Một số vấn đề về làng xã cổ truyền Việt Nam
- 27 -
CHƯƠNG III
KẾT CẤU XÃ HỘI
I. CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC XÃ HỘI
Theo ý kiến của nhiều nhà văn hóa học thì tổ chức đời sống liên
quan đến cuộc sống của cả cộng đồng quan trọng nhất ở ba lónh vực: tổ chức
quốc gia, tổ chức nông thôn và tổ chức đô thò. Đối với các nền văn hóa
phương Tây chuyển từ du mục sang đô thò, thì tổ chức đô thò giữ vai trò quan
trọng. Còn đối với nền văn hóa nông nghiệp như Việt Nam thì tổ chức nông
thôn lại là lónh vực quan trọng nhất. Nó chi phối cả tổ chức quốc gia và tổ
chức đô thò, cả diện mạo xã hội lẫn tính cách con người.
Cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên và trong hoàn
cảnh ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trừơng xã hội, người Việt đã
phải dựa vào nhau, liên kết với nhau mà sống. Cho nên, nét đặc trưng số
một của làng Việt cổ truyền là tính cộng đồng. Cộng đồng đa chức năng và
liên kết chặt.
1. Tập hợp người theo đòa vực ngõ, xóm
Cho đến nay loài người có hai phương thức để hình thành nên các tụ
điểm – cộng đồng dân cư đó là: tập hợp người theo quan hệ huyết thống và
tập hợp người theo quan hệ láng giềng. Hiển nhiên làng Việt cổ truyền là
đơn vò tụ cư trong tiến trình phát triển được tập hợp lại theo phương thức thứ
hai. Nói một cách khác, sự tập hợp này đã dẫn đến hiện tượng cư dân trong
làng xã Việt không nhất thiết ai cũng là họ hàng của ai, quan hệ láng giềng
lấn át quan hệ huyết thống nghóa là đối với nhau họ không nhất thiết phải có
mối quan hệ huyết thống mà về cơ bản chỉ là người “dưng nước lã” – người
“hàng xóm – láng giềng” cùng nhau sống trên một đòa vực gồm một khu đất
cư trú và một khu đất trồng trọt.
việc tế tự theo một lòch gần khớp với lòch nghi lễ của làng làm thời gian
biểu.
Trên bình diện công việc chung của làng, của xã, của xóm là cái
khung đòa vực mà chính quyền quân chủ ở cấp xã lựa chọn để tổ chức việc
bảo vệ an ninh tập thể (tuần xóm). Đồng thời cũng là một tổ chức mà chính
quyền quân chủ ở cấp xã dựa vào để làm tròn nhiệm vụ với chính quyền
trung ương như thu thuế và điều động nhân lực (bắt phu / lính).
Và cuối cùng, nếu ta nhìn vào ngõ xóm của người Việt dưới góc độ
đất đai canh tác thì ngõ xóm không phải là những đơn vò phân cấp công
điền, công thổ. Một chút ít “ruộng hậu” nếu có cũng không đủ sức để tạo
điều kiện trong ngõ xóm có một diện mạo kinh tế hoàn chỉnh. Như vậy sự
thiếu hụt về thế lực kinh tế của ngõ xóm càng cho thấy khái niệm ngõ, xóm
chỉ liên quan đến khu đất cư trú của làng, nó không dính líu gì đến khu đất
trồng trọt. Xóm, ngõ chỉ là những phân thể thuần túy của làng xã về mặt tụ
cư, hoàn toàn không thể là một đơn vò kinh tế – chính trò – một tế bào của xã
hội Việt Nam thời phong kiến.
Cách tổ chức nông thôn dựa trên đòa bàn cư trú, dựa trên quan hệ
hàng ngang – theo không gian được gọi là nguồn gốc của tính dân chủ, bởi
lẽ trong cộng đồng ngõ xóm muốn có quan hệ tốt đẹp lâu dài; muốn giúp đỡ
nhau thì phải tôn trọng, bình đẳng. Đó là loại hình dân chủ sơ khai, dân chủ
làng mạc.
Tuy nhiên tính dân chủ bình đẳng kéo theo mặt trái của nó là tính
dựa dẫm, ỷ lại và thói đố kỵ, cào bằng.
