LUẬN VĂN TIẾP CẬN THẾ GIỚI NHÂN VẬT VŨ TRỌNG PHỤNG TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
-----------------

NGUYỄN THỊ THƢƠNG

TIẾP CẬN THẾ GIỚI NHÂN VẬT VŨ TRỌNG PHỤNG
TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số:

60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Phƣợng

HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Phượng - người
đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn trường
Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy chúng tôi trong khoá học
Cao học 2012 - 2014 vừa qua.
Cảm ơn các cán bộ Thư viện Trường, Phòng Tư liệu Khoa Ngữ Văn và
Phòng Sau Đại Học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ,
tạo điều kiện cho chúng tôi trong suốt khoá học.
Cảm ơn người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ

1.3.1.Vài nét về Vũ Trọng Phụng .................................................................. 17
1.3.2. Ảnh hưởng của phân tâm học tới Vũ Trọng Phụng .......................... 19
Chƣơng II: DẤU ẤN PHÂN TÂM HỌC QUA THẾ GIỚI NHÂN VẬT
VŨ TRỌNG PHỤNG .................................................................................... 22
2.1. Con ngƣời dục vọng ............................................................................... 22
2.1.1.Con người phù hoa, phù phiếm, vô nghĩa lý ....................................... 24
2.1.2. Con người ham muốn tiền bạc, danh vọng ........................................ 31


2.1.3 Con người ham muốn tính dục ............................................................ 37
2.2. Con ngƣời ẩn ức, chấn thƣơng.............................................................. 43
2.2.1. Con người ẩn ức................................................................................... 44
2.2.2. Con người chấn thương....................................................................... 53
2.2.2.1. Con ngƣời bị chấn thƣơng ................................................................. 55
2.2.2.2. Con ngƣời tự chấn thƣơng ................................................................. 60
2.3. Con ngƣời vô thức .................................................................................. 65
2.3.1. Sơ lược về khái niệm vô thức và con người vô thức .......................... 65
2.3.2. Một vài biểu hiện về con người vô thức và khám phá con người vô
thức trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng......................................................... 68
2.3.2.1. Con ngƣời vô thức qua giấc mơ .......................................................... 68
2.3.2.1. Con ngƣời vô thức qua phản xạ ngẫu nhiên ..................................... 73
CHƢƠNG III: PHÂN TÂM HỌC VÀ MỘT SỐ NÉT RIÊNG VỀ
NGHỆ THUẬT .................................................................................... 77
3.1. Phân tâm học và nghệ thuật xây dựng nhân vật ................................ 77
3.2. Phân tâm học và vấn đề mở rộng trƣờng nhìn, điểm nhìn ............... 80
3.3. Phân tâm học và việc đổi mới về ngôn ngữ, giọng điệu ..................... 83
3.3.1. Phân tâm học với việc đổi mới về ngôn ngữ ...................................... 83
3.3.1.1. Những đặc sắc về ngôn ngữ nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng .......... 83
3.3.1.2. Ngôn ngữ khoa học ............................................................................ 84
3.3.1.3. Ngôn ngữ cực thực: ............................................................................ 86

1.3. Phân tâm học là hướng mà chúng tôi sẽ lựa chọn khi tiếp cận thế
giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Chúng tôi hy vọng
hướng tiếp cận này sẽ giúp chúng tôi khám phá một số giá trị mới mẻ trong
quan niệm về con người của Vò Träng Phông trong nền văn học đương thời,
nét độc đáo trong cá tính và phong cách nghệ thuật của ông. Ngoài ra chúng
tôi cũng hy vọng qua công trình nghiên cứu của mình thanh toán một “nghi
1


