Hình tượng người phụ nữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Hà Phương
Nguyễn Du là nhà thơ thiên tài của dân tộc ta, ông đã để lại cho đời những
áng thơ văn bất hủ và Truyện Kiều là kiệt tác thi ca cổ dân tộc sáng ngời tinh thần
nhân đạo. Đó là những Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình (Tố Hữu). Về phương
diện nghệ thuật, áng thơ này là mẫu mực tuyệt vời về ngôn ngữ, tả cảnh, tả người,
tự sự. Không chỉ có vậy, Nguyễn Du còn thành công khi xây dựng hình tượng
người phụ nữ. Họ là hiện thân đầy đủ nhất cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội
phong kiến.
Từ lâu, người phụ nữ đã trở thành một đề tài quen thuộc trong thơ văn Việt
Nam trung đại. Các thể loại văn học dường như đều xoay quanh việc phản ánh số
phận người phụ nữ. Có thể kể đến những tác phẩm nổi tiếng viết về người phụ nữ
như: “Truyền kì mạn lục” (Nguyễn Dữ), “Cung oán ngâm” (Nguyễn Gia Thiều),
“Chinh phụ ngâm” (Đặng Trần Côn, bản dịch Đoàn Thị Điểm),... Đến với “Truyện
Kiều”, một lần nữa Nguyễn Du đã khắc họa thành công hình tượng người phụ nữ
với hai nét lớn, họ là hiện thân của cái đẹp và những số phận bi thương.
Nếu hình tượng người phụ nữ trong văn học dân gian chủ yếu là người phụ
nữ “xấu người đẹp nết” thì trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, người phụ nữ là
hiện thân cho vẻ đẹp hài hoà giữa hình thức vẻ đẹp tâm hồn. Hai chị em Thúy Vân
– Thúy Kiều rõ ràng là khuôn mẫu của sắc đẹp mà Nguyễn Du đã dày công xây
dựng nên :
“Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”
Họ thanh cao như “mai”, trong trắng như “tuyết”, nhưng mỗi người lại có
một vẻ đẹp riêng không ai giống ai. Song cả hai đều là những trang giai nhân
“mười phân vẹn mười”.
Nếu Thuý Vân là một thiếu nữ đoan trang, phúc hậu, quý phái “trang trọng
khác vời”, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”, Hoa cười ngọc thốt đoan
trang; Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” thì Thúy Kiều là một thiếu nữ
Biết hi sinh, tấm lòng vị tha, tấm lòng thuỷ chung son sắt là những phẩm
chất nổi bật của nàng Kiều. Kiều ăn ở với mọi người trước sau như bát nước đầy.
Sau này, khi đã trở thành vợ của người anh hùng Từ Hải, Kiều vẫn nhớ tới ơn sâu
nghĩa nặng của những ân nhân thuở nào. Nàng đền ơn Thúc Sinh thật là trọng hậu :
“Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân
Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là”
Trong “Truyện Kiều” không chỉ có Thúy Vân – Thúy Kiều là những thiếu
tài sắc mà còn có Đạm Tiên. Mặc dù Đạm Tiên đã chết nhưng qua lời kể của
Vương Quan nàng quả thực là một bậc giai nhân:
“Vương Quan mời dẫn gần xa
Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi
Nổi danh tài sắc một thì
Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh”
Nhan sắc, tài năng, đức hạnh, nhưng dưới chế độ phong kiến, mọi thế lực xã
hội đã chà đạp lên thân phận người phụ nữ, biến họ trở thành những kiếp người bi
thương. Song có lẽ điển hình nhất cho nhân phẩm và tài sắc vị vùi dập vẫn là Thuý
Kiều. Tài sắc của nàng Kiều như Nguyễn Du đã nói“Sắc đành đòi một, tài đành
hoạ hai”. Vậy mà đời nàng là một chuỗi dài những bi kịch. Mới mười lăm tuổi,
Kiều đã phải bán mình chỉ vì một thằng bán tơ vu oan cho gia đình. Bán mình đã là
điều đau khổ, nhưng cái chính là tài sắc như Kiều mà phải đem thân làm vợ cho tên
ô trọc Mã Giám Sinh tuổi “ngoại tứ tuần”, nàng vô cùng đau đớn :
“Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng”
Mỗi bước chân trên thềm hoa là mỗi hàng lệ rơi. Từ đấy, nước mắt của nàng sẽ nhỏ
theo từng bước chân trong suốt mười lăm năm trời lưu lạc. Con người đáng giá
“nghìn vàng” như Kiều sau khi qua tay Mã Giám Sinh lại rơi vào lầu xanh bẩn thỉu
của Tú Bà. Kiều quằn quại khi phải sống cuộc đời nhơ nhớp của một gái lầu xanh :
“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa
Đọc “Truyên Kiều” có lẽ nhiều người sẽ cho rằng Vân là người sung sướng
nhất, nhưng thực ra Vân mới là người đau khổ nhất. Thúy Vân thay chị trả nghĩa
cho chàng Kim, nhưng bao nhiêu năm Kiều lưu lạc thì bấy nhiêu năm trái tim Kim
Trọng vẫn một lòng hướng về Kiều, vẫn yêu Kiều tha thiết. Chàng đã dứt áo ra đi
tìm Kiều để thoả nỗi nhớ mong. Chàng đâu biết rằng Thúy Vân đau đớn chờ đợi,
chua xót :
“Quả mai ba bảy đương vừa
Đào non sớm liệu se tơ kịp thì”
Thúy Vân se duyên mà thực chất là bộc bạch, buộc vào mà cởi ra chứ nàng đâu có
được hạnh phúc ?
