NỘI-2011
1
LỜI MỞ ĐẦU
1.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa nước ta trở thành nước công
nghiệp vào năm 2020 như tinh thần của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII của đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta phải dựa vào nhiều nguồn lực
khác nhau, trong đó nguồn lực con người giữ vị trí trọng yếu và quyết định.
Sở dĩ như vậy là do đất nước ta sau hơn mười năm đổi mới (Tính đến Đại Hội
VIII) chúng ta đã ra tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ
2
Nguồn nhân lực và phát triển giáo dục và đào tạo là vấn đề luôn được
quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, nhất là trong thời gian gần
đây, con người được đặt ở trung tâm của mọi sự phát triển, vì vậy trên từng
khía cạnh khác nhau của đề tài đã có nhiều công trình nghiên cứu.
Ở nước ta đã có chương trình khoa học cấp Nhà nước nghiên cứu về
con người mang mã số KX – 07 với tiêu đề “Con người Việt Nam - mục tiêu
và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”. Trong số 19 đề tài của chương
trình, có đề tài KX- 07 – 14 nghiên cứu “Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các
loại hình lao động nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội
trong nền kinh tế mới”. Ở đề tài này, các tác giả đã đề cập vấn đề tương đối
rộng về đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Vì vậy, đề tài được phân chia thành
ba đề tài nhánh: nhánh 1 – nghiên cứu về nội dung, phương pháp bồi dưỡng
và đào tạo lại; nhánh 2 – nghiên cứu về chính sách bồi dưỡng và đạo tạo lại;
nhánh 3 – nghiên cứu về các chính sách tuyển dụng và sử dụng lao động.
Chương trình khoa học này được thông qua là một định hướng cơ bản cho các
quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà Nước ta đối với vấn đề liên quan đến
nguồn lực con người; đồng thời nó cũng là cơ sở lý luận quan trọng cho các
công trình nghiên cứu các vấn đề cụ thể khác về phát triển con người trong
tình hình mới.
Ở góc độ phát triển giáo dục và đào tạo, mỗi công trình lớn nhỏ khác
nhau muốn nghiên cứu đến sự phát triển đất nước đều quan tâm đến phát triển
vấn đề này, do đó có rất nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến. Công
trình “Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài” của Nghiêm Đình Vì, Nguyễn
Đắc Hưng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Công trình này
tập trung nêu những cơ hội, thách thức và nhiệm vụ của giáo dục Việt Nam
trong những năm đầu của thế kỷ XX. Công trình “Giáo dục và phát triển
hướng và phạm vi rộng, hẹp khác nhau nhưng chưa có một đề tài nào tập
trung nghiên cứu vấn đề phát triển giáo dục đào tạo ở địa bàn khu vực miền
núi phía Băc nước ta để đáp ứng nhu cầu tạo nguồn nhân lực qua đào tạo
trong thời đại ngày nay. Vì vậy, vấn đề “Một số giải pháp phát triển giáo dục
và đào tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc để đáp ứng nguồn nhân lực đã qua
đào tạo phục vụ sự công nghiệp hoá hịên đại hoá ở nước ta hiện nay” cần
được nghiên cứu một cách cụ thể từ nhiều khía cạnh.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nguồn nhân lực bao hàm nhiều phương diện, đề tài này không nghiên
cứu nguồn nhân lực nói chung với tất cả các mặt của nó, mà chỉ tập trung
nghiên cứu những vấn đề đang ảnh hưởng đến sự phát triển của giáo dục đào
tạo ở miền núi phía Bắc nước ta, cũng như tác động của nó đến chất lượng
nguồn nhân lực, qua đó đề tài khuyến nghị một số giải pháp nhằm phát triển
giáo dục và đào tạo vùng này, nhằm tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
a, Mục đích: Xác lập căn cứ khoa học cho việc đề xuất phương hướng
và giải pháp phát triển giáo dục đào tạo nguồn nhân lực ở miền núi phía Bắc
nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu công nghịêp hoá, hiện đại hoá.
b, Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò của nguồn nhân lực
đối với công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước nói chung, miền núi phía
Bắc nói riêng.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng và tình hình giáo dục và đào
tạo ở miền núi phía Bắc nước ta, chỉ ra nguyên nhân cần khắc phục.
