CHƯƠNG 4
QUẢN TRỊ CHI PHÍ, KẾT QUẢ VÀ CÁC CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP
I. QUẢN TRỊ CHI PHÍ, KẾT QUẢ
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.Doanh thu và hoạt động doanh thu
1.1.1.1. Doanh thu
a. Khái niệm doanh thu
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong
kỳ kế toán phát sinh từ các hoạt động SXKD thông thường của doanh nghiệp, góp
phần làm tăng vốn chủ sở hữu (Chuẩn mực “ Doanh thu và Thu nhập” – Chuẩn
mực kế toán Việt Nam).
Doanh thu được phát sinh từ giao dịch, sự kiện được xác định bởi thoả thuận
giữa doanh nghiệp và bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng
giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi (-) các
khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
b. Phân loại doanh thu
Hoạt động của doanh nghiệp được chia thành hoạt động SXKD thông thường
và hoạt động khác. Thuộc hoạt động SXKD thông thường bao gồm hoạt động sản
xuất-tiêu thụ sản phẩm; mua-bán vật tư hàng hoá; thực hiện-cung cấp lao vu dịch
vụ và hoạt động đầu tư tài chính. Còn hoạt động khác là những hoạt động thuộc các
nghiệp vụ được quan niệm là phát sinh một cách không thường xuyên phổ biến của
doanh nghiệp như thanh lý, nhượng bán TSCĐ, vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp
luật, các khoản nợ khó đòi, ghi nhầm, bỏ sót, gian lận trốn lậu thuế...
Tương ứng với các hoạt động nêu trên của doanh nghiệp là các loại doanh
thu và thu nhập, bao gồm:
104
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Đây là hoạt động mua, bán hàng hoá (không trải qua quá trình chế biến sản
phẩm). Bộ phận này được hạch toán độc lập với hoạt động sản xuất công nghiệp
+ Hoạt động sửa chữa, bảo hành sản phẩm.
Đây là hoạt động có thu, có chi, hạch toán độc lập.
Cả ba hoạt động trên đều là hoạt động doanh thu vì đều đem lại doanh thu
cho doanh nghiệp. Mỗi hoạt động đều có hoá đơn thu riêng và số thu được đưa vào
quỹ chung của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần lưu ý:
Hoạt động nào không đem lại doanh thu trực tiếp cho doanh nghiệp thì
không thuộc về khái niệm hoạt động doanh thu ở đây.
Doanh nghiệp cần xác định tỷ trọng và vị trí từng loại hoạt động.
Phân tích xem khả năng hoạt động nào đem lại doanh thu lớn nhất, nhỏ nhất;
hoạt động nào lãi, hoạt động nào lỗ.
Thông thường hoạt động phải hạch toán riêng biệt, độc lập với nhau, tức là
phải phân bổ chi phí, xác định doanh thu không trùng lặp.
1.1.2. Thương vụ
Thương vụ là một lĩnh vực hoạt động có phát sinh chi phí trong quá trình tiến
hành và mang lại doanh thu cho doanh nghiệp. Trong từng hoạt động có một hay
nhiều thương vụ khác nhau
Thương vụ được chia làm ba loại:
- Thương vụ trong sổ (là thương vụ mới ký kết), đặc điểm của thương vụ này
là chưa có thu nhập, cũng chưa phải phân bổ bất kỳ chi phí nào cho nó. Nếu xoá
thương vụ này cũng không gây hậu quả xấu cho doanh nghiệp.
- Thương vụ đang thực hiện: là thương vụ bắt đầu phải phân bổ chi phí cho
nó. Ví dụ: sản phẩm đang trong quá trình sản xuất, công trình xây dựng cơ bản
106
đang tiến hàng thi công ...Nếu thương vụ này không hoàn thành sẽ gây hậu quả
xưởng.
• Tiền thuê đất, thuê nhà
• Điện nước, dịch vụ chung
• Chi phí quảng cáo, bưu điện, thông tin, tiếp khách...
• Chi phí thuê chuyên gia, cố vấn
• Tiền đào tạo tay nghề cho người lao động...