Cùng với Thuý Kiều, Đạm Tiên cũng có một số phận bi thương. Nàng xinh
đẹp, tài hoa, nhưng cuộc đời nàng thật ngắn ngủi, trớ trêu:
“Phận hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”
Đến Hoạn Thư, thuộc dòng họ Hoạn danh gia (Con quan Lại bộ), ở ăn thì
nết cũng hay nhưng vẫn phải chịu một kiếp“Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”.
Tài hoa, nhan sắc, đức hạnh, bi thương là những nét vẽ chủ đạo tạo nên hình
tượng người phụ nữ trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Họ là hiện thân cho cái
đẹp và số phận bi thương dưới xã hội phong kiến. Đó không chỉ là sự thành công
lớn mà còn là tấm lòng nghĩ đến muôn đời của Đại thi hào Nguyễn Du. Tấm tình và
tài năng ấy đã góp phần làm phong phú trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học
trung đại Việt Nam, khơi gợi những cảm xúc sâu sắc trong lòng bạn đọc qua nhiều
thế hệ./.
Hình tượng tiếng đàn trong bài Đàn ghi ta của Lor-Ca (Thanh
Thảo)
Hoàng Đức Long
Thảnh Thảo là nhà thơ thuộc lớp các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến
chống Mĩ. Thơ Thanh Thảo là tiếng nói chân thực của một cái tôi công dân đầy
Thảo đã dành trọn sự trân trọng, ngưỡng mộ trước tài năng và phẩm chất sáng ngời
của Lor-Ca. Bao trùm và xuyên suốt thi phẩm là hình tượng Lor-Ca và tiếng đàn
của người nghệ sĩ. Nói cách khác nhìn vào hình tượng Lor-Ca ta thấy được nghệ
thuật, cuộc đời của Lor-Ca. Ngược lại rọi vào hình tượng tiếng đàn ta thấy được
cuộc đời và sự nghiệp của người nghệ sĩ.
Trước hết, hình tượng tiếng đàn được thể hiện ngay từ nhan đề của thi phẩm
“Đàn ghi ta của Lor-Ca". Hình tượng đàn ghi ta gợi về một đất nước Tây Ban Nha
xinh đẹp, hào phóng, rực lửa và mê đắm với những trận đấu bò tót nổi tiếng, những
vũ điệu phlamen cô cuồng nhiệt. Đàn ghi ta gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của
Lor-Ca và tình yêu của Lor-Ca với đất nước Tây Ban Nha. Đàn ghi ta còn gợi lên
tiếng lòng tri âm của Thanh Thảo dành cho người nghệ sĩ tài năng nhưng phải chịu
số phận nghiệt ngã. Hình tượng tiếng đàn còn được Thanh Thảo gợi lên qua lời đề
từ của thi phẩm "Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn". Lấy di chúc của Lor-Ca
làm lời đề từ cho tác phẩm Thanh Thảo đã gợi được tình yêu của Lor-Ca đối với xứ
sở Tây Ban Nha, hơn nữa qua lời đề từ của thi phẩm, tác giả còn nói lên nhân cách
sáng ngời của người nghệ sĩ. Là một người nghệ sĩ chân chính, Lor-Ca không muốn
những người đến sau ông sẽ bị nghệ thuật - những cách tân của Lor-Ca cản trở.