2. Tổ chức dòng họ
Làng Việt Nam là một phức hợp của nhiều tổ chức xã hội mà trước
hết là dòng họ. Đây là mối liên kết bền vững nhất trong tổ chức cộng đồng
làng xã Việt Nam.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng họ, trước hết không phải là đại gia
đình phụ quyền, vì nó không phải là đơn vò kinh tế, không phải là cái bếp
dã: “một người làm quan cả họ được nhờ”, “cháu nó lú nhưng chú nó khôn”
hay “họ chín đời còn hơn 10 người dưng”…
Có những người cho rằng quan hệ tông tộc trong làng Việt có từ thời
công xã nguyên thủy và trong khi xã hội có giai cấp thì quan hệ này sẽ bò
“mờ” đi hoặc bò giai cấp thống trò phá hủy, hoặc bò kinh tế hàng hóa bào
mòn. Nhưng thực tế chứng minh trong những thế kỷ gần đây, quan hệ dòng
họ – tổ chức tông tộc không phải là lỏng lẻo, suy yếu dần mà trái lại nó
càng được củng cố thêm. Sự phát triển của kinh tế hàng hóa trong thời kỳ
phong kiến hậu kỳ (suy vong và tan rã) chưa đủ sức làm suy yếu quan hệ
tông tộc – họ hàng. Ngược lại dưới tác động của tư tưởng Nho giáo, của
chính sách thống trò của nhà nước phong kiến thì mối quan hệ này được thắt
chặt nhiều hơn, ràng buộc nhiều hơn.
Nhà nước phong kiến dựa vào tông tộc để thống trò, lợi dụng tông tộc
làm chỗ dựa cho vương quyền. Sự kết hợp vương quyền với dòng họ đã tạo
ra những danh gia vọng tộc. Chính quyền phong kiến thời Nguyễn, cả thực
dân Pháp trong những năm 20 và 30 của thế kỷ XX cũng đặc biệt lợi dụng
dòng họ để thống trò nhân dân. Luật Gia Long quy đònh trong họ hàng phải
chòu trách nhiệm quản lý dòng họ, bố mẹ phải cùng chòu tội lỗi của cả con
và cháu. Chế độ phong kiến Việt Nam đề cao gia tộc, gia trưởng, pháp lý
hóa các quan hệ họ hàng, tạo ra một dạng thức “phong kiến mang đậm tông
tộc chủ nghóa”. Cái gọi là Hội đồng tộc biểu hay ban tộc biểu ở các làng xã
thời Pháp thuộc chỉ là sự lợi dụng tông tộc, dòng họ của chính quyền phong
kiến thực dân.
Họ hàng căn bản không đối lập với làng xã, có khác biệt nhưng vẫn
thống nhất với làng xã. Họ hàng liên quan với làng thông qua tổ chức giáp.
Tổ chức họ có vò trí khá quan trọng (có nơi là nòng cốt của làng) đã góp
phần củng cố thêm quan hệ làng xã và dó nhiên hỗ trợ cho kinh tế tiểu nông,
giúp cho kinh tế tiểu nông khắc phục được những trở ngại, khó khăn trong
___________________________________________________________
cạnh tranh. Nội dung quy đònh của phường chủ yếu là tương trợ những điều
kiện làm ăn (như cho vay vốn chòu lãi nhẹ), về giá cả mua bán nguyên liệu
và thành phẩm để bảo đảm mối đoàn kết của những người cùng nghề
nghiệp.
Phường lệ (có văn bản hay không có văn bản) là kỷ luật bắt buộc đối
với tất cả các thành viên, là mối dây ràng buộc khá chặt chẽ đối với những
người làm nghề thủ công hoặc buôn bán.
Làng Việt còn có các hội, tổ chức theo giới tính, theo chức nghiệp và
theo lứa tuổi như hội Tư văn, Tư võ, hội làng binh của những người có học,
của những người đi lính và của các quan văn, quan võ về làng; hội theo giới
tính (chồng xếp trên là tôn giáo) như hội Chư bà; hội theo lứa tuổi có hội
mục đồng (của trẻ chăn trâu); hội lão (của những người già cả) …
Sự ràng buộc của những loại hội này không chặt chẽ bằng phường và
họ, nhưng nó cũng góp phần ràng buộc cư dân theo một đònh hướng “tương
thân, tương ái” về luân lý và đạo đức.
4. Tập hợp người theo giáp.
Nếu như trong làng xã cổ truyền Việt Nam, ngõ xóm và tổ chức họ
là biểu thò quan hệ láng giềng và huyết thống, thì tổ chức giáp đònh vò trong
___________________________________________________________
Th.S. Nguyễn Cơng Chất
Khoa Lịch sử
Một số vấn đề về làng xã cổ truyền Việt Nam
- 31 -
làng xã Việt Nam là tổ chức được coi là “đa diện” quản lý con người, và là
thành viên lên lão sớm, thậm chí là quá sớm ở tuổi 49.
Lên lão là xênh xang, ra đình được ngồi chiếu trên; là lớp tuổi được
cả giáp, cả làng trọng vọng. Cụ ông cao tuổi nhất làng được gọi là tiêu chí
thủ chỉ.
Trong dạng thức được tạo bởi cơ tầng văn hoá nông nghiệp trồng lúa
nước, trong tổ chức cộng đồng của người Việt yếu tố “trọng xỉ” được đề cao.
Người ta vẫn “kính lão đắc thọ – kính già già để tuổi cho”. Khi làng xã “có
việc”, các cụ già tùy theo tuổi tác – bất luận thành phần nào được ngồi
ngang hàng thậm chí cao hơn so với các quan viên chức sắc trong chiếu đình
làng. Có nơi lệ làng còn qui đònh tôn vinh các cụ già là quan lão, quan anh.