• Các chi phí quản lý khác
• Tiền khấu hao TSCĐ:
Khấu hao là số tiền phải trích hàng năm nhằm mục đích bù đắp nguyên giá
TSCĐ. Mức khấu hao không liên quan trực tiếp đến sản xuất từng sản phẩm. Vì
vậy, muốn tính chi phí khấu hao cho từng sản phẩm phải dùng phương pháp phân
bổ thông qua các chìa khoá phân bổ khác nhau.
1.1.4. Lợi nhuận
Lợi nhuận thực hiện trong năm của doanh nghiệp là tổng của lợi nhuận từ
hoạt động kinh doanh và lợi nhuận hoạt động khác.
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh bao gồm:
- Chênh lệch giữa doanh thu từ việc bán sản phẩm hàng hoá, cung cấp dịch
vụ với tổng giá thành toàn bộ sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ hoặc chi phí dịch vụ tiêu
thụ trong kỳ.
- Chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính với chi phí hoạt động tài
chính phát sinh trong kỳ
- Lợi nhuận hoạt động khác: là chênh lệch giữa thu nhập từ hoạt động khác
với chi phí từ hoạt động khác phát sinh trong kỳ.
1.2. Quản trị chi phí, kết quả theo phương thức sử dụng các chìa khoá
phân bổ truyền thống
108
Chi phí trực tiếp được tính trực tiếp vào giá thành sản phẩm: chi phí NVL
1.2.2. Phân bổ chi phí chung theo chi phí trực tiếp (K2)
- Ý nghĩa: phương pháp này cho thấy cứ một đồng chi phí trực tiếp chịu bao
nhiêu đồng chi phí chung
- Công thức :
CPC
K2i =
x CPi
CPTT
Trong đó :
+ K2i : Chi phí chung phân bổ cho 1 sản phẩm i theo chi phí trực tiếp
+ CPTT : Tổng chi phí trực tiếp để sản xuất và tiêu thụ các loại sản phẩm
trong kỳ.
+ CPi: Chi phí trực tiếp để sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm i
Trong đó:
n
CPTT =
[CPi
i 1
x Qi]
Qi: Số lượng sản phẩm loại i sản xuất và tiêu thụ trong kỳ.
1.2.3. Phân bổ chi phí chung theo giờ công sản xuất (K3)
Sản phẩm A
Sản phẩm B
Sản phẩm C
7.500
14.000
25.000
1
Chi phí vật chất trực tiếp (đ )
2
Giờ công sản xuất 1 SP ( giờ )
2,5
4
6
3
Giá trị 1 giờ công SX ( đ/giờ )
- Yêu cầu: Tính chi phí chung phân bổ cho một sản phẩm từng loại dựa trên 3
loại chìa khoá phân bổ đã học và tính giá thành, lợi nhuận của một sản phẩm từng
loại, tính tổng lợi nhuận của các loại sản phẩm trong doanh nghiệp, sau đó lập bảng
tính giá thành, lợi nhuận theo từng cách phân bổ chi phí chung
Bài giải
1. Phân bổ chi phí chung theo doanh thu ( K1 ) của một sản phẩm
từng loại:
- Tổng doanh thu của các loại sản phẩm
111
TR = ( 5000 x 60.000 ) + ( 6000 x 90.000 ) + ( 3500 x 146.000 )
= 1.351.000.000đ
- Phân bổ chi phí chung theo doanh thu của 1 sản phẩm từng loại
240.000.000
K1 ( A ) =
x 60.000 = 10.658,77đ
1.351.000.000
240.000.000
K1 ( B ) =
x 90.000 = 15.988,16đ
1.351.000.000
240.000.000
K1 ( C ) =
A
40.000
Chi phí
chung
phân
bổ(đ)1SP
10.658,77
chi phí
1SP