Cho nên Lor-Ca khuyên họ hãy biết vượt lên ông để đem đến cho đất nước Tây
Ban Nha những sáng tạo nghệ thuật mới. Lấy di chúc của Lor-Ca làm lời đề từ cho
thi phẩm Thanh Thảo còn nói lên tấm lòng trân trọng ngưỡng mộ nhân cách của
Lor-Ca và nếu nhìn lại kết cấu của bài thơ ta thấy hình tượng tiếng đàn trải dài từ
đầu cho đến khi kết thúc. Mở đầu và kết thúc bài thơ là âm thanh của tiếng đàn ghi
ta "li-la li-la li-la" tạo nên lối kết cấu vòng khiến cho người đọc cảm nhận được
hình tượng tiếng đàn không thôi, không dứt, da diết vô cùng.
Từ cách khơi gợi hình tượng tiếng đàn trong nhan đề, lời đề từ, hình thức kết
cấu của tác phẩm, Thanh Thảo đã khắc hoạ thành công hình tượng tiếng đàn. Tiếng
đàn vốn là một âm thanh nhưng trong thi phẩm tiếng đàn đã trở thành biểu tượng
của thị giác "những tiếng đàn bọt nước". Âm thanh tiếng đàn đã trở thành huyền
cuộc đời của Lor-Ca. Màu nâu không chỉ gợi sắc màu của đất đai mà còn gợi màu
sắc của vỏ cây đàn ghi ta đã gắn bó với Lor-Ca. Màu xanh, sắc xanh của tiếng ghi
ta gợi bầu trời cao rộng, gợi khát vọng tự do hoà bình, gợi tình yêu trong sáng tha
thiết của Lor-Ca với Maria - người yêu của Lor-Ca. Âm thanh của tiếng đàn nâu,
xanh được miêu tả trong mối quan hệ với hình ảnh cô gái khiến cho người đọc hình
dung được những cảm xúc sâu sắc mà tác giả gói vào đó. Nối kết tiếng ghi ta nâu,
tiếng ghi ta xanh với cô gái ấy cho ta thấy được tình yêu thuỷ chung của Maria - cô
chưa một lần bước lên xe hoa kể từ khi biết tin Lor-Ca đã hy sinh. Hai câu thơ in
đậm hình ảnh của Lor-Ca với nghệ thuật, tâm hồn và tình yêu của Lor-Ca đối với
đất nước Tây Ban Nha, đối với người con gái mà Lor-Ca hằng yêu quý. Từ sắc màu
nâu, xanh, tiếng ghi ta ngưng đọng lại thành hình khối “bọt nước vỡ tan”, thành
“ròng ròng máu chảy".
Sự cách tân nghệ thuật của Lor-Ca, vẻ đẹp nghệ thuật của Lor-Ca bỗng chốc vỡ
tan. Hai chữ "vỡ tan" gợi sắc thái cảm xúc tiếc nuối của Thanh Thảo khi những
cách tân nghệ thuật của Lor-Ca không còn. Tiếng đàn không còn là sự vật vô tri, vô
giác mà đã trở thành thân phận, nó cũng chịu nỗi đau thân phận của người đã sáng
tạo ra nó. Giọt âm thanh của tiếng đàn đã trở thành giọt máu. Hình ảnh gợi sự bất
nhẫn trong cuộc đời của Lor-Ca. Cuộc đời bị cắt ngang, cái đẹp bị huỷ hoại. Hình
ảnh thơ gợi những cảm xúc đau đớn xót xa của Thanh Thảo trước sinh mệnh gắn
ngủi của Lor-Ca và như một quy luật trong thi phẩm Thanh Thảo đã mô phỏng lại
chuỗi âm thanh của tiếng đàn.
Hình tượng tiếng đàn được tái hiện bằng chuỗi âm thanh li-la li-la li-la.
Chuỗi âm thanh mô phỏng tiếng đàn mở đầu hoặc kết thúc bản hợp âm. Nhịp thơ
2/2/2 rất đều đặn đọc lên nghe da diết vô cùng. Đó là chuỗi âm thanh gợi sự tri âm,
đồng cảm của người nghe, người đọc, người thưởng thức và cũng là tiếng lòng của
Thanh Thảo dành cho Lor-Ca. Đọc đàn ghi ta của Lor-Ca ta cảm nhận được những
tình cảm chân thành, sự sâu sắc tác giả dành cho Lor-Ca.
Hình tượng tiếng đàn trong thi phẩm được Thanh Thảo tái hiện bằng bút pháp