TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
ĐOÀN THỊ THƯƠNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC
TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: triết học
Người hướng dẫn khoa học: TS.Vi Thái Lang
HÀ NỘI_2012
1
MỤC LỤC
A. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
Chương 1: Một số lí luận về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong
việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
1.1. Một số lí luận về quan hệ giữa nội dung và hình thức
1.2. Lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay
Chương 2: Thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta
hiện nay từ góc độ nội dung và hình thức
2.1. Nội dung và hình thức xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt
Nam hiện nay
2.2. Thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện
nay từ góc độ nội dung
triển và trở nên gay gắt thêm lôi cuốn ngày càng rộng rãi các tầng lớp lao
động ở các nước khác nhau trên thế giới và diễn ra trên pham vi toàn cầu.
Hiện nay Việt Nam đang tiến hành đổi mới đất nước trên toàn bộ lĩnh
vực của đời sống xã hội. Trong đó đổi mới chính trị có vai trò “mở đường”
cho đổi mới kinh tế, trong đó gồm: Đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng, dân chủ hóa đời sống xã hội…Để đáp
ứng yêu cầu đó, đòi hỏi phải xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trên cơ sở kế thừa giá trị nhân loại và phù hợp với xu
hướng Nhà nước tiến bộ, dân chủ, hiện đại.
Từ khi độc lập (năm 1945) đến nay, công cuộc xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN ở nước ta đã đạt được một số thành tựu nhất định song
3
cũng còn không ít những hạn chế. Điều đó đòi hỏi phải đưa ra những giải
pháp cụ thể để góp phần vào quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN của dân, do dân và vì dân.
Như vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền là một khâu trọng yếu trọng
đổi mới hệ thống chính trị, là đòi hỏi bức thiết của sự nghiệp đổi mới ở
nước ta hiên nay.
Với nhũng lí do trên, Tôi chọn đề tài “Mối quan hệ giữa nội dung và
hình thức trong việc xây dựng dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt
Nam hiên nay” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đã được nhiều ngành
khoa học nghiên cứu như: Triết học, sử học, chính trị học, kinh tế học
chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hội học…và được đề cập trên
nhiều sách báo, tạp chí và các phương tiện thông tin đại chúng như: Nhà
nước và pháp luật, Thông tin khoa học xã hội, Lý luận chính trị, Tạp chí
Nhà nước pháp quyền là nội dung rất rộng, trong khuôn khổ của một
khóa luận tốt nghiệp, Tôi chỉ nghiên cứu vấn đề xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN từ góc độ nội dung và hình thức của nó ở Việt Nam hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu của
CNDVBC và CNDVLS và kết hợp một số phương pháp nghiên cứu : logic,
phân tích, tổng hợp, chứng minh, diễn dịch, quy nạp.
6. Kết cấu khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận
gồm 3 chương 7 tiết
5
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÍ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
1.1 Một số lí luận về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức.
*khái niệm phạm trù, nội dung, hình thức .
Trong triết học Mác-Lênin, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng duy
vật thống nhất hữu cơ với nhau. Phép biện chứng duy vật nghiên cứu
những quy luật phổ biến nhất của sự vận động và phát triển của thế giới.
Ph.Ă định nghĩa : “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về
những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã
hội loài người và của tư duy” [ 1 ; tr239 ]
Phép biện chứng bao hàm một nội dung hết sức phong phú, trong đó
nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và phát triển của thế giới có ý nghĩa khái
quát chung nhất. Bởi vâỵ các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã
chúng, nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá trình trong kết quả,
trong khuynh hương trong nguồn gốc.
Triết học Mac-Lênin giải quyết vấn đè bản chất các phạm trù không
chỉ trên cơ sở duy vật mà còn theo quan điểm viên chứng. Nghĩa là khi
nghiên cứu các phạm trù, triết học Mác-Lênin phải xuất phát từ chỗ khảng
định rằng: Thế giới khách quan không chỉ tồn tại độc lập với ý thức con
người mà còn luôn luôn vận động, biến đổi, phát triển, liên hệ và chuyên
hóa lẫn nhau. Nắn vững quan điểm đó có quan hệ trực tiếp đến việc xem
xét bản chất cua khái niêm và phạm trù.Các nhà siêu hình tuy thừa nhận
khái niệm, phạm trù là phản ánh hiện thực khách quan nhưng lại coi chúng
là không vận động, không chuyển hóa.