án” văn học mà Vò Träng Phông từng phải chịu đựng oan uổng bởi sự đánh
giá của dư luận trong một thời gian khá dài.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Luận văn trước hết xin được trình bày một cách bao quát tình hình
nghiên cứu liên quan tới vấn đề nhân vật của các tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
qua các thời kỳ lịch sử.
2.1. Trƣớc 1945
Năm 1936, bút lực của nhà văn Vũ Trọng Phụng đặc biệt dồi dào, đầy
sức sáng tạo và đạt tới đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác. Ông bắt đầu công
bố Giông tố, Số đỏ trên Hà Nội Báo, Vỡ đê trên Tƣơng Lai và Làm đĩ trong
Sông Hƣơng. Tiểu thuyết Giông tố “đã làm nổi danh tức thì một tiểu thuyết
gia, bên cạnh một nhà phóng sự đã biết.” (Phạm Thế Ngũ - Việt Nam văn học
sử giản ước tân biên, tập 3. NXB Quốc học Sài Gòn, 1965). Song cũng trong
thời kỳ này, Vũ Trọng Phụng đã bị lên án gay gắt. Trên báo Ngày nay của Tự
lực văn đoàn, Nhất Chi Mai đã lên án toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Vũ
Trọng Phụng khi ông cho rằng: “Vũ Trọng Phụng là một nhà văn nhìn thế
giới qua cặp kính đen, một bộ óc đen và cả một nguồn văn cũng đen nữa”
Sau khi Vũ Trọng Phụng qua đời, tạp chí Tao đàn ra các bài viết của các
cây bút tên tuổi về Vũ Trọng Phụng như: Tam Lang, Nguyễn Tuân, Thanh Châu,
Trương Tửu, Ngô Tất Tố, Lưu Trọng Lư, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật. Các nhà
văn đã khẳng định nhân cách cao quý và tài năng độc đáo của Vũ Trọng Phụng.

ỏi và chưa thật sâu nhưng đã ít nhiều cảm nhận được vai trò của tác giả và
khẳng định đây là một cây bút tài năng.
2.2. Sau 1945
Sau cách mạng xu hướng chung là khẳng định Vũ Trọng Phụng như là
một nhà văn hiện thực phê phán có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân
tộc. Có thể kể đến ý kiến của Tố Hữu, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi tại
hội nghị tranh luận ở Việt Bắc năm 1994; của Nguyễn Đình Thi trên báo văn
3


học Xô Viết số 9.1995; của Đào Duy Anh, Trương Tửu, Văn Tâm trong tập
Vũ Trọng Phụng với chúng ta (NXB Minh Đức - 1957)
Nhóm Lê Quý Đôn trong “Lịch sử văn học Việt Nam” đã đánh giá khá
cao Vũ Trọng Phụng với tiểu thuyết Giông tố: “Đối với Thị Mịch, nạn nhân
của Giông tố ngòi bút của Vũ Trọng Phụng cũng không đều. Đoạn đầu ông tả
Thị Mịch là một cô gái quê hiền lành chất phác, giản dị và khi bị Nghị Hách
làm nhục ông có tỏ ra một chút thương hại. Nhưng về sau dưới ngòi bút của
ông Thị Mịch trở thành nạn nhân dâm đãng và có những cử chỉ của một kẻ vô
duyên đáng ghét của một người đang ở cảnh nghèo khó bỗng được sống trong
một cảnh giàu có, phong lưu” [23, tr.341 - 342]
Sóng gió nổi lên với Vũ Trọng Phụng khoảng đầu năm 1958. Có nhiều
ý kiến cực đoan phê phán nặng nề Vũ Trọng Phụng. Song bên cạnh đó vẫn có
nhiều ý kiến tỉnh táo trên cơ sở khoa học nghiêm túc.
- Trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập 1, 1974), Phan Cự Đệ cũng
đánh giá cao Vũ Trọng Phụng trong viêc xây dung nhân vật.
- Nguyễn Đăng Mạnh trong Nhà văn tƣ tƣởng và phong cách đã chú ý
đến nhân vật Long và Mịch trong Giông tố
- Thời kỳ này ở đô thị Miền Nam, giới nghiên cứu cũng dành sự quan
tâm cho sáng tác của Vũ Trọng Phụng đó là Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ,
Nguyễn Mạnh Côn, Dương Nghiễm Mậu…

của Vũ Trọng Phụng. Tuy nhiên cái nhìn về nhân vật Vũ Trọng Phụng còn
chủ yếu mang tính chất phê phán, nhân vật hầu như đều xấu xa, tha hoá.
Qua việc khảo sát trên ta tháy cái nhìn về nhân vật Vũ Trọng Phụng ở
phương diện phân tâm còn chủ yếu mang tính chất phê phán, việc tiếp cận
nhân vật vẫn theo hướng xã hội học.
5


