Tuyển tập các bài viết hay về kinh nghiệm ôn thi tốt nghiệp và cao đẳng đại học môn văn - Pdf 34

Tuyển tập các bài viết hay về kinh nghiệm ôn
thi tốt nghiệp và cao đẳng đại học môn VĂN
(tài liệu này bao gồm một số chuyên đề ôn
tập đi kèm)
7 bước để có điểm cao bài nghị luận ý kiến
văn học thi THPT quốc gia
Nghị luận văn học là kiểu bài làm văn chiếm 40 đến 50% số điểm
trong bài thi THPT quốc gia. Tạo lập văn bản đối với một đề thi
Ngữ Văn theo hình thức tự luận là khâu cuối cùng định giá năng
lực, kết quả của người dạy cũng như người học.
Bởi vậy, hướng dẫn để học sinh có kiến thức và kĩ năng tạo lập văn bản là khâu
rất quan trọng trong việc nâng cao điểm số cho học sinh với môn Ngữ văn trong
kỳ thi THPT quốc gia.
Dưới đây là những chia sẻ của cô Phạm Thị Kiều Oanh - Giáo viên Trường
THPT Mỹ Tho (Nam Định) - giúp giáo viên, học sinh dạy học, ôn và làm bài thi
đạt điểm cao đối với dạng bài văn nghị luận ý kiến bàn về văn học.
Bước 1: Giúp học sinh nhận dạng các kiểu bài thường gặp
Trong đề thi dạng bài ý kiến bàn về văn học, ý kiến thường được đặt trong
ngoặc kép, câu dẫn thường là “Bàn về...”; “Nhận xét về...”... “Có ý kiến cho
rằng...”. Kiểu bài này có hai dạng thường gặp là dạng đề đưa ra một ý kiến và
dạng đề có hai ý kiến.:
Ví dụ đề bài văn nghị luận có một ý kiến như sau: Bàn về phong cách nghệ thuật
của Nguyễn Minh Châu, có ý kiến cho rằng: “Một trong những điểm nhất quán
của Nguyễn Minh Châu trước và sau năm 1975 chính là hành trình đi tìm kiếm
hạt ngọc ẩn dấu sâu trong tâm hồn của mỗi con người. Hạt ngọc ấy không lồ lộ
nơi chớp bom, lửa đạn mà ẩn dấu trong vô vàn cát bụi thô nhám của cuộc
đời...”. Từ nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền
ngoài xa” anh, (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Dạng đề bài văn nghị luận có hai ý kiến được chia làm hai kiểu nhỏ. Kiểu thứ
nhất là hai ý kiến bổ sung cho nhau, ví dụ:
Về đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu, có người cho là “bản hùng ca về cuộc kháng

cùng đau đớn chứ chưa phải là bi kịch vỡ mộng văn chương với nhân vật Hộ...
Bước 6: Hướng dẫn học sinh chứng minh ý kiến cá nhân
Lưu ý, với dạng hai ý kiến bổ sung, mỗi ý kiến hình thành một luận điểm. Tuy
nhiên, trong mỗi ý kiến (mỗi luận điểm), giáo viên nên hướng dẫn học sinh hình
thành hệ thống luận cứ.
Với học sinh, bài muốn hay, trước hết phải có ý. Ý càng phong phú, rõ ràng,


càng dễ viết, khả năng làm chủ bài viết càng cao, tránh vo tròn thành một cục.
Bước 7: Hướng dẫn học sinh bàn luận ý kiến
Thông thường ở phần này học sinh sẽ khẳng định lại ý kiến, chỉ rõ ý kiến định
hướng cho người đọc biết thêm những gì về nội dung cần nghị luận như: Tâm
hồn nhân vật trữ tình, vẻ đẹp của nhân vật, phong cách hoặc quan điểm, tư
tưởng sáng tác của nhà văn…).