Vò trí do tuổi tác mang lại gọi là xỉ tước hay thiên tước : “triều đình trọng
tước, hương đẳng trọng xỉ” là vậy.
___________________________________________________________
Th.S. Nguyễn Cơng Chất
Khoa Lịch sử
Một số vấn đề về làng xã cổ truyền Việt Nam
- 32 -
Kính trọng thì rất kính trọng, nhưng về quyền hành và quyền lợi thực
thì không còn khi đã ở tuổi nghỉ ngơi của các cụ. Các cụ đươcï miễn sưu
thuế, miễn đi phu, đi lính và dó nhiên các cụ cũng “bò miễn” nhận phần
ruộng đất công làng xã. Quyền hành được trao vào tay lớp tráng niên. Vì
vậy, lễ lên lão cũng được gọi là lễ ra lão : “Xuất lão vô sự; mũ nỉ che tai;
gác bỏ ngoài tai mọi sự đời”.
- Xét về nguồn gốc ban đầu, hẳn là giáp ở Việt Nam đã được tổ chức
theo đòa bàn cư trú. Về sau theo nguyên tắc cha truyền, con nối đã phá vỡ
nếu không thì phải mua (mà làng sẵn sàng bán). Tùy theo từng làng mà
nặng bên khoa, nhẹ bên hoạn, hay ngược lại, và số lượng khác nhau nhưng
có một tiêu chuẩn phổ biến là phải khao vọng. Ở miền Bắc và miền Trung,
hầu như làng nào cũng có tục khao vọng khi được gia nhập vào hàng ngũ
___________________________________________________________
Th.S. Nguyễn Cơng Chất
Khoa Lịch sử
Một số vấn đề về làng xã cổ truyền Việt Nam
- 33 -
này. Làng nào cũng có sổ hương ẩm. “Vô vọng bất thành quan” như một
nguyên tắc lớn.
Tùy theo cấp bậc khác nhau trong hệ thống quan viên mà có hình
thức khao vọng thích ứng. Nhỏ thì vọng ở xóm giáp; lớn thì vọng ở làng; lớn
nữa thì phải vọng nhiều ngày. Nhiều bản hương ước đã xác đònh cụ thể cho
từng cuộc khao vọng của từng hạng chức quan. Muốn được danh tiếng giữa
làng phải trải qua khao vọng. Danh có nhiều bậc, muốn leo lên thì phải trải
qua nhiều lần khao vọng. Ấy vậy mà không ít người cứ cố để mà lấy cái
danh – bởi cái danh cũng là một chuẩn giá trò xã hội giữa cộng đồng làng.
Có người cố đến kiệt sức rồi sau đó mang công nợ cho bản thân và cả con
cháu. Thậm chí phải bỏ làng đi nơi khác.
Quan viên làng xã có thể chia làm hai bộ phận. Chủ yếu là:
+ Nhóm kỳ dòch là bộ phận hành chính của làng xã, có ý
nghóa là nhà nước đòa phương, gồm có các Lý trưởng hay Xã trưởng và các
Phò lý, Trương tuần, Hương mục, Hương bộ… Trong nhóm này có lý trưởng
là người có quyền thế cao nhất. Kỳ dòch là trung gian liên lạc giữa xã và
Khoa Lịch sử
Một số vấn đề về làng xã cổ truyền Việt Nam
- 34 -
của tổ chức chính quyền từ trung ương đến cấp xã bò dừng lại, bò sàng lọc
qua hội đồng kỳ mục.
Mặc khác, lý trưởng và các thành viên của hội đồng kỳ dòch không
có lương hàng tháng của nhà nước, mà chỉ có chút ít phụ cấp. Nhà nước
phong kiến và thực dân cho phép họ trích những khoản thuế, ruộng công bù
vào. Do vậy, lý trưởng và dòch mục thường phải đứng về phía kỳ mục, về
phía “làng – xã”, làm cho chính quyền nhà nước đến tận làng xã mang nội
dung “lưỡng tính”, pháp quyền chính thống đến đây bò “khúc xạ”, bò suy yếu
bớt.
Sự kết hợp theo kiểu quản lý “kép” là hiện tượng độc đáo ở Việt
Nam mà nhiều nước trên thế giới ít có.
III. HƯƠNG ƯỚC
1. Nội dung hương ước
Nhìn vào các yếu tố “rời rạc” tạo thành cơ cấu tổ chức xã hội của
làng Việt, chúng ta nhận thấy có vẻ như rất lỏng lẻo trong mối quan hệ. Nói
một cách khác, trong sinh hoạt cộng đồng của cư dân với nhiều tập hợp
trong nhiều hình thức như ngõ, xóm, họ, giáp, phường, hội … mà mỗi đơn vò
nhỏ này lại có đời sống sinh hoạt riêng của mình, tạo thành những “ốc đảo”
biệt lập.