- Đề xuất và kiến giải những quan điểm định hướng và giải pháp khả
thi phát triển giáo dục đào ở miền núi phía Bắc nhằm đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4
1.1.1. Nguồn nhân lực
Khái niệm “Nguồn nhân lực”: Tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của
người sử dụng, có thể hiểu khái niệm này có nội hàm rộng, hẹp khác nhau,
song về cơ bản các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: nguồn nhân lực,
đó là nguồn lực con người, bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần
và sự tương tác giữa các cá nhân trong một cộng đồng xã hội, một quốc gia,
được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào những công việc hữu ích.
Từ những quan điểm đó, có thể hiểu nguồn nhân lực có các đặc điểm cơ bản
sau:
+ Những người có khả năng tham gia vào quá trình lao động sản xuất
ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội.
+ Nguồn nhân lực phải là những người trong một độ tuổi nhất định
trong khuôn khổ quy định của pháp luật.
+ Khả năng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần của nguồn nhân
nhân lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó cơ bản nhất là chất lượng và số
lượng của nó.
- Nguồn nhân lực chất lượng cao: Được hiểu là nguồn nhân lực được
đào tạo cơ bản, nắm được những tri thức khoa học hiện đại và có khả năng
ứng dụng những tri thức đó vào sản xuất ở các lĩnh vực cụ thể nhất định. Nói
cách khác là những nhân lực được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến
thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo cao, đáp ứng yêu cầu của nền
sản xuất hiện đại.
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá cạnh tranh quyết liệt và đầy biến động
như hiện nay, yêu cầu phải có một đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao
càng cần thiết và có thể khẳng định rằng thế thắng sẽ nghiêng về dân tộc hay
quốc gia nào có sở hữu đông đảo nguồn nhân lực chất lượng cao. Do đó, đối
với những vùng kinh tế cần đẩy mạnh sư phát triển, phải có đội ngũ này dưới
nhiều hình thức hác nhau. Nghĩa là nếu có nguồn nhân lực chất lượng cao tại
chỗ để tự nó sẽ làm cho vùng miền ấy phát triển là tốt nhất, nhưng nếu chưa
có nguồn nhân lực chất lượng cao tại chỗ thì cần biết tận dụng các cơ hội để
vực miền núi và vùng chậm phát triển ở nước ta hiện nay.
Để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, mục tiêu và nội dung cơ
bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần thiết phải có nguồn nhân lực
tương xứng, đáp ứng nhu cầu cấp thiết trước mắt và đảm bảo cho sự phát triển
bền vững lâu dài. Nguồn nhân lực đó phải có chất lượng ở mọi trình độ từ
những người tham gia lao động giản đơn cho đến cán bộ kỹ thuật và người
quản lý. Ở vùng sâu, vùng xa như khu vực miền núi phía Bắc nước ta càng
cần phải tính đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực. Điều đó chỉ có thể được
đáp ứng thông qua phát triển giáo dục và đào tạo.
1.2. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực.
1.2.1. Ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế
Trình độ phát triển kinh tế là trụ cột của mọi sự phát triển nói chung,
trong đó phát triển nguồn nhân lực không thể là ngoại lệ.
7
Sự phát triển của kinh tế một mặt vừa là điều kiện tiên quyết để phát
triển về sức lực cơ bắp, vừa là điều kiện để phát triển về trí tuệ của nguồn
nhân lực. Phát triển kinh tế mang lại cho đời sống của nguồn nhân lực ổn định
cả về vật chất và tinh thần.
Hiện nay, trong các hoạt động sản xuất, công nghệ thường được thay đổi
rất nhanh chóng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, điều này đã thúc
đẩy vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cường độ ngày càng
nhanh.
Nguồn nhân lực và trình độ phát triển kinh tế có quan hệ biện chứng với
nhau, vấn đề phát triển kinh tế phải được giải quyết ở một mức độ nhất định
thì vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mới có cơ sở vật chất để khắc
phục. Vì vậy, cần phải tìm nguyên nhân ở nhiều yếu tố khác nhau, trên cớ đó
chọn đúng, chọn trúng những mắt khâu cơ bản để cùng làm cho nguồn nhân
đâu cũng phát huy hết được những tiềm năng này trong cuộc sống. Văn hoá
sẽ giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của con người, nhận thức được vai trò
của văn hoá vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2.3. Tốc độ gia tăng dân số ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực.