Gần đây cũng có một số bài viết vận dụng phân tâm học để nghiên cứu
tác phẩm Vũ Trọng Phụng nhưng chưa có sự nghiên cứu một cách hệ thống.
Vậy tôi muốn vận dụng phân tâm học một cách có hệ thống về một tác giả
khá “phức tạp” đã mang nhiều tranh cãi để khảo sát văn chương Vũ Trọng
Phụng và đánh giá về Vũ Trọng Phụng một cách khách quan hơn.
3. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Thế giới nhân vật Vũ Trọng Phụng
từ góc nhìn phân tâm học qua các tiểu thuyết của ông. Qua đó, chúng tôi sẽ
chú tâm khai thác những ảnh hưởng của phân tâm học đến thế giới nhân vật
Vũ Trọng Phụng. Ngược lại, qua hướng tiếp cận này phần nào làm rõ cho
chúng ta cái nhìn về Phân tâm học cũng như con người ở phương diện tâm lý
- một cái nhìn khách quan mang tính khoa học dựa trên cơ sở lý thuyết của
phân tâm học.
Do giới hạn trong khuôn khổ là một bản luận văn và nhất là để làm rõ
những đặc điểm về tâm lý của con người theo phân tích khoa học nên đối
tượng khảo sát chủ yếu của luận văn là năm tiểu thuyết: “Giông tố” - 1936;
“Vỡ đê”- 1936; “Số đỏ”- 1936; “Làm đĩ” -1936; “Trúng số độc đắc” -1939.
Ngoài năm tiểu thuyết trên, ở một mức độ nhất định luận văn sẽ mở
rộng diện khảo sát đến một số tiểu thuyết khác của Vũ Trọng Phụng và các
nhà văn cùng thời nhằm tiện cho việc so sánh, đối chiếu.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phƣơng pháp loại hình

Thuý tiếp cận phân tâm học từ phía tác giả. Chọn đề tài “Tiếp cận thế giới
nhân vật Vũ Trọng Phụng từ góc nhìn phân tâm học”, luận văn muốn vận
dụng lý thuyết S.Freud để khảo sát nhân vật nhằm khẳng định tầm nhìn và
quan niệm mới về con người của Vũ Trọng Phụng.

7


6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của
luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở hình thành, hướng tiếp cận con người từ phân tâm học
Chương 2: Dấu ấn phân tâm học qua thế giới nhân vật Vũ Trọng Phụng
Chương 3 : Phân tâm học và một số nét riêng về nghệ thuật

8


NỘI DUNG
CHƢƠNG I
CƠ SỞ HÌNH THÀNH HƢỚNG TIẾP CẬN CON NGƢỜI
TỪ PHÂN TÂM HỌC
1.1. Vài nét về phân tâm học và sự thay đổi quan niệm về con ngƣời
1.1.1. Vài nét về Freud và phân tâm học
Phân tâm học là bộ môn khoa học chuyên sâu nghiên cứu về con người,
được sáng lập vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bởi một nhà Thần
kinh học người Áo - Bác sĩ Singmund Freud. Phân tâm học tức môn Tâm lý
học dùng phương pháp phân tích do Freud sáng lập và cũng là người có công
lớn nhất làm cho môn học từ chỗ chỉ giản đơn là một phương pháp điều trị
chứng bệnh tâm thần có hiệu quả trở thành một lý thuyết xã hội được nhiều

trực tiếp là thầy thuốc tâm thần học thời đó quá sùng bái thôi miên lên án và
cho phân tâm học của Freud là tà thuật. Đau khổ vì bị hiểu lầm nhưng tin
tưởng vào con đường mà mình đã lựa chọn, một mình quyết tâm làm sáng tỏ
vấn đề cuối cùng ông trở thành một lý thuyết gia, người sáng lập ra một
ngành học mới một chủ nghĩa như người đời đang gọi với nhiều hiệp hội
Phân Tâm học trên rất nhiều nước và trên hết là hiệp hội Phân Tâm học quốc
tế. Hơn nữa, phân tâm học còn được coi là môn học chính thức trong nhiều
trường đại học. Giáo trình đầu tiên của môn học này được chính thức giảng
dạy trong nhà trường được mang tựa đề “Những bài giảng nhập đề của môn
Tâm phân học” (Les lectures d’introduction de la Psychanalise) do chính
Freud biên soạn và trực tiếp giảng dạy ra đời vào năm 1915 - 1916.
10