Chất kết dính của các “ốc đảo” đó để vận hành như một đơn vò thống
nhất đó là hương ước, một phương thức quản lý nông thôn Việt Nam truyền
thống.
pháp, giữa truyền thống và tự trò với cách thức tổ chức quản lý tập trung
thống nhất, khiến nhà nước không thể không có những nhân nhượng nhất
đònh đối với làng xã trên nguyên tắc bảo đảm quyền quản lý của mình. Bản
hương ước ra đời vừa đáp ứng nhu cầu tự trò, tự quản của làng xã,vừa khẳng
đònh quyền quản lý làng xã của bản thân nhà nước thống trò.
Hương ước được coi là văn bản pháp lý của mỗi làng, trong đó bao
gồm các điều ước về dân sự, hình sự, các điều ước giữ gìn đạo lý, phong tục
tập quán … có liên quan đến tổ chức xã hội cũng như đời sống xã hội trong
làng. Hương ước là tấm gương phản chiếu bộ mặt xã hội cũng như đời sống
văn hoá mỗi làng. Hương ước được hình thành trong lòch sử, được điều chỉnh
và bổ sung mỗi khi cần thiết.
Một bản hương ước chính thức thành văn có thể mang nhiều tên gọi
khác nhau như hương ước, hương lệ, hương tục, khoán ước … nhưng xét về
mặt tính chất thì vẫn luôn luôn phải đảm bảo hai yếu tố luật nước và lệ
làng, trong đó lệ làng dù được khai thác đến mức tối đa, dù được trình bày
hết sức cụ thể và chi tiết nhưng vẫn phải phục tùng luật nước. Luật nước là
chuẩn mực, là thước đo, là nguyên tắc cơ bản chuẩn đònh lệ làng. Nói một
cách khác hương ước là một sự chấp nhận các tục lệ, các tập quán riêng của
mỗi làng xã trên nguyên tắc không được trái với phép nước, không được gây
phương hại đến luật hiện hành.
Về nội dung cụ thể của hương ước, do mỗi làng tùy theo đặc điểm
riêng mà có những tập tục, qui ước riêng. Bởi vậy, nhìn chung các điều
khoản ghi trong hương ước rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên hương ước
mỗi làng đều phản ánh những nội dung chính sau:
1. Những qui ước liên quan đến cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội
trong làng như chức năng, quyền hạn và lề lối làm việc của từng tổ chức
cũng như các thành viên trong các thiết chế tổ chức ngõ xóm, giáp và hội
đồng kỳ mục, lý dòch. Các điều về phân đònh ngôi thứ trong làng theo bằng
cấp, phẩm hàm, chức tước, tài sản và tuổi tác.
2. Những qui ước về việc bảo vệ an ninh làng xã như các điều khoản
năm, từ những năm cuối của thế kỷ XIX đến những năm đầu của thế kỷ
XX, thực dân Pháp vẫn giữ nguyên cơ cấu tổ chức của làng Việt, biến nó
thành công cụ thống trò, đàn áp và bóc lột nhân dân. Toàn quyền P. Doumer
đã công khai tuyên bố “cơ cấu vững chắc của làng xã An Nam được hoàn
toàn tôn trọng và còn cần được duy trì triệt để sau này cho việc cai trò của
chúng ta được dễ dàng”.
Từ đầu thế kỷ XX, nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914
– 1918), phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta ngày càng
lan rộng tới nông thôn. Tính độc lập và tính tự trò của làng xã mà thực dân
Pháp đã từng lợi dụng để thống trò lại có tác dụng phản ngược lại. Để nắm
chặt nông thôn, thực dân Pháp đã quyết đònh tổ chức lại bộ máy hành chính
cấp làng xã mà đương thời gọi là cải lương hương chính, trong đó có phần
cải lương hương tục được thể nghiệm ở Nam Kỳ vào năm 1904, ở Trung Kỳ
1942 và Bắc Kỳ vào những năm 1921, 1941.
Thực hiện cải lương hương chính, thực dân Pháp đã khôn khéo lợi
dụng cơ chế vận hành “tam pháp quyền” tập trung của hương ước, đưa nội
dung cải lương hương chính vào hương ước, khiến cho tầng lớp kỳ mục
“thâm căn cố đếâ” ở nông thôn buộc phải im lặng rút lui ra khỏi cơ chế quản
lý làng xã để nhà nước thực dân trực tiếp quản lý hương ước làng xã trên
một số điểm như sau:
Thứ nhất: lợi dụng thế mạnh thực thi tam pháp quyền trong hương
ước, đưa các qui chế pháp lý cải lương hương chính vào nội dung hương ước,
buộc các làng xã phải tuân theo. Đây là sự lệ làng hoá phép nước.
Thứ hai: Chính quyền thực dân Pháp trực tiếp soạn thảo và quản lý
hương ước, còn làng xã chỉ là bên đối tác bò động. Làng xã mất đi quyền lập
ra hương ước.