Quy mô và tốc độ gia tăng dân số có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
nguồn nhân lực. Sự gia tăng dân số vừa đáp ứng nhu cầu số lượng nguồn nhân
lực của xã hội, vừa là điều kiện để tăng trưởng, phát triển kinh tế và đào tạo
phát triển nguồn nhân lực.
Nếu quy mô dân số và sự tăng trưởng của nó phù hợp với tăng trưởng
kinh tế thì nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạch định chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển chất lượng nguồn nhân lực nói
riêng. Ngược lại, nếu dân số tăng nhanh, làm cho số lượng nhân khẩu ăn theo
trên mỗi lao động cao thì sẽ có tác động tiêu cực đến việc hoạch định chính
sách cũng như những đầu tư cho chất lượng nguồn nhân lực.
Đối với những khu vực kinh tế - xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất
chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và phần lớn phụ thuộc tự nhiên thì sự
gia tăng dân số rất phức tạp. Bởi vì, ở những vùng đó lao động chủ yếu dựa
vào sức lực cơ bắp, những lao động truyền thống của họ cần hàm lượng trí tuệ
không nhiều, do đó họ cần nhiều nhân khẩu và lao động, chính điều đó làm
cho vấn đề kiểm soát mức độ gia tăng dân số và quy mô ở những vùng này là
rất khó khăn.
Điều kiện tự nhiên trong từng vùng cũng ảnh hưởng đáng kể đến quy mô
và mức độ gia tăng dân số. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, thì dân số sẽ dễ
được kiểm soát ở khía cạnh mức sinh và tỷ lệ sinh, nhưng sự gia tăng tự nhiên
vẫn nhanh hơn vì những vùng khác sẽ di cư tự nhiên đến; nếu điều kiện tự
nhiên khó khăn thì cũng dẫn tới tình trạng sinh đẻ không theo kế hoạch, di cư
tự do đi, tất cả những điều đó đều làm cho mọi chiến lược dân số và phát triển
nguồn nhân lực không có tính khả thi.
1.2.4. Các chính sách vĩ mô tác động đến chất lượng nguồn nhân lực
Chính sách vĩ mô của nhà nước có tác động đến mọi mặt của đời sống xã
của chức năng văn hoá xã hội.
Chức năng kinh tế của giáo dục cũng chính là chức năng đào tạo nguồn
nhân lực. Qua giáo dục, người lao động được tiếp thu những tri thức, kỹ năng
lao động trên mọi lĩnh vực.
Với vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo đối với vấn đề chất lượng
nguồn nhân lực như trên, từ cuối những năm thế kỷ XX, hầu hết chính phủ
các nước đã có những chiến lược và hành động cụ thể với giáo dục và đào tạo
của quốc gia mình, tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo ở mức ngày càng cao.
Nước ta đang trên đường hội nhập và phát triển cũng đã và đang có những
bước đi phù hợp trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo. Hiến pháp
của Nhà nước đã chỉ rõ “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”; coi đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; ngoài ra hầu hết các kỳ Đại hội Đại
biểu của Đảng đều có những nội dung định hướng, chỉ đạo vấn đề phát triển
giáo dục và đào tạo của đất nước. Tuy nhiên, những cố gắng của nước ta
trong cải cách giáo dục vẫn còn nhiều vấn đề phải được quan tâm giải quyết
một cách quyết liệt và sâu sát hơn, nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc, đó
cũng là nội dung trong khuôn khổ của đề tài này cần phải làm rõ.
Chương 2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực
10
- Khái quát kinh tế xã hội – Quan điểm đánh giá
Khu vực miền núi phiá Bắc nước ta gồm 14 tỉnh: Hà giang, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ,
Bắc Giang, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình và một số tỉnh có miền
núi như: Vĩnh Phúc, Quảng Ninh;v.v.. Khu vực này được xác định là địa bàn
chiến lược đặc biệt quan trong về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối
ngoại của cả nước; cũng là nơi có vai trò quyết định đối vấn đề môi trường
vùng sản xuất với quy mô lớn hơn. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích
cực. Có được những tiến bộ đó trước hết phải kể đến việc hoạch định đường lối
11
chiến lược, sách lược đúng đắn của Đảng ta và sự chỉ đạo trực tiếp, năng động
của các cấp uỷ đảng và chính quyền ở các địa phương; thành tựu đó cũng thể
hiện sự tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và tinh thần cần cù, đoàn kết của toàn
thể đồng bào các dân tộc ở trong toàn khu vực này.