7
Chủ ngĩa duy vật biện chứng cho rằng: Mọi hiện tượng tự nhiên và xã
hội đều vận động và phát triển cho nên phạm trù phản ánh những hiện
tượng đó cũng vận động và phát triển. Nếu không chúng không thể phản
ánh đúng hiện tượng khách quan. Các lý thuyết duy tâm về phạm trù ví dụ:
Theo Canto, phạm trù là hình thức tư duy tiên nghiệm, có trước mọi kinh
nghiệm và không phụ thuộc vào kinh nghiệm. Heghen xét phạm trù trong
sự phát trong sự phát triển biện chứng nhưng đối với ông phạm trù là
những giai đoạn phát triển của bản thân “ý niệm tuyêt đối” có tính chất
thuần bí. Chủ nghĩa duy vật lại khẳng định rằng; phạm trù là sự phản ánh ý
thức những mặt, nhưng mối liên hệ phổ biến nhất, căn bản nhất của hiện
tượng khách quan và hoạt động của con người. Phạm trù hình thành trong
quá trình phát triển của nhận thức vũ trụ trên cơ sở thực tiễn. Nhận thức
của con người ngày càng phát triển thì các khái niệm và phạm trù càng
nhiều hơn; nội dung và quan hệ của chúng càng toàn diện và sâu sắc hơn.
Triết học Mác-Lênin bao gồm một hệ thống các phạm trù như: vật
của nội dung là nhường chồ cho chủ nghĩa duy vật vì từ đó có thể dẫn tới
sự tồn tại của vật chất. Đó là những quan điểm sai trái. Chủ nghĩa duy vật
biện chứng khẳng định: bất cứ sự vật, hiện tượng nào và quá trình nào của
hiện thực cũng đều có nội dung và hình thức của nó. Nội dung và hình thức
bao giờ cũng là một thể thống nhất. Phù hợp với một nội dung cụ thể nhất
định bao giờ cũng có một hình thức cụ thể tương ứng. Không có nội dung
chung chung mà chỉ có nội dung cụ thể của sự vật nào đó, của hiện tượng
hay quá trình nào đó. Không có hình thức chung chung mà chỉ có hình thức
cụ thẻ của một nội dung cụ thể nào đó. Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhấn
mạnh sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, nhưng đồng thời không đặt
ngang bằng giữa hai cái. Sự tác động lẫn nhau giữa nội dung và hình thức
biểu hiện thành quy luật: Nội dung quyết định hình thức, sự biến đổi của sự
9
vật, hiện tượng hay quá trình bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi, sự phát
triển của nội dung. Nội dung biến đổi thì hình thức cũng biến đổi theo.
Vai trò quyết định của nội dung so với hình thức không có nghĩa là
hình thức chỉ thụ động “ngoan ngoãn” đi theo nội dung mà nó có tác động
tích cực đến nội dung. Ảnh hưởng đó thường diễn ra theo hai hướng: hoặc
hình thức thúc đẩy nội dung phát triển, hoặc kìm hãm sự phát triển của nội
dung. Khi hình thứ phù hợp với nội dung, nó sẽ thành động lực tích cực
thúc đẩy nội dung phát triển, ngược lại nếu không phù hợp nó sẽ cản trở sự
phát triển đó. Ví dụ sự chuyển biến từ một chế độ kinh tế này sang một chế
độ kinh tế khác là kết quả của việc giải quyết những mâu thuẫn giữa sự
phát triển của lực lượng sản xuất( nội dung) và sự lạc hậu của quan hệ sản
xuất( hình thức). Hình thức mới của quan hệ sản xuất mới ra đời sẽ trở
thành động lực cơ bản túc đẩy sự phát triển nội dung của nó là nội dung của
nó là lực lượng sản xuất. Trong quá trình cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây
dung, còn kiến trúc thượng tầng là hình thức phản ánh cơ sở hạ tầng đó.
*Ý nghĩa phương pháp luận.