Gợi ý làm dạng bài so sánh văn học
Gần đây, trong các đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, ở câu 5
điểm, đề bài thường ra kiểu bài so sánh văn học(đề thi tuyển
sinh đại học, cao đẳng năm 2007-2008, 2008-2009).
Đây là một kiểu bài mới, chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong
chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông, do đó đã ảnh hưởng ít nhiều
đến chất lượng làm bài của học sinh cũng như quá trình định hướng ôn tập cho
học sinh từ phía giáo viên. Góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, bài viết này
xin đưa ra một số gợi ý để cùng các em ôn tập, phục vụ cho mùa thi 2009-2010.
1. Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo ba lớp nghĩa khác nhau.
Thứ nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu
văn”(1) . Thứ hai, nó được xem như một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập
luận như: phân tích, bác bỏ, bình luận đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn
11. Thứ ba, nó được xem như “một phương pháp, một cách thức trình bày khi
viết bài nghị luận”(2), tức là như một kiểu bài nghị luận cạnh các kiểu bài nghị

MỞ BÀI:
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
THÂN BÀI:
1. Làm rõ đối tượng thứ nhất (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập
luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
2. Làm rõ đối tượng thứ 2 (bước này vận kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng
chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
3. So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện
nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập
luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh)
4. Lý giải sự khác biệt: thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối
cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng
thi pháp của thời kì văn học…( bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ
yếu là thao tác lập luận phân tích)
KẾT BÀI:
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
Bây giờ thử kiểm định dàn bài trên bằng cách so sánh với đáp án câu III.a - Đề
thi tuyển sinh đại học – cao đẳng năm 2009, khối C như sau:
Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt
(Vợ nhặt - Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa
- Nguyễn Minh Châu).


MỞ BÀI
Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Giới thiệu khái quát về hai nhân vật trong hai tác phẩm
- Kim Lân là nhà văn chuyên viết về nông thôn và cuộc sống người dân quê, có

- Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
+ Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độ
lượng, giàu đức hi sinh.
+ Phía sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục vẫn là một người có khát vọng hạnh phúc,
can đảm, cứng cỏi.
+ Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu sắc lẽ
đời.
3. So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện
nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập
luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích, so sánh)
So sánh nét tương đồng, khác biệt
- Tương đồng: Cả hai nhân vật đều là những thân phận bé nhỏ, nạn nhân của
hoàn cảnh. Những vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực lam lũ
làm khuất lấp. Cả hai đều được khắc hoạ bằng những chi tiết chân thực...
- Khác biệt: Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là những
phẩm chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh,
trong nạn đói thê thảm. Vẻ đẹp được khắc sâu ở người đàn bà hàng chài là
những phẩm chất của một người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi
tiết đầy kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia đình...
4. Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối
cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng
thi pháp của thời kì văn học…( bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ
yếu là thao tác lập luận phân tích)
+ Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển, biến
đổi từ thấp đến cao(cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà chài lưới lại
tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại(cảm hứng thế sự-đời
tư trong khuynh hướng nhận thức lại)
+ Sự khác biệt giữa quan niệm con người giai cấp (Vợ nhặt) với quan niệm con
người đa dạng, phức tạp( Chiếc thuyền ngoài xa) đã tạo ra sự khác biệt này
(có thể có thêm nhiều ý khác, tùy thuộc mức độ phân hóa của đề thi)

phong phú, đa dạng khó có thể tìm ra một dàn bài khái quát thỏa mãn tất cả các
dạng đề bài. Trong yêu cầu của từng đề bài cụ thể thuộc kiểu bài này, học sinh
cần linh hoạt, sáng tạo. Vấn đề cốt tủy của mọi bài nghị luận là làm thế nào để
vừa “trúng” vừa “hay”. Nguyên tắc trình bày một bài nghị luận so sánh văn học
cũng không đi ra ngoài mục đích đó vậy.