Việc quản lý hương ước được chính quyền thực dân áp đặt rất chặt
chẽ. Các hương ước sau khi làng khai báo phải có dấu cả chữ ký của tất cả
các chức dòch trong làng để trình lên cấp trên phê duyệt. Một hương ước
được coi là hợp pháp và chỉ được thực thi khi có sự phê duyệt của chính
Như đã trình bày, nội dung hầu hết các điều khoản của hương ước
quy đònh trách nhiệm và chế độ thưởng phạt trước hết và chủ yếu đối với
các cá nhân trong làng trong việc thực hiện các công việc của cộng đồng.
Với các điều khoản này, hương ước trực tiếp kiểm soát thái độ ứng xử của
các thành viên, không phân biệt già trẻ, nam nữ thuộc bất kỳ hình thức tổ
chức và giai tầng xã hội nào. Chính bằng cách trực tiếp tác động đến từng
thành viên của cộng đồng qua việc kiểm soát thái độ hàng ngày của cá
nhân, hương ước đã tạo ra sự ràng buộc, sự áp đặt và kể cả sự cưỡng chế
của cộng đồng đối với mọi người trong làng. Và nhờ đó, hương ước còn làm
được một nhiệm vụ quan trọng khác: là sợi dây nối liền các tổ chức xã hội
trong làng, giúp cho bộ máy quản lý làng xã nắm được các tổ chức cấu
thành trong guồng máy của làng, “xây” chúng lại với nhau. nắm cá nhân để
rồi nắm tổ chức và khuôn các tổ chức ấy vận hành thống nhất trong một
chỉnh thể hữu cơ, đó là vò trí pháp lý lớn nhất của hương ước.
- Hương ước – công cụ để nhà nước phong kiến can thiệp vào làng
và quản lý làng, điều hòa lợi ích giữa làng và nhà nước.
Điều đáng lưu ý, trong hương ước của đa số các làng trước khi trình
bày nội dung cụ thể, đều khẳng đònh “nước có luật lệ của nước, làng có
hương ước riêng” hay “nhà nước có pháp luật quy đònh, còn dân có những
điều ước riêng”… Có thể coi đây là lời “tuyên ngôn về quyền tự trò” của
mỗi làng đối với nhà nước phong kiến. Nhưng “tính tự trò” của làng xã trong
điều kiện nông thôn đã bò phong kiến hóa thì nội dung hương ước không thể
vượt qua khỏi “phép nước” .
Đánh giá về những mặt tích cực và hạn chế của hương ước cần phải
thấy rằng: trước hết hương ước góp phần làm hình thành trong làng xã và
người nông dân nhiều đức tính truyền thống quý báu như: truyền thống đoàn
___________________________________________________________
Th.S. Nguyễn Cơng Chất
Khoa Lịch sử
đònh” lại vò trí , vai trò và chức năng quan trọng của nó trong quản lý kinh tế
– xã hội. Trong xu hướng chung đó, nhiều làng đã chủ động soạn thảo ra các
bản quy ước làng làm “cơ sở pháp lý” để quản lý, điều chỉnh các mặt sinh
hoạt của cộng đồng. Hiện tượng tái lập hương ước đã được các nhà khoa học
lưu tâm nghiên cứu (tham gia trong đề tài khoa học cấp nhà nước KX 08-09:
Thiết chế chính trò – xã hội nông thôn) và đã được Hội nghò Ban chấp hành
Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa 7-1993 ghi nhận “khuyến khích
xây dựng và thực hiện các hương ước, các quy chế về nếp sống văn minh ở
các thôn, xã”.
___________________________________________________________
Th.S. Nguyễn Cơng Chất
Khoa Lịch sử
Một số vấn đề về làng xã cổ truyền Việt Nam
- 39 -
CHƯƠNG IV
VÀI NÉT VỀ TÍN NGƯỢNG – TÔN GIÁO VÀ SINH
HOẠT LỄ HỘI TRONG LÀNG XÃ CỔ TRUYỀN VIỆT
NAM
I. VÀI NÉT VỀ TÍN NGƯỢNG VÀ TÔN GIÁO TRONG LÀNG XÃ
VIỆT NAM
1. Đình làng và tín ngưỡng thành hoàng
Theo các nhà nghiên cứu, đình làng có từ rất sớm, đã từng tồn tại
trong nhiều thế kỷ. Nhưng phải từ cuối thế kỷ XV về sau đình làng mới dần
dần có vai trò chi phối dần làng xã. Đình làng được coi là hiện tượng
chuyển đổi của nhà nước quân chủ phong kiến quý tộc Lý, Trần sang nhà
Khoa Lịch sử
Một số vấn đề về làng xã cổ truyền Việt Nam
- 40 -
Trong mỗi làng đều tôn thờ một hoặc nhiều vò thành hoàng và thành
hoàng chỉ có uy quyền “bảo hộ” dân làng trong một khu vực nhất đònh. Về
danh nghóa thành hoàng của làng này không thể coi là thành hoàng của làng
khác “ở đình nào chúc đình ấy”, “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng
nào làng ấy thờ”. Có thể coi đây là biểu hiện của tính tự trò trong làng xã
Việt Nam.