Từ sự tác động lẫn nhau có tính quy luật của nội dung và hình thức,
chúng ta có thể rút ra kết luận sau:
Hình thức do nội dung quyết định nên thay đổi hình thức của một sự vật
hiện tượng, quá trình nào đó phải dựa vào những thay đổi của nội dung. Thí
dụ: Ở nước ta, trong điều kiện đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ
nghĩa, việc củng cố và phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật
chất và kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội (là nội dung cơ bản) quy định của việc
cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới XHCN (là
hình thức). Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội
Đảng lần thứ IV đã nhấn mạnh: “Phải luôn luôn thấu suốt đặc điểm của quá
trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN là quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất là luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển,
11
mỗi bước cải tạo quan hệ sản xuất đều thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của
lực lượng sản xuất mới; ngược lại mỗi bước tạo ra lực lượng sản xuất mới
đều có tác dụng củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới” [ 3; tr 59-60]
Hình thức tích cực tác động đến sự phát triển của nội dung khi có sự
phù hợp với nội dung, do đó, muốn thúc đẩy một sự vật hiện tượng, quá
trình nào đó phát triển nhanh chóng cần phải chú ý theo dõi mối quan hệ
giữa nội dung đang phát triển với hình thức tương đối chậm phát triển. Khi
giữa chúng xuất hiện sự không phù hợp thì con người phải can thiệp vào
tiến trình phát triển khách quan của các sự kiện, đem lại những thay đổi cần
thiết về hình thức làm cho nó phù hợp với nội dung đã phát triển, đảm bảo
cho nội dung phát triển hơn nữa
Không hiểu đầy đủ phép biện chứng của nội dung và hình thức dễ dẫn
Ngày nay, cả nước ta đang xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCH,
cuộc sống đang biến đổi từng ngày, từng giờ, cái mới đang không ngừng
nảy nở và đòi hỏi được phát triển lớn mạnh. Vì vậy cần nắm vững phép
biện chứng giữa hình thức và nội dung, chăm chú theo dõi sát tình hình
thực tế. Một khi có triệu chứng khách quan báo hiệu là một trong những
lĩnh vực nào đó thúc đẩy nội dung phát triển hơn nữa thì phải kịp thời cải
tiến nó, kiên quyết chống tư tưởng bảo thủ, vứt bỏ những hình thức đã lỗi
thời, ra sức phát hiện và ủng hộ những hình thức mới do cuộc sống đề ra
nhằm thúc đẩy nội dung mới phát triển. Song, cần tránh bệnh chủ quan, tùy
tiện trong công việc thay đổi hình thức một cách không có căn cứ, tách rời
nội dung.
Vừa qua trong nông nghiệp chúng ta đã tìm ra hình thức khoán sản
phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động - đó là một hình thức quản lí
phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất còn lạc hậu hiện nay. Đại hội
lần thứ V của Đảng đã khẳng định:
13
“Phong trào thi đua sôi nổi đều khắp và có hiệu quả trong các hợp tác xã
và tập đoàn sản xuất nông nghiệp, do áp dụng đúng đắn hình thức khoán
sản phẩm cho người lao động, là một bài học có giá trị và bổ ích” [4;tr 29].
Vận dụng phép biện chứng giữa nội dung và hình thức có ý nghĩa thực tiễn
rất quan trọng để cải tiến quản lí kinh tế và quản lí xã hội ở nước ta hiện
nay. Trong phạm vi khóa luận, người viết đặc biệt chú trọng nghiên cứu sự
vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức vào việc xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay. Vậy thế nào là
nhà nước pháp quyền, sự ra đời và phát triển, bản chất của nhà nước pháp
quyền ra sao và quan điểm của Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề
này như thế nào? Người viết xin được trình bày ngay phần sau đây.
xem trong hai cuốn sách “Chính trị” và “Chính thể Aten”. Aristot đã tổng
kết và phát triển một cách tài tình các kết luận của các bậc tiền bối về
nguồn gốc, bản chất, hình thức và vai trò của nhà nước pháp quyền. Ông
chỉ rõ: pháp luật chỉ chú trọng tới mức độ thiệt hại còn đối với tất cả mọi
người đều công bằng. Lịch sử pháp quyền Hy Lạp chỉ rõ Aristot thấy bức
tranh về những thay đổi không ngừng trong chế độ pháp quyền nhà nước.
Việc tìm kiếm phương án thực hiện một chế độ chính trị hoàn thiện nhất
được Aristot trình bày một cách chi tiết trong việc phân loại các nhà nước
theo hình thức của chúng. Các tiêu chí phân biệt của ông là: số lượng người
cầm quyền trong nước, mục đích của nhà nước.