Từ những tiến bộ về kinh tế, bộ mặt nông thôn, đời sống xã hội của
đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta cũng đã có những thay đổi
đáng kể. Dưới ánh sáng của Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII, lần thứ IX, lần thứ X và lần thứ XI, khu vực miền núi phía Bắc
đã được Chính phủ tập trung đầu tư nhiều mặt như: giao thông, điện lưới,
trường học, trạm y tế, nước sạch nông thôn, v.v… Nhờ vậy, đời sống – xã hội
của khu vực này đã có những đổi thay đáng mừng. Tỷ lệ đói nghèo đã giảm,
trẻ em đến trường đông hơn, tất cả các tỉnh đã giải quyết xong nạn mù chữ và
phổ cập giáo dục tiểu học, tiến tới phổ cập trung học cơ sở; nhiều hoạt động
sinh hoạt văn hoá đặc sắc của cộng đồng các dân tộc được khôi phục và phát
triển, tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc được củng cố và tăng cường. Tuy
nhiên, ngoài những mặt phát triển kể trên, ở miền núi và đồng bào các dân tộc
thiểu số phía Bắc cũng còn nhiều khó khăn và thách thức rất lớn. Mặc dù kinh
tế có sự tăng trưởng nhưng còn chậm, thực chất của tăng trưởng còn thấp so
với mức bình quân theo đầu người trong cả nước.
Khu vực miền núi phía Bắc nước ta chiếm một diện tích tương đối lớn,
nhưng sự phát triển lại không đồng đều giữa các tiểu vùng, cho nên Nhà nước
đã chia miền núi thành ba khu vực cơ bản để có chính sách ưu tiên phát triển
thích hợp.
Để có thể thúc đẩy giáo dục và đào tạo ở khu vực miền núi phía Bắc
đều có những đổi thay đáng mừng.
Tuy nhiên, những đổi thay này mới chỉ là kết quả ban đầu và đó là so
sánh với thời kỳ trước khi thực hiện theo đường lối đổi mới, còn so với các
vùng khác cùng thời điểm hiện nay thì sự thay đổi này còn ở mức thấp. Để có
thể nhận thức đúng đắn được thực trạng của nguồn nhân lực trong khu vực
này, chúng tôi khảo sát một số mặt cơ bản sau:
2.1.1. Quy mô và tốc độ gia tăng dân số miền núi phía Bắc nước ta
Miền núi phía Bắc nước ta có khoảng 7,2 triệu người trong độ tuổi lao
động sống rải rác theo từng cụm dân cư nhỏ, đông nhất là vài chục hộ, ít nhất
là 3 - 5 hộ tạo thành từng làng, bản tương đối độc lập. Việc phân bố dân cư
không đều trong khu vực là do điều kiện tự nhiên quy định. Trong đó, vừa do
sự phân cắt mạnh của địa hình, vừa do khu vực này có nhiều dân tộc cư trú,
có cách thức làm ăn sinh hoạt tương đối khác nhau đã tạo nên nhưng cộng
đồng dân cư nhỏ, sống rải rác ở các địa hình cao – thấp, tương đối khác nhau
trong từng vùng lãnh thổ. Đây là một đặc điểm gây cản trở rất lớn tới việc đầu
tư và phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển giáo dục nói riêng.
Trong thực tế, vấn đề quy mô và tốc độ gia tăng dân số sẽ được giải
quyết phù hợp theo hướng tích cực nếu như các phương tiện giao thông liên lạc
phát triển tốt.
Nói chung, vấn đề quy mô và tốc độ gia tăng dân số của khu vực miền
núi phía Bắc nước ta hiện nay đã dần được kiểm soát và có những dấu hiệu
phát triển tích cực, nhưng có phát huy được sức mạnh đó để xây dựng và
đào tạo một đội ngũ nguồn nhân lực qua đào tạo, để tạo điều kiện cho lực
lượng sản xuất ở khu vực này phát triển như mong muốn hay không thì còn
phụ thuộc cơ bản vào chất lượng người lao động, cho nên cần phải đánh giá
quy mô, tốc độ gia tăng dân số gắn với chất lượng người lao động.