( Z SP - đ )
Giá bán
1 SP ( đ )
Lợi nhuận
1 SP ( đ )
50.658,77
60.000
9.341,22
B
66.000
+ K2 (B) =
x 66.000 = 16.560,38đ
956.500.000
240.000.000
+ K2 (C) =
x 103.000 = 25.844,22đ
956.500.000
- Tính giá thành một sản phẩm từng loại
+ 1 sản phẩm A = 40.000 + 10.036,59 = 50.036,59đ
+ 1 sản phẩm B = 66.000 + 16.560,38 = 82.560,38đ
+ 1 sản phẩm C = 103.000 + 25.844,22 = 128.844,22đ
113
- Tính lợi nhuận cho 1 sản phẩm từng loại
+ 1 sản phẩm A = 60.000 – 50.036,59 = 9.963,41đ
+ 1 sản phẩm B = 90.000 – 82.560,38 = 7.439,62đ
+ 1 sản phẩm C = 146.000 – 128.936,34 = 17.063,66đ
- Tính tổng lợi nhuận của các loại sản phẩm
( 5000 x 9.963,41 ) + ( 6000x 7.439,62 ) + ( 3500x 17.063,66 ) =
154.177.580đ
- Lập bảng giá thành, lợi nhuận cho 1 sản phẩm từng loại
A
146.000
17.063,66
SP
Chi phí trực Chi phí chung
tiếp 1 SP (đ) phân bổ 1SP(đ)
Giá bán
1 SP ( đ )
Lợi nhuận
1 SP ( đ )
60.000
9.936,41
3. Phân bổ chi phí chung theo giờ công sản xuất (K3) của một sản phẩm
từng loại:
- Phân bổ chi phí chung :
T = ( 5000 x 2,5 ) + ( 6000 x 4 ) + ( 3500 x 6 ) = 57.500 giờ
240.000.000
+ K3 (A) =
x 2,5 = 10.434,78đ
57.500
240.000.000
tiếp 1 SP (đ)
A
40.000
Chi phí
chung
phân
bổ1SP(đ)
10.434,78
Tổng CF 1
SP
(đ)
Giá bán
1 SP ( đ )
Lợi nhuận
1 SP ( đ )
50.434,78
60.000
9.565,22
B
lợi nhuận mới phù hợp với cơ chế thị trường hiện nay, để đảm bảo cho giám đốc
nắm bắt chính xác lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp là bao nhiêu.
115
Nguyên tắc của phương pháp này là gạt chi phí chung sang một bên. Như
vậy, ba chìa khoá phân bổ trên (K1, K2, K3) sẽ không sử dụng nữa mà dùng một
chìa khoá mở, đó là phương pháp tính mức lãi thô.
1.3. Quản trị chi phí kết quả theo phương thức mới (phương pháp tính
mức lãi thô)
1.3.1. Khái niệm mức lãi thô
Mức lãi thô là phần chênh lệch giữa giá bán sản phẩm và chi phí sản xuất
trực tiếp của sản phẩm đó.
1.3.2. Các loại mức lãi thô: Mức lãi thô được chia thành 6 loại cơ bản sau :
a. Mức lãi thô đơn vị:
- Là phần chênh lệch giữa thu nhập đơn vị sản phẩm và chi phí trực tiếp đơn
vị sản phẩm
- Công thức tính:
Mức lãi thô
Thu nhập
=
Chi phí trực tiếp
-
đơn vị
đơn vị
-
thương vụ
thương vụ
d. Mức lãi thô tổng quát
116
Mức lãi thô
=
Tổng mức lãi thô của các hoạt động
tổng quát
Hoặc Mức lãi thô tổng quát = Tổng mức lãi thô của các thương vụ.
Hoặc Mức lãi thô tổng quát = (Mức lãi thô đơn vị X số lượng sản phẩm
từng loại).
* Nhận xét: Qua ví dụ ở phần trên ta thấy ở cùng 1 sản phẩm thì lãi (lợi
nhuận) có khác nhau (ví dụ: 1 sản phẩm A thì mức lãi ở 3 cách phân bổ đó là :
9.341,22đ; 9.963,41đ; 9.565,22đ. Nhưng nếu lãi thô ở 1 sản phẩm thì chỉ có 1 mức
mà thôi.
Ví dụ: Mức lãi thô : 1 sản phẩm A : 60.000 - 40.000 = 20.000đ.