Xirêrôn(106-43TCN) đã đưa ra nhiều tư tưởng tiến bộ về nhà nước pháp
quyền như: người điều hành các công việc nhà nước cần phải sáng suốt,
công minh và có khả năng hùng biện, hiểu biết những nguyên lí cơ bản của
pháp luật mà nếu như thiếu các kiến thức đó thì không ai có thể công minh
được. Các đạo luật do con người quy định phải phù hợp với tính công minh
và quyền tự nhiên vì sự phù hợp hay không phù hợp ấy là tiêu chuẩn để
15
đánh giá tính công minh hay không của chúng. Đặc biệt, Xirêrôn đã đưa ra
nguyên tắc: tất cả mọi người đều ở dưới hiệu lực của pháp luật.
Tất cả các tư tưởng đều cao pháp luật trong mối quan hệ với quyền lực
nhà nước ra đời lúc bấy giờ đều có nguồn gốc sâu xa từ mơ ước của con
người về sự chiến thắng đối với bạo lực, của chính nghĩa đối với gian tà,
của cái thiện đối với cái ác và từ một thực tế trong đời sống nhà nước và xã
hội là vua có toàn quyền, vua là con trời, thể theo lòng trời mà làm. Vua
không chịu trách nhiệm pháp lí với một ai cả.
Sau thắng lợi của cách mạng tư sản thì các tư tưởng về nhà nước pháp
quyền mới được tiếp thu và dần dần hình thành một cách rõ ràng, thành hệ
xut hin ca nh nc v phỏp lut l cú tớnh lch s. Mong mun khỏm
phỏ nhng quy lut phỏt trin ca nh nc v phỏp lut l cụng lao ln
nht ca Mụngtexki. ễng xỏc nh bn cht ca chớnh quyn l tựy thuc
vo s lng ngi cm quyn. Cú 3 hỡnh thc nh nc: cng hũa, quõn
ch v chuyờn ch. Nh t tng hon ton bỏc b hỡnh thc th 3. Theo
Mụngtexki, nn quõn ch l nh nc m trong ú t do chớnh tr c
thc hin, bn cht ca t do chớnh tr khụng phi l lm iu mong
mun m l lm iu phỏp lut cho phộp [5;tr 271].
Nhng t tng chớnh tr ca Mụngtexki ng mõu thun v cú
khuynh hng tha hip. Nhng vi s vch trn ch phong kin v
tuyờn b nguyờn tc t do chớnh tr, học thuyết chính trị mang tinh thần t
sản do ông xây dựng đã đa ông vào hàng ngũ những nhà t tởng vĩ đại nhất
thời đó.
Cantơ( 1724-1804), dựa trên hệ thống triết học của mình Cantơ cho
rằng: lý trí thực tế hay ý chí tự do của mỗi con ngời đó chính là nguồn gốc
của các đạo luật có tính pháp quyền và hợp đạo đức. Pháp luật là để đảm
bảo các quan hệ văn minh giữa con ngời. Nhà nớc là sự kết hợp của những
ngời biết phục tùng các đạo luật có tính pháp quyền, nhằm bảo vệ trật tự
17
pháp luật đợc xây dựng trên nguyên tắc toàn bộ hoạt động của mình phải
dựa trên pháp luật, nếu không nó sẽ bị mất tín nhiệm của các công dânnhững ngời cấu thành nó.