Việc mỗi làng tự chọn cho mình một hay một số vò thần bảo hộ riêng
không có nghóa là “ly tâm” thoát ra khỏi sự thống nhất của quốc gia thống
nhất. Điều đó được thể hiện sự kết hợp giữa chính quyền với thần quyền
(chính quyền trò sở ở đại đình, thần quyền được tôn thờ ở hậu cung). Hay
việc ban cấp sắc phong thành hoàng là biểu hiện sự cố gắng “thống nhất”
tinh thần giữa triều đình và làng xã, giữa chính quyền và thần quyền, mà
chính quyền chi phối thần quyền. Khi Gia Long lên ngôi và những vua kế
nghiệp đều tái lập sự chi phối, sự khống chế các thành hoàng làng xã từ Bắc
đến Nam. Sắc thờ thành hoàng của các làng trong cả nước phải được triều
đình phong cấp lại. Vua là chủ của bách thần. Triều đình tiến hành can thiệp
vào tín ngưỡng thờ thành hoàng bằng cách tái cấp sắc cho thành hoàng, loại
bỏ một số “dâm thần”, “ngụy thần”. Cũng như các triều đại khác, các thành
hoàng được phân chia làm 3 hạng: thượng đẳng, trung đẳng, hạ đẳng. Như
vậy, tín ngưỡng thành hoàng làm cho sự thống nhất của chính quyền và thần
quyền ngày càng tăng thêm tính chuyên chế của nhà nước quân chủ, nhà
vua không chỉ coi là phần “xác” mà còn là “giáo chủ của phần hồn”.
Cùng với thờ thành hoàng, dân làng còn tổ chưc lễ hội ở đình làng.
vừa chòu ơn sinh dưỡng, vừa sợ bò qû phạt. Do đó tổ tiên được con cháu còn
sống tưởng niệm tôn thờ, có trách nhiệm lo lắng, chăm sóc theo tục lệ để
được yên vui bên kia thế giới, được về quây quần, sum họp cùng con cháu
và che chở cho con cháu nhằm bảo vệ và duy trì danh dự của dòng họ và gia
đình.
Tín ngưỡng thờ tổ tiên gắn liền với sự củng cố quan hệ gia đình, họ
hàng. Quan hệ gia đình, họ hàng vốn là quan hệ tự nhiên theo huyết thống
được nhà nước quân chủ phong kiến duy trì, được học thuyết Nho giáo cổ vũ
khẳng đònh và phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XIX. Chính ở trong thế kỷ
này, các hiện tượng làm tộc phả, tộc ước, lập gia huấn được phổ biến ở
nhiều nơi, so với các thế kỷ trước có phần phát triển hơn. Không ít làng có
hiện tượng dòng họ là bộ phận quản lý làng: tộc trưởng họ lớn luôn giữ chức
vụ lý trưởng giáp trưởng. Quan hệ gia đình, họ hàng vốn là mối dây ràng
buộc, chỗ dựa tinh thần cả về vật chất của cá nhân, gia đình trong cộng
đồng làng xóm trước cuộc sống đầy gian nan vất vả, tai biến rủi ro thường
xuyên xảy ra. Đặc biệt trong những năm tháng mới xây dựng gia đình nó
cũng có ý nghóa lớn lao được thiêng liêng hóa, được thần thánh hóa, được
thần thánh hoá bằng việc thờ cúng ông bà, tổ tiên nghiêm chỉnh. Theo nhiều
nhà nghiên cứu thì đạo thờ tổ tiên đã có tác động bảo vệ danh dự cho những
người cùng cộng đồng, về phương diện đạo đức, khích lệ con cháu làm điều
tốt lành, gắng trở nên những người có công với dân, với nước để làm vẻ
vang cho gia đình dòng họ. Nếu lược bỏ dần những yếu tố lỗi thời : động
mồ, động mả, tìm chỗ mả phát, xem hướng đất … cũng như giảm bớt những
nghi thức phức tạp, thì đó là một đạo trong sáng, tích cực. một đạo lý nhân
bản tích cực.
Như vậy, trên một số nét chính, có thể nói rằng tín ngưỡng làng quê
mang tính thế tục và rất thực tiễn. Tín ngưỡng thành hoàng, thờ tổ tiên và
các loại thần khác không tạo ra sự đối lập giữa thế tục và thần thánh, hiện
thực và mong cầu, cõi người và cõi trần, cái trần thế và cái siêu nhiên và
ngược lại rất thực tiễn hoà hợp với con người. Nó phản ánh tính thực tiễn, vì
giáo thì chính là lúc các nguyên tắc chính trò và luân lý của học thuyết này
bò giáo điều như nguyên tắc tôn giáo bò thần hoá. Rồi Khổng, Mạnh được
tôn thờ như thần trong tâm thức tâm linh dân làng xã.