Tâm phân học đã lấy cái vô thức làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu của
mình, còn cái hữu thức là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học cổ điển và đã
được các nhà tâm lý học, các nhà triết học, các nhà xã hội học và nhiều ngành
khoa học nghiên cứu về con người đã nghiên cứu và kết quả là người ta đã
hiểu được khá đầy đủ về nó. Vì vậy Freud cũng đã dành cho cái hữu thức một
vị trí xứng đáng trong học thuyết của mình. Đồng thời Freud còn chỉ ra những
mặt mạnh cũng như những mặt hạn chế của cái hữu thức. Và cái hữu thức
không phải là hình thức tinh thần duy nhất chi phối mọi hoạt động của con
người cũng như vai trò của nó không phải là tất cả.
Tâm lý học lấy cái vô thức làm đối tượng là tâm lý học về những miền
sâu tức tâm lý học về cái vô thức, là Tâm phân học, là học thuyết Freud. Tâm
lý học về cái vô thức do Freud sáng lập tuy có khác với tâm lý học cổ điển
nhưng không cái nào loại trừ cái nào mà bổ sung cho nhau làm cho nghành
tâm lý học thêm phong phú, hoàn chỉnh.
Tuy gọi là tâm lý học về cái vô thức nhưng trong hệ thống lý luận của
Tâm phân học lại có ba bộ phận rõ rệt tuy chúng có liên quan chặt chẽ với

mà mình đang sống, trực tiếp hoặc gián tiếp, ít nhiều đều chịu sự chi phối của
hoàn cảnh lịch sử - xã hội, sắc thái văn hoá của thời đại đó. Để hiểu rõ hơn về
cơ sở hình thành, hướng tiếp cận con người từ phân tâm học chúng ta phải xét
đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người trong văn chương cũng
như hoàn cảnh lịch sử - xã hội của thời đại đó, cụ thể là xã hội Việt Nam
trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
1.1.2.1.

Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX

Đầu thế kỷ XX, trên thế giới xuất hiện nhiều nhà khoa học lừng lẫy
như: Anhxtanh (Đức) với thuyết tương đối. Pavlov với định luật “phản xạ có
điều kiện”; Fleming tìm ra thuốc kháng sinh Pê-ni-ci-lin…
12


Các ngành khoa học này đã giúp con người tạo ra bước nhảy vọt về sản
xuất và năng suất lao động, nâng cao mức sống, chất lượng cuộc sống của con
người. Đặc biệt con người chúng ta còn phát hiện ra một thế giới mới về con
người mà học thuyết phân tâm học là tiêu biểu.
Tình hình thế giới có nhiều biến động đã ảnh hưởng tới Việt Nam trên
tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực văn hoá, văn học.
Thực dân Pháp tuy bắt đầu xâm lược nước ta từ năm 1858, nhưng cho
đến hết thế kỷ XIX , xét trên phạm vi cả nước, chúng chủ yếu chỉ hoạt động
về mặt quân sự. Xã hội Việt Nam vì thế, căn bản vẫn là xã hội phong kiến một xã hội phong kiến bị xâm lược. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi
đã tạm bình định được đất nước ta về mặt quân sự, thực dân Pháp mới tiến
hành khai thác thuộc địa một cách quy mô, do đó xã hội Việt Nam có những
chuyển biến sâu sắc, trở thành xã hội thưc dân nửa phong kiến. Hàng loạt đô
thị tư bản chủ nghĩa xuất hiện từ Nam chí Bắc, là những trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hoá của chế độ thực dân. ở những đô thị này ra đời những tầng

chính sách khủng bố trắng nhằm đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Bái và phong
tràp Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Chính sách độc quyền bóc lột kinh tế và chính
sách đàn áp, khủng bố, chuyên chế về chính trị của chủ nghĩa thực dân kiểu
cũ đã làm cho mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc,
quyết liệt.
Có thể nói về diện mạo đây là một giai đoạn đầy đau thương và khổ
nhục trong lịch sử nước ta. Nhưng nhìn từ phía khác các yếu tố Tây phương
thâm nhập vào Việt Nam như kinh tế, chính trị, văn hoá đồng thời cũng có
những tác động tích cực khiến xã hội Việt Nam chuyển mình theo hướng Âu
hoá. Sự xác lập một bảng giá trị mới trong đời sống xã hội đã hình thành. Bảng
giá trị này đã chi phối cái nhìn và cách nhìn của con người thời đại nói chung
14