Dựa vào những quy định pháp luật, có hay không việc phân công quyền
lực nhà nớc (lập pháp, hành pháp và t pháp) mà ông chia ra nhà nớc pháp
quyền hay nhà nớc độc tài. Bởi vì theo ông chỉ có sự phân công và phối hợp
giữa ba quyền đó mới có khả năng ngăn ngừa đợc chuyên chế độc tài. Chủ
quyền của nhân dân chỉ có thể đợc thực hiện trên thực tế thông qua sự phân
công quyền lực nhà nớc. Có nh vậy tất cả công dân mới bình đẳng theo
Jem Medison (1752-1836), Tomat Giephecxon (1743-1826): dựa vào học
thuyết nguồn gốc khế ớc của nhà nớc, Giephecxon cho rằng: Quyên lực nhà
vua xuất phát từ quyền lực của nhân dân. Nếu nh chính quyền chà đạp các
quyền của nhân dân có quyền thay đổi chính phủ này bằng chính phủ khác
đáp ứng lợi ích của nhân dân. Nh vậy, Giephecxon khẳng định: Quyền nhân
dân nổi dậy chống lại bạo chúa, t tởng chủ quyền nhân dân, đó là điều có ý
nghĩa tiến bộ to lớn. Chính những t tởng này đã đợc phát triển trong tuyên
ngôn độc lập của Mỹ mà Mác gọi là: Tuyên ngôn quyền đầu tiên của con
ngời [5;tr 16-17]. Y nghĩa lịch sử của tuyên ngôn độc lập của Mỹ là ở chỗ
đó là văn bản Nhà nớc đầu tiên trong lịch sử tuyên bố t tởng chủ quyền
nhân dân là cơ sở đời sống của nhà nớc. Nhiệm vụ đầu tiên của nhà nớc
theo ông là phải đảm bảo tự do hạnh phúc cho con ngời.
Các quan điểm chính trị của Giephecxon là tiến bộ, phát triển các truyền
thống dân chủ trong các học thuyết chính trị của các nhà t tởng Mỹ.
Kế thừa những thành tựu mà những nhà t tởng trớc đây đã đạt đợc, các
nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định: Nhà nớc là sản phẩm
của xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định, Nhà nớc là một sự thừa
nhận rằng xã hội đó bị giam hãm trong vòng mẫu thuẫn với chính bản thân
nó mà không sao giải quyết đợc, rằng nó bị phân chia thành những cực đối
19
lập không thể điều hòa mà xã hội đó bất lực không sao thoát ra khỏi [6;tr
9].
Tác phẩm Nhà nớc và cách mạng đã soi sáng một cách toàn diện vấn
đề dân chủ vô sản nh là nền dân chủ cao nhất, đã vạch ra sự khác biệt về
chất giữa dân chủ vô sản và dân chủ t sản, đã chỉ ra tính hình thức của nền
dân chủ t sản. Từ đó khẳng định: Hoàn thiện Nhà nớc và phát triển nền
dân chủ xã hội xã hội chủ nghĩa trên con đờng tiến tới chủ nghĩa cộng sản
Ba là, nhà nớc pháp quyền là nhà nớc mà trong đó con ngời là giá trị cao
quý và là mục tiêu cao nhất. Do đó, nhà nớc bảo đảm cho công dân sự an
toàn pháp lí, đợc hởng các quyền và tự do cơ bản và bảo hộ cho họ khi các
quyền tự do cơ bản đó bị đợc vi phạm.
*Bản chất của nhà nớc pháp quyền.
Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về nhà nớc pháp quyền, nhng ngoài
những ý kiến đó, các tác giả tơng đối thống nhất với nhau về những dấu
hiệu đặc trng của nhà nớc pháp quyền.
Thứ nhất, Nhà nớc pháp quyền không phải là một kiểu Nhà nớc mà là
một mô hình nhà nớc giúp cho việc thực hiện mục tiêu mang bản chất của
chế độ chính trị, nó thể hiện một trình độ phát triển dân chủ.
Thứ hai, trong nhà nớc pháp quyền pháp luật giữ vị trí tối cao, bản thân
pháp luật thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân đồng thời phù hợp với
hiện thực khách quan mọi ngời đều bình đẳng trớc pháp luật có nghĩa vụ
tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật .
Thứ ba, quyền lực nhà nớc đợc tổ chức theo nguyên tắc rành mạch giữa
ba quyền lập pháp, hành pháp, t pháp với mục đích là kiểm soát quyền lực
nhằm hạn chế sự lộng quyền, làm quyền làm xâm hại đến lợi ích hợp pháp
của công dân từ phía cơ quan nhà nớc.
Thứ t, trong nhà nớc pháp quyền con ngời đợc coi là giá trị và mục tiêu
cao nhất. Các quyền con ngời đợc thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp luật
nhà nớc bảo đảm cho công dân những quyền cơ bản và bảo hộ cho họ
những quyền đó khi họ bị xâm phạm.