2.1.2. Thực trạng chất lượng người lao động ở miền núi phía Bắc nước
ta hiện nay
13
Tuy nhiên, vấn đề chất lượng giáo dục trong khu vực miền núi phía
Bắc nước ta vẫn còn hết sức thấp kém, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.
Trong thời gian qua, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan
khác nhau, trên cả nước ta nói chung, khu vực miền núi phía Bắc nói riêng,
lực lượng người lao động có bằng đại học và cao đẳng đã tăng lên nhanh
chóng so với đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề, nhưng đó không
hoàn toàn là biểu hiện tích cực của sự phát triển, bởi vì tỷ lệ người được đào
tạo để lao động trực tiếp còn quá thấp, thậm chí thụt lùi. Vấn đề này có nhiều
nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân là các địa phương đã liên
kết đào tạo với các trường đại học, mở tràn lan các lớp tại chức, với số lượng
ngày một đông nhưng chất lượng không thể kiểm soát bởi rất nhiều lý do
khác nhau.
14
Có thể khẳng định rằng, có một số yếu tố cơ bản đang ảnh hướng rất
lớn đến chất lượng người lao động ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta hiện
nay, cụ thể là:
Thứ nhât: Mức độ đầu tư cho giáo dục và đào tạo ở nước ta còn thấp so
với các nước trong khu vực và quốc tế, ở miền núi phía Bắc lại là nơi có mức
kinh phí chi cho giáo dục thấp nhất so với cả nước.
Thứ hai: đội ngũ cán bộ, giáo viên vừa thiếu, vừa yếu.
Thứ ba: cơ cấu giáo dục và đào tạo giữa các bậc học các ngành học
chưa phù hợp, nội dung chương trình chậm được đổi mới so với tình hình
phát triển khoa học – công nghệ, chưa có các biện pháp kết hợp một cách hiệu
quả những cơ sở vật chất trong mạng lưới các trường phổ thông, các trung
tâm hướng nghiệp dạy nghề.
Thứ tư: phần lớn dân cư toàn vùng chủ yếu sống bằng nghề nông - lâm
- nghiệp truyền thống, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển không
thêm trường Đại học Tây Bắc nhằm đào tạo cán bộ có trình độ cao cho các
tỉnh thuộc khu vực này
2.2.2. Chất lượng giáo dục
Thứ nhất là, quan niệm về chất lượng giáo dục phải trên cơ sở đồng bộ.
Thứ hai là, việc quản lý chất lượng giáo dục còn mang tính hình thức
và chưa có các giải pháp đồng bộ.
Thứ ba là, chưa tập hợp được đông đảo các lực lượng xã hội tham gia
vào vấn đề đảm bảo chất lượng giáo dục. Về cơ bản, chăm lo chất lượng giáo
dục chỉ tập trung ở các nhà quản lý, các Sở, các Phòng giáo dục, các Trường.
Vì lẽ đó, chúng tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá chất lượng giáo dục ở
vùng này bằng hình thức phỏng vấn, kiểm trực tiếp, phát phiếu thăm dò;v.v.
và đối chiếu với các số liệu của tổng cụ thống kê. Trên cơ sở đó chúng tôi kết
luận và chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó.
Qua thực trạng yếu kém của chất lượng giáo dục của khu vực miền núi
phía Bắc, theo chúng tôi có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác
nhau, trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản sau đây:
Một là, chưa có các biện pháp hạn chế được tối đa những khó khăn do
điều kiện khách quan mang lại.
Hai là, chưa có chính sách đủ mạnh để thu hút những người quản lý và
giáo viên giỏi giảng dạy cho giáo dục vùng sâu, vùng xa.
Ba là, chương trình và thời gian học của các bậc học chư phù hợp với
đối tượng. Khu vực này có nhiều con em dân tộc thiểu số sinh sống, có nhiều
phong tục tập quán, ngôn ngữ khác nhau, cho nên khi đi học ở trường, việc
học tập theo tiếng phổ thông đã là một ngoại ngữ, nhiều khi tiếng chưa hiểu
thì đương nhiên nghĩa chưa rõ. Trong khi đó, chúng ta đang bố trí một chương
trình và thời gian học như nhau ở mọi đối tượng là không phù hợp, vì vậy cần
có những cải cách từ những vấn đề này.