Như vậy:
- Mức lãi thô đơn vị là cơ sở để tính mức lãi thô khác: mức lãi thô đơn hàng,
mức lãi thô thương vụ và mức lãi thô tổng quát.
- Mức lãi thô là chìa khoá mới để xác định lợi nhuận chính xác
- Mỗi sản phẩm đều có mức lãi thô riêng của nó
Mức lãi thực =
Tổng
doanh thu
-
Tổng chi phí
trực tiếp
-
Tổng chi phí
chung
- Nếu gọi MLT1 là mức lãi thô của hoạt động(1)
- Nếu gọi MLT2 là mức lãi thô của hoạt động(2)
- Nếu gọi MLT3 là mức lãi thô của hoạt động(3)...
Ta có thể biểu diễn mức lãi thô ở điểm hoà vốn và mức lãi thực bằng sơ đồ sau:
MLT5
Lợi nhuận
MLT4
Mức lãi thô hoà vốn
MLT3
Chi phí SXC
MLT2
giờ công SX
Giờ công để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm
* Ví dụ tổng hợp: tính mức lãi thô thương vụ, mức lãi thô 1 đơn vị, mức lãi
thô 1 giờ của 1 thương vụ ở 1 doanh nghiệp có số lượng sản phẩm sản xuất là
20.000 sản phẩm, giá bán 110.000đ/1SP, chi phí NVL chính là: 45.000đ/1SP, VL
phụ: 4000đ/1SP. Giờ công: 3 giờ/1 SP. Giá trị giờ công 14.000đ/1giờ.
Bài giải
- Mức lãi thô đơn vị sản phẩm = Giá bán - CP trực tiếp. Ta có:
+ Chi phí trực tiếp 1 SP = 45.000 + 4.000 + (3 x 14.000) = 91.000đ/1 SP
+ Mức lãi thô đơn vị sản phẩm = 110.000- 91.000 =19.000đ/1 SP
19.000
- Mức lãi thô
=
=
6.333,33đ/giờ
1 giờ công sản xuất
3
- Mức lãi thô một
thương vụ
=
19.000
x
2.1.1. Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp
- Khái niệm tài chính doanh nghiệp:
Trong các sách viết về quản trị tài chính, người ta đưa ra rất nhiều khái niệm
khác nhau về tài chính doanh nghiệp. Các tác giả đã tìm kiếm khái niệm tài chính
doanh nghiệp trên các vấn đề có tính nguyên lý khác nhau của họ, chủ yếu thường
tập trung vào 5 vấn đề sau:
+ Cơ cấu nguồn vốn ( giữa vốn tự có và vốn vay)
+ Sự bảo đảm có tính hợp lý lợi ích cho những người bỏ vốn dưới các hình
thức khác nhau.
+ Khía cạnh thời hạn của các loại vốn.
+ Sự diễn giải các khái niệm về vốn như là tổng giá trị của các loại tài sản
dưới hai dạng: “vốn trừu tượng” và “vốn cụ thể”
120
+ Chỉ ra các trường hợp thay đổi của vốn trong các trường hợp tăng, giảm và
thay đổi cấu trúc của nó.
Trên cơ sở nguyên lý các vấn đề nêu trên, có thể hiểu tài chính doanh nghiệp
như sau;
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự
vận động và chuyển hoá các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc
sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp là việc nghiên cứu, phân tích
tình hình tài chính của doanh nghiệp, nhằm đưa ra các quyết định điều chỉnh các
mối quan hệ tài chính nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất.
ở đây, cần phân biệt hai khái niệm quản trị tài chính và quản trị đầu tư. Mặc
dù tài chính và đầu tư đều nghiên cứu các quan hệ kinh tế liên quan đến vốn sản
xuất, song vì tính chất, phạm vi và quá trình thực hiện chúng, người ta phân biệt:
+ Quản trị tài chính xem xét, quyết định quá trình tạo lập các nguồn vốn (bao
như một nội dung song hành.