Kinh nghiệm để ôn môn văn
Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT hằng năm, những môn học như
toán, ngoại ngữ, văn luôn là môn thi bắt buộc. Vì vậy, trong khi


chờ Bộ GD-ĐT công bố 3 môn thi còn lại vào cuối tháng 3 tới,
ngay từ bây giờ, học sinh lớp 12 nên chủ động ôn tập những
môn này.
Để ôn và thi tốt nghiệp môn văn đạt hiệu quả cao, học sinh có thể tham khảo
những kinh nghiệm nhỏ sau đây:
Trước hết, cần nắm chắc chắn cấu trúc, thang điểm đề thi tốt nghiệp môn văn do
Bộ GD- ĐT quy định. Đề thi môn Văn gồm 4 câu hỏi, chia làm 2 phần. Phần I bắt
buộc phải làm, có 2 câu: câu 1 (2 điểm) dạng tái hiện kiến thức như nêu hoàn
cảnh ra đời, giải thích nhan đề tác phẩm, nêu tình huống truyện...; câu 2 (3 điểm)
yêu cầu viết một bài văn nghị luận xã hội khoảng 400 chữ về một hiện tượng
trong đời sống, một tư tưởng đạo lý hoặc một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn
học. Phần II (5 điểm), học sinh chọn làm một trong hai câu 3a hoặc 3b với kiến
thức nghị luận văn học.
Vậy, để nắm được lượng kiến thức tương ứng với cấu trúc đề thi cho từng câu
hỏi, chúng ta cần hệ thống hóa kiến thức các phần như thơ, truyện ngắn, văn
chính luận, tùy bút, kịch, văn học nước ngoài... theo từng đặc điểm giai đoạn lịch
sử và phân phối chương trình. Mỗi phần cho từng thể loại có số lượng bài riêng,
không trùng khớp giữa chương trình cơ bản với nâng cao. Sau khi hệ thống hóa
kiến thức, cần nắm kiến thức cụ thể ở từng bài và những câu hỏi có thể ra ở cả

tránh những nhầm lẫn đáng tiếc đồng thời đạt kết quả cao khi
làm bài thi môn văn, bạn lưu ý những vấn đề sau:
Trước hết, phải nắm vững những kiến thức cơ bản nhất để đáp ứng cho bài làm
ở cả phần chung và phần riêng. Kiến thức đó ví như “nguyên vật liệu” cần thiết
để xây dựng và hoàn thành bài văn. Tuyệt đối không xem nhẹ hay bỏ câu nào.
Thông thường các bạn sợ nhất là câu tái hiện kiến thức vì phải học và ghi nhớ
nhiều kiến thức. Tuy nhiên, nếu không làm được câu này thì rất có thể bài văn
không đạt điểm trung bình. Sẽ không quá nặng nề nếu bạn nắm được phương
pháp và cách thức làm bài.
Đối với bài văn nghị luận xã hội, ngoài việc phải thu thập thông tin, đọc nhiều để
có kiến thức xã hội, bạn cần phải nhớ bố cục của từng dạng bài nghị luận (về
một tư tưởng đạo lý hay một hiện tượng đời sống). Khi đọc đề, phải xác định
ngay đề thuộc dạng nghị luận nào. Từ đó viết dàn ý sơ lược theo bố cục của
dạng đề đó ra giấy nháp, cân nhắc kỹ để chắc chắn không lạc đề, không lộn bố
cục, triển khai đúng yêu cầu rồi mới viết. Những lỗi các bạn thường mắc phải là
không triển khai bài văn đúng, đủ thao tác do không lập dàn ý trước dẫn đến bài
văn sơ sài, thiếu ý, bố cục lộn xộn.
Ở bài nghị luận văn học, phải thật sự hiểu và cảm được văn bản tác phẩm. Làm
văn là trình bày những hiểu biết của mình về những vấn đề của tác phẩm, làm
sao cho người đọc thấy được cái hay, cái đẹp và những vấn đề tư tưởng mà
thông qua tác phẩm nhà văn, nhà thơ muốn đề cập. Vì thế, phải đọc kỹ văn bản
văn xuôi, ghi nhớ những dẫn chứng cần thiết; thơ thì phải thuộc nằm lòng, không
thuộc không thể cảm được thơ.
Học tốt môn văn không thể một sớm một chiều mà phải có quá trình và ôn luyện
thường xuyên. Thời gian không còn nhiều, bạn cần xác định phương pháp học
tập: Nắm vững từng vấn đề tác phẩm, hiểu được tư tưởng mà tác giả đề cập...
Tuyệt đối không học thuộc lòng bài văn mẫu. Bởi lẽ "mẫu” không phải là “mẫu
mực” và cũng không thể nhớ hết. Hơn nữa đề thường rất đa dạng, đòi hỏi bạn
phải tư duy, phải biết lập dàn ý sao cho phù hợp.
Chỉ nên đọc văn mẫu trên tinh thần tham khảo để có thêm tư liệu, học cách triển