Bốn là, có nguyên nhân từ công tác quản lý.
2.2.3. Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho trường học ở khu vực miền
núi phía Bắc
phân luồng để giúp các em không có khả năng học lên cao đi học nghề. Các
chính sách hỗ trợ cho phát triển giáo dục trong toàn vùng đã ngày càng hoàn
thiện nhưng chư đủ sức thu hút các lực lượng xã hội tham gia vào nhiệm vụ
này, nhất là đội ngũ có chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cao. Cho nên cần có
những điều chỉnh ở tất cả những mặt còn hạn chế như đã nêu ở trên.
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1. Đổi mới toàn diện hoạt động nhận thức và thực tiễn đối với giáo dục
ở miền núi phía Bắc nước ta
3.1.1. Những nhận thức và định hướng chung về phát triển giáo dục ở
miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
3.1.2. Giải quyết đồng bộ một số yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp
đến giáo dục và đào tạo trong khu vực
17
Thứ nhất, cần đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường, tăng cường công
tác xóa đói, giảm nghèo trong khu vực
Thứ hai, cần điều chỉnh một số chính sách vĩ mô để hỗ trợ cho giáo dục
miền núi phía Bắc phát triển. Đảng và Nhà nước ta đã phân vùng đồng thời có
các Ban Chỉ đạo từng vùng để nghiên cứu, chỉ đạo các vùng đó phát triển.
Thứ ba, tăng cường kiểm soát dân số, hỗ trợ cho việc ổn định hoạt động
giáo dục trong khu vực.
Thứ tư, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc hỗ trợ cho phát triển giáo
dục và đào tạo.
Thứ năm, đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn miền núi, tạo
điều kiện cho giáo dục phát triển.
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục khu vực
phương pháp tiên tiến, quy mô cơ cấu các ngành nghề hợp lý sẽ làm thay đổi
căn bản chất lượng nguồn nhân lực.
Khu vực miền núi phía Bắc nước ta đang là vùng có các chỉ số phát
triển thấp so với các chỉ số bình quân của cả nước, vì vậy, để đưa vùng này
phát triển cần có một nguồn nhân lực có chất lượng về mọi mặt. Điều kiện tự
nhiên của khu vực miền núi phía Bắc nước ta rất hiểm trở, gây nhiều khó
khăn cho việc phát triển giáo dục và đào tạo trong toàn vùng, kết hợp với các
yếu tố kinh tế - xã hội chưa phát triển hợp lý và chưa có các giải pháp phát
huy hết các yếu tố chủ quan trong công tác giáo dục và đào tạo trong vùng,
càng làm cho chất lượng giáo dục trong khu vực này kém phát triển.
Để giáo dục và đào tạo khu vực miền núi phía Bắc nước ta có chất
lượng và hiệu quả, cần đánh giá đúng thực trạng nền giáo dục ở vùng này và
các yếu tố đang ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của toàn vùng, trên cơ sở
đó, mới đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp giải quyết vấn đề một cách
hợp lý.
Trong các yếu tố đang ảnh hưởng đến giáo dục và đào tạo khu vực
miền núi phía Bắc nước ta, trước hết phải kể đến yếu tố nhận thức của một bộ
phận cán bộ và nhân dân trong vùng chưa đúng về vai trò của giáo dục và đào
tạo đối với sự phát triển và vai trò của sức mạnh tổng hợp trong việc phát
triển tất cả các yếu tố nói chung, trong phát triển giáo dục nói riêng. Mặt
khác, trong công tác quản lý của giáo dục và đào tạo ở nước ta, chưa gắn
được quyền lợi và nghĩa vụ một cách cụ thể và rõ ràng, các chính sách chưa
có các chế tài thưởng, phạt đủ mạnh để có sức thu hút đối với nhười làm công
tác giáo dục và đào tạo trong khu vực miền núi, cho nên đầu tư tốn kém,
nhưng hiệu quả không cao.
Đối với những khu vực có điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa khác
nhau, không thể áp dụng một cách đồng nhất tất cả các nội dung chương trình,
phương pháp giáo dục như nhau. Do đó, để giáo dục miền núi phía Bắc nước
ta phát triển, cần điều chỉnh nội dung chương trình, phương pháp cho phù hợp
với điều kiện cụ thể của vùng miền.