Xuất phát từ mục tiêu và phạm vi nghiên cứu chương này đề cập đến một số
chính sách sau :
- Chính sách nguồn vốn
- Chính sách mắc nợ của doanh nghiệp
- Chính sách thay thế tín dụng
- Chính sách khấu hao TSCĐ
- Chính sách bán chịu
- Chính sách quản trị dự trữ
2.2. Một số chính sách tài chính quan trọng của doanh nghiệp
2.2.1. Chính sách nguồn vốn
a. Các loại nguồn tài chính của doanh nghiệp
122
Nền kinh tế thị trường phát triển song hành với một nền tài chính đa dạng,
phức tạp. Quá trình tích tụ và tập trung tư bản là một trong những nguyên nhân dẫn
đến sự hội nhập của tư bản tài chính và tư bản công nghiệp càng làm cho bức tranh
tổng thể tài chính phức tạp hơn. Một mặt tư bản tài chính tham gia vào lĩnh vực
công nghiệp bằng việc góp vốn rồi dẫn đến tự kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác.
Mặt khác, các tập đoàn công nghiệp lớn cũng tự mình tổ chức ra các công ty tài
chính để nhằm ổn định nguồn tài chính cho mình và tiến đến kinh doanh trên cả
lĩnh vực tài chính. Tuy nhiên, không vì thế mà không thể mô tả một cách mạch lạc
các nguồn tài chính cho một doanh nghiệp.
Nếu ở cơ chế kinh tế chỉ huy, nguồn tài chính được hình thành duy nhất từ quỹ tài
chính tập trung là ngân sách, thì ở cơ chế thị trường nguồn này ngày càng mất dần
ý nghĩa đối với các doanh nghiệp và chỉ đóng vai trò là “nguồn tài chính bao cấp”.
Tổng hợp các nguồn tài chính được mô tả theo sơ đồ sau :
Các loại nguồn tài chính của
doanh thu,
từ giá trị
khấu hao,
từ lợi
nhuận
Nguồn
TC
từ các
biện pháp
quản trị
tài chính
khả thi
123
Việc xem xét các nguồn tài chính cho phép thấy rõ hơn bức tranh tài chính
tổng thể mà doanh nghiệp có thể nghiên cứu để huy động các nguồn cần thiết phù
hợp cho quá trình kinh doanh.
b. Sự tập hợp các loại nguồn tài chính trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
- Các nguồn tài chính doanh nghiệp huy động được phản ánh vào bên phải
của bảng cân đối kế toán (nguồn vốn) và được tuân theo nguyên tắc sau:
Tài sản
Tài sản
ngắn hạn
Nguồn vốn
Vay ngắn hạn
Tóm lại, huy động các nguồn tài chính cho doanh nghiệp luôn là một trong
những quyết định căn bản của quản trị tài chính doanh nghiệp nói chung. Nó phảI
xuất phát từ những phân tích, tính toán xác đáng.
c. Chính sách huy động các nguồn tài chính cho doanh nghiệp
- Phân tích các nguồn vốn:
+ Trước hết xem xét lại tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm
cần huy động bằng việc tính toán lại các chỉ tiêu tài chính cơ bản. Đồng thời xác
định lại các chỉ tiêu theo các phương án huy động khác nhau. Trên cơ sở đó khẳng
định mục tiêu, phương án huy động cụ thể.
+ Phân tích, nghiên cứu các luận chứng kinh tế kỹ thuật với các khoản tài
chính cần huy động, tính toán đến các rủi ro có thể xảy ra: rủi ro về mệnh giá, tỷ
suất, tỷ giá...
+ Nghiên cứu tỷ mỷ các chủ nợ. Nếu đó là các ngân hàng, các tổ chức tài
chính thì tiềm lực, sức mạnh kinh doanh của họ là một đảm bảo cần thiết trong
trường hợp doanh nghiệp cần kéo dài các khoản nợ vì một lý do nào đó. Hơn nữa
cũng cần xem xét động cơ tham gia vào nguồn tài chính doanh nghiệp của họ. Đối
với các trái chủ và cổ chủ thì việc xem xét động cơ, tính trung thành, các động thái,
trình độ nhận thức của họ cũng rất có ý nghĩa trong việc làm ổn định và lành mạnh
các nguồn tài chính huy động.