Nhà Lê sau này là nhà Nguyễn đã sử dụng Nho giáo để cố gắng xây
dựng một nền thống nhất chính trò giữa gia đình và triều đình với hệ thống
tam cương (quân, phu, phụ). Vào thời Nguyễn hầu hết các tỉnh huyện ở
đồng bằng đều có Văn chỉ, Văn miếu và đề cao, lồng ghép – thậm chí
chồng xếp một cách đặc biệt tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Nho giáo có tác
dụng củng cố gia đình và dòng họ, bảo vệ lễ giáo phong kiến, bảo vệ quyền
lợi của tập đoàn quân chủ thống trò, khi mà Phật giáo không củng cố gia
đình thân tộc, không bàn đến quân thần – phụ tử, không bảo vệ trật tự đẳng
cấp.
Nếu ở thế kỷ XVII, XVIII Phật, Đạo đang hưng thònh và bén rễ sâu
rộng ở cả Đàng ngoài và Đàng trong, thì đến giữa thế kỷ XIX, Phật, Đạo bò
các vua Nguyễn “hạn chế”. Mặc dù bò triều đình phê phán nhưng trong dân
gian Phật giáo cứ duy trì và có lúc, có nơi lại có phần phát triển. Sự thay đổi
vương triều, kể cả những cấm kỵ hạn chế của chính quyền phong kiến này
cũng không thay đổi được tín ngưỡng Phật giáo. Chùa chiền vẫn được tu
sửa, tượng Phật vẫn được đắp tô. Phật giáo được coi như một “thứ thuốc” tạo
ra một “ảo giác cần thiết” về sự cân bằng trong các quan hệ xã hội, làm
“mềm dẻo” các quan hệ giữa người và người.
Phật giáo đã dựa vào làng xã kết hợp với tín ngưỡng bản đòa để bén
rễ – tồn tại và phát triển. Có nhiều nơi nhà chùa đã trở thành trung tâm văn
hóa, tổ chức lễ hội. Những nhà sư còn thực hành các hoạt động đạo giáo dân
gian như cầu đảo, cầu siêu, trừ ma tà để đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của
dân gian. Làng xóm mọc (thành lập hay tái lập) đến đâu thì có chùa dựng
theo đến đó. Những công đức đóng góp cho chùa đều có ghi công vào bia
đá, chuông đồng, khẳng đònh điều thiện, phát huy lòng từ bi hỉ xả. Nhiều
chùa (đặc biệt ở phía Bắc) lại còn dung nạp cả tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên,
cho ký kỵ hậu Phật (nghóa là cúng ruộng, tiền vào chùa). Có nơi chùa còn
thượng Lão quân được thờ trong nhiều chùa. Điều này là cơ sở góp phần tạo
ra lý thuyết “Tam giáo đồng nguyên” của Trònh Huệ, của Ngô Thì Nhậm
vào cuối thế kỷ XVIII.
Đặc điểm tôn giáo của người Việt là đồng thuận và dung hợp. Người
Việt không theo một tôn giáo duy nhất (thuần Phật giáo như một số nước
Đông Nam Á hay Cơ đốc ở Châu Âu). Như trên đã trình bày, cho đến thế kỷ
XIX trên đất nước ta các loại thần (tổ tiên, thành hoàng, Nho, Phật, Đạo)
đều tồn tại đồng thời trong từng khu vực, trong từng làng xã, thậm chí trong
từng gia đình và con người. Những làng ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ có văn chỉ
(thờ Khổng Tử và Tiên nho), có chùa, có đình làng, có nhà thờ họ, rất nhiều
các miếu thờ thổ công và nhiều loại thần khác. Thành viên nào trong làng
cũng vậy, họ đều có thể thờ tất cả các loại thần tiên. Cũng một người (một
cá nhân cụ thể) khi tế thành hoàng, lúc cúng Khổng Tử, rồi đến hội Vu Lan,
rằm tháng 7 lại lên chùa niệm Phật và cúng thổ công, hà bá.
Kết cấu dung hợp Phật, Nho, Đạo và tín ngưỡng dân gian tồn tại
trong gia đình, làng xã bổ sung cho nhau. Mỗi tín ngưỡng tôn giáo trên
không thể tồn tại đơn lẻ để chế ngự con người, chi phối xã hội mà tất cả đều
dung hợp, linh hoạt giải quyết nhu cầu cuộc sống tinh thần, tình cảm của con
người tùy nơi, tùy lúc. Chính nhờ sự dung hợp truyền thống mà trong tâm
linh Việt nói chung là mở và thoáng. Không có sự xung đột gay gắt giữa các
tôn giáo với nhau và tôn giáo với tín ngưỡng dân gian, dù sau này (nhất là
vào thế kỷ XIX) đã có một số làng Thiên Chúa giáo xuất hiện ở nhiều nơi.