tác. Về hoàn cảnh sáng tác, các em phải nắm bắt được bối cảnh lịch sử ra đời
của tác phẩm (như truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân gắn với nạn đói năm
1945). Ngoài ra, các em không thể bỏ qua chủ đề của tác phẩm vì đó là căn cứ
quan trọng để phân tích giá trị tác phẩm, thái độ và cách giải quyết đề tài của
nhà văn. Riêng phần văn học nước ngoài, các em cần thuộc phần tiểu sử và
phong cách sáng tác của tác giả vì đề thi thường kiểm tra phần này.
Đề thi về nghị luận xã hội thường hỏi những vấn đề xung quanh cuộc sống, đề
tài rộng (về hiện tượng đời sống và tư tưởng đạo lý...). Phần mở bài các em phải
nêu được vấn đề, giải thích rõ trong phần thân bài theo các thao tác bàn luận,
phân tích, nêu nguyên nhân, giải pháp. Bàn về tư tưởng đạo lý, các em cũng
phải biết giải thích phân tích vấn đề, bàn luận rồi sau đó nêu cách giải quyết,
hướng phấn đấu chung.


Để có kỹ năng làm bài tốt, các em phải làm văn đúng phương pháp (phân tích
tác phẩm, phân tích nhân vật...), không chỉ chú ý nội dung mà còn khai thác các
yếu tố và giá trị về nghệ thuật, thủ pháp xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm…
Cần rèn luyện khả năng diễn đạt, văn viết phải có cảm xúc, có hình ảnh, dẫn
chứng tiêu biểu, chính xác chứ không phải nhớ gì viết nấy.

Bí quyết để đạt điểm cao môn Văn
Nếu muốn viết được bài văn đạt điểm cao, ngoài việc tổ chức
luận điểm sáng rõ mạch lạc, còn cần có kết cấu sáng tạo, từ mở
bài đến kết bài.
Mỗi bài văn cần có luận điểm rõ ràng
Muốn đạt hiệu quả cao môn Văn trong kỳ thi tốt nghiệp, thí sinh phải nắm chắc
được kết cấu bài thi với 2 câu nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
Đối với câu nghị luận xã hội, thí sinh phải nắm chắc kỹ năng làm nghị luận xã
hội, biết tổ chức ý trong bài. Học sinh cần chú ý cách tổ chức luận điểm như sau:
- Luận điểm phải khoa học, chính xác

Với tác phẩm thơ, học sinh cần nắm chắc hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, ví dụ:
Với bài thơ Tây Tiến, các em phải hiểu bài này viết về đơn vị bộ đội nào, hoạt
động ở đâu, hoàn cảnh thực tế họ trải qua gian khổ như thế nào. Điều đặc biệt,
chính tác giả bài thơ là người trải nghiệm, người cầm bút, điều này đã giúp cho
tác giả sáng tạo nên kiệt tác về người lính rất chân thực, sống động và bất tử.
Tác phẩm thơ khác với văn xuôi. Văn xuôi thiên về chi tiết, nội dung cốt chuyện
còn ở thơ là hệ thống hình tượng và ngôn từ, hình ảnh.
Khi phân tích đoạn thơ các em nên đặt trong chỉnh thể tác phẩm và phải nắm
được ý chủ đạo, phân tích mối quan hệ giữa đoạn thơ và nghệ thuật song song
để làm nổi bật tư tưởng nội dung chính của đoạn thơ.
Dù phân tích văn xuôi hay thơ thì các em nên nhớ để vị trí của nhà văn trong tiến
trình văn học. Ví dụ: Đối với nhà văn Tô Hoài thì tác phẩm Vợ chồng A Phủ
được trao giải nhất vì cái mới nhà văn thể hiện tư tưởng nhân đạo, tố cáo giai
cấp thống trị mà nhà văn đã miêu tả nhân vật trong tính cách đa chiều.
Đối với đề thi Văn “mở” như năm vừa qua cách ra đề mới, tạo khoảng rộng cho
chủ thể sáng tạo. Các em không nhất thiết phải theo thứ tự A,B,C giải thích vấn
đề tại sao, như thế nào. Tất nhiên, về mặt cốt lõi bên trong phải tuân theo lôgic
nhưng làm mới vấn đề đó bằng cách đặt một câu chuyện nhập vào bài luận, từ
vấn đề đó mình bàn luận ra.
Ví dụ: Viết về tình yêu quê hương thì các em có thể bắt đầu từ: Tôi nhận được
một bức thư của một người bạn nước ngoài đã 5 năm không trở về quê hương.