+ Một quyết định huy động các nguồn tài chính luôn là vấn đề với doanh
nghiệp, do vậy trước hết cần tập trung nghiên cứu và khai thác triệt để các biện
pháp quản trị khả thi, để có thể hoặc coi đó như một “dự trữ an toàn”, hoặc đó
chính là phần nguồn vốn được tính toán khấu trừ trong tổng lượng tài chính cần
phải huy động từ các nguồn khác. Điều này càng có ý nghĩa to lớn trong các hoàn
cảnh hiểm nghèo về tài chính của doanh nghiệp.
- Lựa chọn các nguồn huy động vốn.
Việc lựa chọn các nguồn vốn có thể dựa vào các chính sách sau:
125
- Chính sách tài trợ mạo hiểm: Tức là dùng nguồn vốn vay ngắn hạn để tài
trợ cho tài sản lưu động thường xuyên, thậm chí cho cả tài sản cố định. Chính sách
này rất dễ đẩy doanh nghiệp vào tình trạng mất khả năng thanh toán, màtrước hết là
khả năng thanh toán nhanh. Nó có thể được áp dụng đối với doanh nghiệp được nhà
cung cấp cho chịu với kỳ hạn dài và số lượng lớn. Tuy nhiên cũng vì thế mà doanh
nghiệp khó có thể áp dụng chính sách bán chịu, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
doanh nói chung.
2.2.2. Chính sách mắc nợ của doanh nghiệp
Việc huy động các nguồn vốn dẫn đến thay đổi cơ cấu nguồn vốn và do đó
làm thay đổi hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, chính sách mắc nợ
được coi như chìa khoá đảm bảo cho doanh nghiệp tránh rủi ro phá sản, đồng thời
đạt được hiệu quả kinh doanh thoả đáng.
a.Hệ số mắc nợ và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Công thức xác định hệ số mắc nợ của doanh nghiệp:
Hệ số mắc nợ
Vốn vay
(Hệ số huy động vốn của DN ) =
Vốn chủ sở
hữu
Hệ số mắc nợ có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, cụ thể là hiệu quả vốn chủ sở hữu. Để biểu diễn mối quan hệ này ta cần đi
xác định một số chỉ tiêu sau:
+ Chỉ số doanh lợi vốn:
Lợi nhuận vốn kinh doanh
( chỉ số doanh lợi vốn)
vay vốn
bình quân
Như vậy, chỉ số doanh lợi vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào ba tham số, trong đó:
• Chỉ số doanh lợi vốn là kết quả nỗ lực kinh doanh của toàn doanh nghiệp.
• Hệ số huy động vốn là nhân tố nhạy cảm nhất phụ thuộc vào chính sách
huy động vốn của doanh nghiệp.
• Lãi suất vay vốn bình quân được quyết định bởi rất nhiều yếu tố của nền
kinh tế quốc dân, nói cách khác đây là yếu tố khách quan nằm ngoài sự kiểm
soát của doanh nghiệp. Thông thường lãi suất vay vốn do ngân hàng trung ương
quyết định.
b. Chính sách mắc nợ
Chính sách mắc nợ của doanh nghiệp thực chất là việc điều chỉnh hệ số mắc
nợ nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất cho vốn đầu tư của chủ sở hữu.
- Có hai chính sách mắc nợ cần được áp dụng:
+ Chính sách mắc nợ linh hoạt: Là việc điều chỉnh linh hoạt hệ số nợ trong
từng thời kỳ. Cụ thể nếu doanh lợi vốn đạt cao có thể tăng vốn vay để tăng lợi nhuận.
Ngược lại, nếu doanh lợi vốn đạt thấp thì giảm vốn vay, tăng vốn chủ sở hữu (phát
hành thêm cổ phiếu) sẽ là một sự điều chỉnh đem lại lợi ích hơn cho doanh nghiệp.
Điều kiện thực hiện.
• Doanh nghiệp phải hường xuyên theo dõi và phân tích hiệu quả hoạt động
kinh doanh
• Thị trường vốn, thị trường tài chính đã phát triển
• Doanh nghiệp có thể chủ động trong việc huy động hoặc dãn nợ khi cần thiết
128