21
Thứ năm, Nhà nớc pháp quyền đối lập với các chính thể chính trị cực
quyền, độc quyền, thần quyền, quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân. Nhân
dân chính là ngời bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nớc một cách trực tiếp
bị bóc lột, đối với ngời nghèo [5;tr 305]
Kẻ nắm thực quyền trong nhà nớc t sản hiện đại là các tập đoàn t sản
lớn. Chúng có thể phát huy quyền vô hạn của t sản bằng cách mua chuộc
các viên chức nàh nớc, bằng sự liên minh giữa Chính phủ và sở giao dịch.
Chính vì vậy, Lê nin đã chỉ rõ: Quyền lực vô hạn của sự giàu có.
Trong trờng hợp nhất định, khi lợi ích t sản đòi hỏi giai cấp t sản sẵn
sàng thu hẹp quyền tự do dân chủ, thậm chí sẵn sàng từ bỏ hình thức chính
trị tốt nhất của chủ nghĩa t bản, tớc bỏ dân chủ, để lộ nguyên hình một nền
chuyên chính dân chủ công khai dới hình thức độc tài phát xít - một hình
thức biểu hiện của nền chuyên chính t sản.
Tuy nhiên, chúng ta không phủ định những thành tựu mà nhà nớc t sản
đạt đợc, đó là: sự ra đời của nhà nớc t sản đánh dấu sự tiến bộ to lớn trong
lịch sử phát triển của nhân loại. Trong giai đoạn đầu, nhà nớc t sản đã có vai
trò tích cực trong việc giải phóng xã hội khỏi trật tự phong kiến, giải phóng
lực lợng sản xuất xã hội, đa đến bớc phát triển nhảy vọt của xã hội loài ngời.
Mặt khác, nền dân chủ vô sản với t cách là một nền dân chủ cao về chất
so với dân chủ t sản, cũng chỉ ra đời khi biết kế thừa phát triển toàn bộ
những giá trị dân chủ mà loài ngời đã sáng tạo ra, đặc biệt là những giá trị
đạt đợc trong chủ nghĩa t bản.
Việc phân tích khách quan về những thành tựu và hạn chế của nhà nớc t
sản trên đây cho thấy rằng trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngời từ
khi có giai cấp là lịch sử không ngừng vơn lên để đạt tới nền dân chủ ngày
càng cao. Chỉ có thể đạt đợc một Nhà nớc thực sự dân chủ của nhân dân khi
xóa bỏ nhà nớc t sản để xác lập nhà nớc xã hội chủ nghĩa.
23
Tất cả các nhà nớc XHCN đều là nhà nớc cộng hòa dân chủ đợc đặc trng
bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc thành lập các cơ
thuyết cơ bản trong việc thực hiện quyền lực nhà nớc, cac cơ quan lập pháp,
hành pháp, t pháp hoàn toàn độc lập với nhau trong việc thực hiện ba quyền
đó.
Nhà nớc pháp quyền XHCN và nhà nớc pháp quyền t sản củng có nhiều
điểm khác nhau. Bên cạnh sự khác nhau về tính giai cấp, nhà nớc pháp
quyền XHCN chỉ công nhận các quy pham pháp luật khi nó đợc xác lập và
thông qua một trình tự nhất định. Trong khi đó, nhà nớc pháp quyền t sản
thờng coi thờng án lệ hoặc tập quán nh một loại quy phạm pháp luật
bất thành văn.
Sự khác biệt đó thể hiện bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân
của nhà nớc chúng hòa quyện vào nhau đợc quán triệt, thể chế hóa và thực
hiện trên mọi lĩnh vực tổ chức, hoạt động của nhà nớc và chỉ có nhà nớc
mang bản chất của giai cấp công nhân hoạt động theo quan điểm đờng lối
tiên phong của giải cấp cấp công nhân mới đại biểu cho lợi ích chung củ
nhân dân lao động, của toàn dân tộc. Vì vậy, việc kiếm tìm, xây dựng các
thiết chế, cơ chế nhà nớc nh thế nào cho phù hợp với đặc điểm truyền thống
dân tộc cũng nh điều kiện phát triển kinh tế- xã hội để đảm bảo tất cả quyền
lực nhà nớc thuộc về nhân dân luôn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với
mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam.
1.2.2. T tởng Hồ Chí Minh và sự nhận thức của Đảng ta về nhà nớc
pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
*T tởng xây dựng nhà nớc pháp quyền của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta, dân tộc ta một kho tàng
vô giá, đó là di sản t tởng của Ngời. Những t tởng khoa học và cách mạng
25