Từ đó, mình viết tình yêu quê hương quan trọng đến mức nào đối với mỗi con
người.
Lưu ý: Bài văn đạt điểm cao phải có hình thức đẹp: Kết cấu sáng. Chữ sạch đẹp,
rõ ràng. Viết hoa, đúng qui cách, đúng luật chính tả, dẫn chứng luôn để trong
ngoặc kép...

Một số vấn đề khi làm văn nghị luận xã hội

và hành động như thế nào?
Đề 2: Văn hào Nga Léptơnxtôi nói: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường, không có lí
tưởng thì không có phương hướng kiên định mà không có phương hướng thì
không có cuộc sống”.
Phát biểu suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này.
+ Giải thích:
- Lí tưởng là gì?
- Phân biệt lí tưởng với một số khái niệm dễ gây nhầm lẫn (tham vọng và dục
vọng).
- Mối quan hệ giữa lí tưởng của cá nhân và lí tưởng của loài người.
+ Bình luận:
- Lí tưởng là kim chỉ nam cho hành động.
- Có lí tưởng thôi chưa đủ, cần hành động để biến lí tưởng thành hiện thực.
+ Liên hệ:
- Lí tưởng của bản thân là gì?
- Thực hiện lí tưởng ấy như thế nào?
Đề 3: Suy nghĩ về hiện tượng nghiện Karaoke và Internet trong một bộ phận giới
trẻ hiện nay.
+ Giải thích:


- Nghiện
- Karaoke
- Internet
+ Vai trò, ý nghĩa của Karaoke và Internet đối với đời sống của con người, nhất
là của giới trẻ.
- Bối cảnh xã hội: kỉ nguyên của công nghệ.
- Vai trò của Karaoke: giải toả căng thẳng, lien kết bạn bè.
- Ý nghĩa của Internet: pho tri thức đồ sộ, bách khoa toàn thư về mọi lĩnh vực;
công cụ và phương pháp học tập hữu hiệu; cung cấp những tiện ích giảm thiêủ

+ Thực trạng:
- Thế giới
- Việt Nam
+ Hậu quả:
- Cản trở sự phát triển kinh tế
- Gây ra những căn bệnh hiểm nghèo, đe doạ nghiêm trọng đời sống con người.
Đề 7: Bình luận câu tục ngữ: “Uống nước nhớ nguồn”
+ Giải thích:
- Từ “nguồn”
- Cả câu.
+ Bình luận:


- Tại sao uống nước phải nhớ nguồn (đưa ra các phản đề để khẳng định tính tất
yếu của “nhớ nguồn”)
- Biểu hiện của nhớ nguồn
+ Liên hệ bản thân.
CỦNG CỐ KIẾN THỨC
Một số đề tham khảo
Đế 1: Bình luận quan niệm: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.
Đề 2: Suy nghĩ của anh chị về câu nói của Mác: “Hạnh phúc là đấu tranh”.
Đề 3: Bình luận về vai trò của tự học.
Đề 4: Là người học trong thời đại công nghệ thông tin, anh (chị) có suy nghĩ gì
về việc sử dụng trình chiếu trên lớp hiện nay.
Đề 5: Việc chán học văn của nhiều học sinh hiện nay.
Đề 6: Suy nghĩ về hiện tượng nghiện chơi game của một số không nhỏ các bạn
trẻ hiện nay.
Đề 7: Bình luận:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền

hóa chính trị những năm 80 => con người cá nhân với những mối quan hệ bề
bộn thường ngày cùng văn học tham gia cuộc đối thoại với công chúng về
những vấn đề nóng bỏng của xã hội => tác động tích cực đến tâm thế sáng tạo
của văn nghệ sĩ:
=> Lựa chọn kịch nói là một cách “xung trận” trực tiếp, có thể tác động vào xã
hội nhanh nhạy, hiệu quả, thể hiện trọn vẹn nhiệt hứng Lưu Quang Vũ.
b. Vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt:
+ Nhan đề: ngầm chứa đựng một nghịch cảnh trớ trêu, một nghịch lí mang ý vị
nhân sinh sâu sắc.


+ Khai thác cốt truyện dân gian:
- Ông Trương Ba cao cờ, một hôm đột ngột chết.
- Đế Thích tiếc tài đánh cờ của người nông dân ấy mà làm phép cho hồn Trương
Ba nhập vào xác anh hàng thịt (mới chết gần đó) để tiếp tục sống
- Tranh chấp chồng giữa hai người vợ, đưa lên quan xét xử => thử bằng cách ra
lệnh cho đương sự làm lần lượt 2 việc: mổ lợn và đánh cờ.
- Đương sự không biết cầm dao mổ lợn nhưng thành công trong việc đánh cờ =>
quyết định cho vợ Trương Ba mang chồng về.
+ Tóm tắt vở kịch:
- Trương Ba giỏi đánh cờ bị Nam Tào bắt chết nhầm.
- Vì muốn sửa sai, Nam Tào và Đế Thích cho hồn Trương Ba sống lại, nhập vào
xác anh hàng thịt vừa mới chết.
- Trú nhờ linh hồn vào thể xác anh hàng thịt, Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái:
lí trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, người thân cảm thấy xa lạ, bản
thân sống trong đau khổ, dằn trở vì phải sống trái tự nhiên và giả tạo. Thân xác
hàng thịt làm Trương Ba nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu không phải
của chính bản thân ông.
- Trước sự phiền toái và nguy cơ bị tha hóa, Trương Ba quyết định trả lại xác
cho anh hàng thịt và chấp nhận cái chết.

- Đối thoại với Đế Thích và kiên quyết giải thoát.
2. Phân tích
a. Độc thoại Hồn Trương Ba.
+ Hành động: ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy => biểu hiện:
- Con người đang ở trạng thái u uất, bế tắc, không lối thoát (ôm đầu).
- Đau khổ, dằn vặt, quẫn bách đến cùng cực, không thể chịu đựng dày vò hơn
được nữa (vụt đứng dậy) => trào ra thành những dòng độc thoại đầy nước mắt.
+ Lời nói:
- Phủ định: không, không muốn sống.
- Tâm trạng:


• Chán cái chỗ ở không phải của tôi lắm rồi.
• Sợ, muốn rời xa cái thân thể kềnh càng thô lỗ “tức khắc”.
• Khao khát “tách ra cái xác này, dù chỉ một lát”.
=> Nhận xét: các câu cảm thán, ngắn => lời văn dồn dập, hối thúc => trạng thái
căng thẳng, bức bách.
b. Đối thoại Hồn - Xác
+ Mô tả:
- Xác: xoáy vào hiện thực bi kịch của Hồn: “linh hồn mờ nhạt”, “không tách ra
khỏi tôi được đâu”
Hồn: ngạc nhiên vì thể xác cũng có tiếng nói “mày không có tiếng nói, mà chỉ là
xác thịt âm u đui mù”.
- Xác: “ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến”,
“sức mạnh ghê gớm, lấn át cả linh hồn cao khiết”.
Hồn: bất lực, phủ định tiếng nói của Xác: “chỉ là vỏ bề ngoài, không có ý nghĩa gì
hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc”.
- Xác: hỏi lại đầy thách thức: “Có thật thế không?”.
Hồn: chùn và đuối lí, buộc phải dần đồng tình, xác nhận sự ảnh hưởng của Xác
“nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được”.