và của nhà văn nói riêng. Đây cũng là cơ sở làm thay đổi quan niệm của các
nghệ sĩ và con người.
1.1.2.2. Sự thay đổi quan niệm về con ngƣời trong văn học Việt Nam
đầu thế kỷ XX
Quan niệm nghệ thuật về con người là một khái niệm của thi pháp học
có sự gắn bó với thế giới quan nhưng không đồng nhất với thế giới quan của
nhà văn. Nó là cách cắt nghĩa, là phương diện chủ quan trong cách cảm nhận
của nhà văn đối với con người. Suy cho cùng giá trị của văn học là ở chỗ nó
đã hiểu, đã cảm nhận và chiếm lĩnh con người sâu sắc ở mức độ nào.
Trong văn học, đặc biệt là tiểu thuyết, nhân vật là nơi thể hiện một cách
tập trung nhất, sâu đậm nhất quan niệm về con người của tác giả. Quan niệm
nghệ thuật về con người và sự miêu tả nhân vật luôn gắn liền với nhau, trong
đó quan niệm về con người có ý nghĩa chi phối, định hướng tính cách, sáng
tạo nhân vật: “Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn là nhân tố quy
định trực tiếp đối với nhân vật. Dựa vào đó người nghiên cứu sẽ có cơ sở chắc
chắn để tìm hiểu một phần cơ bản trong nội dung hình tượng và để lý giải lôgíc tổ chức bên trong của nhân vật”[25,tr.37]. Như vậy không thể bỏ qua quan

với cái mới.
1.2. Văn học nghệ thuật và hƣớng tiếp cận con ngƣời theo hƣớng
phân tâm học
Sigmund Freud đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp huy hoàng. Ông
đã khai mở một bức màn bí mật quan trọng của khoa học. Dưới đáy lương
tâm của con người còn cả một vực sâu đầy bí ẩn. Theo Freud, trong cái vực
thẳm của tâm thần chứa đựng những bản năng u tối và những tiềm năng
cao cả của con người. Ông mở ra cho khoa học một chân trời mới để tìm
hiểu con người. Những phát kiến của ông là những phát kiến siêu việt mới
mẻ, không những làm đảo lộn những thành tựu y học, tâm lý học trước đó
mà còn “gây choáng” cho nhiều ngành khoa học nghệ thuật khác khiến các
ngành này phải xét lại những nguyên tắc nền tảng của mình . Vai trò của
16


phân tâm học vì vậy là rất lớn, có thể áp dụng nghiên cứu trong nhiều
ngành khoa học, cụ thể như văn học nghệ thuật.
Ở Việt Nam, đã từng có một công trình nghiên cứu về “Truyện Kiều”
của đại thi hào Nguyễn Du dưới ảnh hưởng của phân tâm học nhưng thật
đáng tiếc là tác giả đã vận dụng Freud một cách khá cơ giới khiến nhân vật
Thuý Kiều được nhìn nhận nghiêng về theo hướng một con bệnh, đó là
bệnh uỷ hoàng. Điều này làm nhiều người cho rằng thực chất của phân tâm
học là sự khuyến khích bệnh hoạn đó, rằng Freud là đồng nghĩa với một lối
sống buông thả về tình dục, một thứ tình dục xấu xa, sa đoạ, bẩn thỉu đáng
ghê tởm và cần lên án.
Phân tâm học xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, nhưng một phần do
xã hội Việt Nam còn nặng tư tưởng Nho giáo, coi tính dục là một điều cấm
kỵ nên không dễ phơi bày lên mặt giấy. Phân tâm học trong văn chương
trước Vũ Trọng Phụng gần như không có hoặc nếu có thì cũng chỉ nghiên
cứu về tác giả mà thôi như nghiên cứu của Đỗ Lai Thuý về tác giả Hồ

những hình tượng văn chương đầy góc cạnh ném thẳng vào xã hội, vào những
kẻ xấu xa, tàn ác, đểu giả… để xoá sổ nó, phủ nhận nó.
Quan niệm nghệ thuật về con người của Vũ Trọng Phụng khá phức tạp,
ông luôn suy tư, trăn trở về con người. Đồng thời ông cũng có những nỗ lực
không nhỏ nhằm đi sâu, khám phá, nhìn nhận con người từ nhiều phương diện:
xã hội và cá nhân, ý thức và bản năng, bản chất và ý nghĩa tồn tại của con người.
Đặc biệt và cụ thể nhất đó là cách nhà văn tìm hiểu, tiếp cận con người từ phân
tâm học.