Ở một làng loại này các hệ thống tín ngưỡng Nho, Phật, Đạo, thờ tổ tiên và
các thần khác bò loại trừ.
III. LỄ HỘI VỚI “VĂN HOÁ TÂM LINH” TRONG LÀNG VIỆT.
___________________________________________________________
Th.S. Nguyễn Cơng Chất
Khoa Lịch sử
Hạ nguyên ( Rằm tháng mười, thủy quan giải ách – cũng là Tết cơm mới).
Thuộc loại Tết Rằm còn có Tết Trung Thu (rằm tháng tám) vốn là Tết
chung của mọi người, làng xã nào trong Tết này cũng tổ chức thả diều, hát
trống quân hay múa lân …
Ngoài hệ thống Tết Rằm, còn có Tết Đoan Ngọ (mồng năm tháng
năm âm lòch), với tục ăn rượu nếp và hoa quả chua chát, hái lá thuốc giữa
trưa giờ Ngọ để trừ sâu bọ. Cuối năm, 23 tháng Chạp là này Tết ông Táo,
để ông cưỡi cá chép (sản vật của nông nghiệp sông nước) lên trời, để rồi
đêm 30, ông Táo lại trở về bước vào năm tiếp theo lại mở ra Tết Nguyên
Đán làm thành một hệ thống lễ Tết theo chu trình khép kín.
Nếu lễ Tết là hệ thống theo thời gian (mà nhiều nhà nghiên cứu cho
rằng tạo ra một chu trình âm, dương chuyển hoá cho nhau) thì sinh hoạt lễ
Hội là hệ thống phân bố theo không gian. Mỗi làng, mỗi vùng có lễ hội
riêng của mình.
Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trường tự
nhiên như các lễ hội nghề nghiệp, trong đó quan trọng nhất là lễ hội nông
nghiệp. Có những lễ hội với mục đích cầu mưa, chống hạn; có những lễ hội
nhắc nhở vai trò của phân bón (nhất nước, nhì phân); có lễ hội chọi trâu, lễ
hội xuống đồng để tạ ơn trời ban cho mùa màng và sức khỏe, bên cạnh đó
là các lễ hội của làng nghề: đúc đồng, dệt, rèn, làm pháo …
___________________________________________________________
Th.S. Nguyễn Cơng Chất
Khoa Lịch sử
Một số vấn đề về làng xã cổ truyền Việt Nam
- 45 -
1975.
2. Ăngghen : Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Nxb Sự
Thật, Hà Nội, 1972.
3. Lê Nin : Sự phát triển của Chủ nghóa tư bản ở Nga, Nxb Tiến Bộ Mátxơva, 1976.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện hội nghò lần thứ 5 – BCH TW Khoá 7, Hà
Nội,1993.
5. Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp : Vấn đề dân cày, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1959.
Sách thư tòch.
6. Đại Nam nhất thống chí, Quốc sử quán thế kỷ XIX, tập III, IV, Bản dòch, Nxb
KHXH, Hà Nội,1971.
7. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, Hà Nội, 1972.
8. Lê Quý Đôn toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1977.
9. Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ thứ XIX, Nxb KHXH, Hà Nội, 1962.
Sách báo tham khảo.
10. Bế Viết Đẳng : Quá trình nghiên cứu làng Việt Nam và nhiệm vụ hiện nay. Tạp
chí Dân tộc học, tháng 1/ 1983.
11. Bùi Thiết : Vài ý kiến về sự hình thành các làng xã người Việt trước 1945. Tạp
chí Dân tộc học, 1982.
12. Bùi Xuân Đính : Lệ làng, phép nước, Nxb Pháp Lý, Hà Nội, 1985.
13. Diệp Đình Hoa : Làng xã và cấp huyện, Báo Nhân dân, 20/11/1983.
14. Đinh Xuân Lâm :Nông thôn Việt Nam trong thời kỳ cận đại : báo cáo trong hội
thảo Khoa học về làng xã do trường ĐHTHHN tổ chức 4/1986.
15. Hà Văn Tấn : Làng, liên làng và siêu làng ( Mấy suy nghó về phương pháp ),
báo cáo trong hội thảo Khoa học về làng xã do trường ĐHTHHN tổ chức 4/1986.
16. Nguyễn Hồng Phong : Xã thôn Việt Nam, Nxb Văn Sử Đòa, Hà Nội, 1958.
17. Phan Đại Doãn : Làng xã Việt Nam – một số vấn đề Kinh tế – Văn hoá – Xã
hội. Nxb Chính trò Quốc gia, Hà Nội, 2001.
18. Phan Đại Doãn : Nguyễn Quang Ngọc ( chủ biên) : Kinh Nghiệm tổ chức nông
thôn Việt Nam trong lòch sử, Nxb Chính trò Quốc gia, Hà Nội, 1994.
19. Trần Từ : Cơ cấu làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, Nxb KHXH, Hà Nội, 1984.