Hồn: phản ứng yếu ớt: “Nhưng...Nhưng”
- Xác: “tôi rất biết cách chiều chuộng linh hồn”.
Hồn hỏi: “Chiều chuộng”?
- Xác: đưa ra giao kèo thỏa hiệp để chung sống: Xác sẽ “ve vuốt” Hồn bằng cách
thông cảm với “những trò chơi tâm hồn”, nhận hết mọi điều xấu miễn là Hồn vẫn
“làm đủ mọi việc để thỏa mãn thèm khát” của Xác.
Hồn: nhận thức “lí lẽ ti tiện” của Xác.
- Xác: khẳng định sự thắng thế của mình.
Hồn than bất lực.
- Xác: an ủi, kết thúc cuộc đối thoại.
+ Phân tích:
- Tương quan lượt lời: Xác: dài, dày đặc, Hồn: ngắn, thưa thớt => sự lấn át,
thắng thế của Xác - sự đuối lí, bất lực của Hồn => Hồn bị đẩy vào đường cùng,
buộc phải xuôi theo những sự thật và lí lẽ hiển nhiên mà Xác chỉ ra.


- Xung đột ngày càng đẩy lên cao trào, Xác tung ra những lí lẽ sắc bén như dao
mổ, khoét sâu vào nỗi đau bị tha hóa của Hồn.
c. Đối thoại Hồn Trương Ba - những người thân.
+ Với vợ:
- Vợ:
• Có ý định đi biệt để Trương Ba được thảnh thơi, “Còn hơn là thế này”.
• Chỉ ra: “ông đâu còn là ông, đâu còn là Trương Ba làm vườn ngày xưa”.
=> Nhận xét:
• Người vợ vị tha, nhẫn nhịn, hết mực yêu thương chồng.
• Mang tâm trạng đau khổ tột cùng vì chứng kiến sự đổi thay của chồng. Nỗi đau
hiện tại còn kinh khủng hơn giây phút bà tiễn thân xác chồng khỏi thế gian.
- Hồn Trương Ba:
• Lời thoại ngắn, toàn câu hỏi => biểu hiện: sự ngơ ngác, thảng thốt và trạng thái
thẫn thờ, tê xót.

thoại với người con trai (lúc này đã bị đồng tiền cám dỗ, sinh ra thói con buôn vụ
lợi) vào mà để Hồn đối thoại với vợ, cháu gái, con dâu – những người yêu
thương, gắn bó với Trương Ba nhất để dẫn dắt Trương Ba đến nhận thức sâu
sắc về tình trạng tuyệt vọng không lối thoát của bản thân mình.
+ Độc thoại:
- Ý thức, công nhận sự thắng thế của Xác.
- Tự vấn: “Lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?”
- Phản lại lí luận của Xác: “Có thật không còn cách nào khác? Không cần đến cái
đời sống do mày mang lại! Không cần” => Thái độ kiên quyết, dũng cảm.
=> Nếu độc thoại ở màn đầu tiên, Trương Ba hiện lên trong trạng thái dằn vặt
đau khổ thì ở màn độc thoại này, nỗi đau càng xa xót nhưng nhân vật không còn
trăn trở về tình trạng Hồn – Xác bất nhất mà đã có một thái độ chủ động dứt
khoát.
d. Đối thoại Hồn Trương Ba – Đế Thích.
+ Gửi gắm những quan niệm của tác giả về hạnh phúc, sự sống, cái chết.


+ Đế Thích:
- Đưa ra đề xuất để Trương Ba được sống: nhập xác Cu Tị => một cách tồn tại
“dễ thở” hơn, “dễ chịu” hơn.
- Khẳng định một hiện thực không phân biệt trần gian hay thượng giới: không ai
được toàn vẹn cả.
- Không hiểu được những suy nghĩ của Trương Ba “con người trần giới các ông
thật kì lạ”.
=> Vị thần tiên quyền phép biến hóa, yêu mến Trương Ba nhưng rốt cuộc vẫn
mang tầm nhìn, điểm nhìn xa lạ, không thể thấu hiểu những suy nghĩ trần thế.
+ Hồn Trương Ba:
- “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi
toàn vẹn” => quan niệm:
• Hồn và Xác luôn thống nhất hài hòa trong một con người. Không thể có linh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status