18


1.3.2. Ảnh hưởng của phân tâm học tới Vũ Trọng Phụng
Chủ nghĩa Freud du nhập vào nước ta từ rất sớm, với những khái niệm
libido (dục vọng), mặc cảm Ơđip, ẩn ức, thăng hoa, cái tôi - cái ấy - cái siêu
tôi… cùng những luận điểm táo bạo, sắc sảo của phân tâm học quả là có sức
hấp dẫn mới lạ khó cưỡng đối với người Việt Nam những năm 30 đầu thế kỷ
này. Có rất nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam chịu ảnh hưởng các nhà văn
phương Tây. Việc Vũ Trọng Phụng chịu ảnh hưởng phân tâm học Freud,
nhiệt tình áp dụng phân tâm học vào những sáng tác, đặc biệt ở thể loại tiểu
thuyết với Làm đĩ, Giông tố, Số đỏ, Lấy nhau vì tình… chỉ là một hiện tượng
nằm trong xu hướng chung của các nhà văn Việt Nam muốn tiếp thu các trào
lưu văn học hiện đại phương Tây vào quá trình hiện đại hoá văn học nước ta
mà thôi.
Trong những trang thay lời tựa, Vũ Trọng Phụng trịnh trọng tự nhận mình
là môn đệ của Freud [Tr.246] Ngay từ trước cách mạng tháng Tám, nhiều người
đã tỏ ý phàn nàn về cái dâm, cái tục trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng. Vũ
Ngọc Phan trong cuốn “Nhà văn hiện đại” đã nhận xét tác giả Giông tố “là một
đồ đệ của Freud” [38.Tr.580] đến Số đỏ “Tác giả tin ở thuyết tính dục quá
[38.Tr.584] còn “Làm đĩ là một tiểu thuyết mà Vũ Trọng Phụng dùng chủ nghĩa

với nền văn hoá, văn học Pháp và trên thế giới, đặc biệt là học thuyết phân tâm
học của Freud.
Thời buổi Vũ Trọng Phụng sống cũng là thời mà liên tục diễn ra các
sự kiện chính trị, cuộc sống hiện lên trong trạng thái đầy biến động của nó.
Cũng như nhiều thanh niên thời kì đó, Vũ Trọng Phụng khá mơ hồ về chính
trị nên ông đã đặt nhiều hi vọng vào đảng Cộng sản và đảng Xã hội Pháp
nhưng rồi theo thời gian những ảo tưởng ấy cứ tan vỡ dần. Những ảo tưởng
về chính trị đã vấp phải thực tế không phù hợp đã làm nảy sinh ở ông một
niềm hoài nghi, triết lí hướng đến những suy tư bên trong của con người.
Hàng ngày, nhà văn lại chỉ nhìn thấy cái xã hội là “khốn nạn: quan tham lại
nhũng, đàn bà hƣ hỏng, đàn ông dâm bôn, một tụi văn sĩ xảo quyệt…”. Cái xã
hội mà ông thấy “đã là ngƣời thì ai cũng dâm”. Xã hội ấy làm cho nhà văn có
cái nhìn bi quan sâu sắc về con người và cuộc đời, tạo cho ông cái biệt tài đi
sâu, khám phá những “chỗ hèn yếu nhất của con ngƣời”. Điều ấy lí giải vì
20


sao Vũ Trọng Phụng đã tiếp nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa Freud, chủ nghĩa
tự nhiên mà đại diện tiêu biểu là Emin Dôla - nhà văn Pháp.
Học thuyết phân tâm học của Sigmund Freud có ảnh hưởng mạnh mẽ
và rộng khắp trên toàn bộ sự phát triển về bề mặt xã hội, văn hóa, nghệ thuật
và trí tuệ trong thế kỷ XX. Freud đã gây dựng nên quan điểm được hệ thống
đầu tiên về bản chất tâm lý của loài người, tạo thành những công cụ và
phương tiện cho việc khám phá nhân cách và hành vi, phát triển một phương
pháp cho việc mang đến sự thay đổi trong cấu trúc và hành vi của nhân cách.
Freud nhấn mạnh vai trò của những quyết định vô thức đối với hành vi, và thể
hiện những khía cạnh trọng yếu nhất của hành vi được ảnh hưởng nặng nề bởi
những động cơ của những gì mà chúng ta nhận ra như thế nào.
Thuyết Freud không chỉ là thuyết khoa học đầu tiên về hành vi con
người, mà còn chứng tỏ là một trong những cái nhìn tổng quan nhận thức về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status