Kinh tế thương mại đại cương: Sự phát triển thương mại ngành may mặc trên thị trường hiện nay - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
* Trường Đại học Thương Mại *

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI NGÀNH MAY
MẶC TRÊN THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
PHẦN 1: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM MAY MẶC
1. Thị trường quốc tế
2. Thị trường nội địa
PHẦN II: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NGÀNH MAY MẶC Ở VIỆT NAM
PHẦN III: THÀNH TỰU CỦA HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI MAY MẶC
1. Dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu
2. Trang thiết bị được nâng cấp đổi mới
3. Những bước tiến mới
PHẦN IV: HẠN CHẾ VÀ KHÓ KHĂN TRONG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
THƯƠNG MẠI MAY MẶC
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

Thiếu ngành công nghiệp phụ trợ
Lao động và nguồn nhân lực

Tuy nhiên, sự phát triển thương mại của ngành may mặc Việt Nam đã và đang
bộc lộ nhiều hạn chế. Đó là: hiệu quả kinh tế không cao do chúng ta sản xuất gia
công cho nước ngoài là chủ yếu; chủng loại, mẫu mã còn nghèo nàn; sự phát
triển thiếu đồng bộ giữa ngành dệt và may; nguyên vật liệu sản xuất chính chủ
yếu lại nhập khẩu; trình độ khoa học, công nghệ còn thấp; trang thiết bị sản xuất
lạc hậu; hoạt động thiết kế chưa được coi trọng; vấn đề xây dựng thương hiệu
chưa được quan tâm đầu tư đúng mức; công tác xúc tiến thương mại còn hạn
chế… Bên cạnh đó, hàng hoá may mặc của Việt Nam còn bị cạnh tranh gay gắt
bởi các sản phẩm nước ngoài trên chính thị trường nội địa và thị trường XK.
Xét cả về lý luận lẫn thực tiễn, để đảm bảo phát triển bền vững ngành dệt may,
chúng ta cần giải quyết đồng bộ các tồn tại trên. Trong đó, vấn đề có ý nghĩa
sống còn là chúng ta phải tiếp cận và giải quyết tốt các yêu cầu của thị trường
mà trước hết là thị trường đầu ra cho sản phẩm may mặc. Trong bối cảnh cạnh
tranh thương mại đang diễn ra khốc liệt, dệt may Việt Nam muốn tiếp cận và
chiếm lĩnh thị trường đầu ra thì phải nâng cao được bốn yếu tố là: chất lượng,
giá cả, tiếp thị và uy tín thương hiệu.
Việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào đời sống kinh tế khu vực và thế
giới, thông qua việc chúng ta chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO) sẽ tạo ra sự thay đổi và biến động lớn đối với
thị trường của ngành may mặc Việt Nam. Gia nhập WTO không chỉ là cơ hội
cho hàng hóa của Việt Nam nói chung và các sản phẩm may mặc nói riêng vươn
xa hơn trên thị trường thế giới mà còn đồng nghĩa với việc, hàng hoá của chúng
ta sẽ phải đối mặt với việc cạnh tranh khốc liệt hơn. Là ngành sản xuất lấy xuất
khẩu làm trọng tâm, may mặc Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt với những tác
động tích cực và tiêu cực của quá trình hội nhập của kinh tế nước nhà.Hội nhập
kinh tế quốc tế một mặt tạo điều kiện cho các DN Việt Nam thâm nhập sâu và
3


mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá các nước khác trên thế giới, mặt khác các

may mặc VN ra thị trường thế giới: Tổng Công ty Cổ phần May Nhà Bè
nhượng quyền thương mại thương hiệu Mattana cho đối tác tại Ý với hợp
đồng tới 10 năm; Tổng công ty cổ phần may Việt Tiến đã có tổng đại lý tại
Lào và Campuchia, tháng 4 tới đây, dự kiến sẽ mở ở Myanmar và Trung
Quốc.
• Năm 2011, 2012 mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng ngành dệt may nói
chung và Tập đoàn Dệt may nói riêng vẫn duy trì mức độ tăng trưởng ổn
định, tiếp tục là ngành có kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu cả nước. Riêng Tập
đoàn Dệt may Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt 2 tỷ 6 triệu
USD, tăng 16% so với năm 2011.
• Năm 2013 là năm thắng lợi của ngành dệt may Việt Nam. Ngành đã đạt
20,023 tỷ USD giá trị xuất khẩu, hai mặt hàng chính: mặt hàng dệt và may
mặc của ngành đều đạt được mức tăng trưởng khá. Riêng Tập đoàn Dệt
may Việt Nam, năm 2013 đạt 2,915 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, tăng
11,2% so với năm 2012.
5


Như vậy, với 14,885 tỷ USD giá trị nhập khẩu chosản xuất, năm 2013
ngành dệt may Việt Nam đã xuất siêu 5,138 tỷ USD

Biểu đồ giá trị xuất khẩu may mặc của Việt Nam trong năm 2011 và 2012 ( đơn
vị: tỷ USD )
1.2 Tình hình xuất khẩu ở 1 số thị trường cụ thể:
A. Thị trường Mỹ:
Với dân số khoảng 350 triệu dân, người dân Mỹ tiêu thụ hàng may mặc khoảng
27kg/người/năm là thị trường tiềm năng đối với các nhà sản xuất hàng may mặc
Việt Nam. Tổng giá trị hàng may mặc của Việt Nam sang Mỹ là trên 55%.
Năm 2012, nhập khẩu dệt may vào thị trường Mỹ năm 2012 giảm 0,5% nhưng
nhập khẩu từ Việt Nam vẫn tăng 9,2%

chiếm khoảng 70% tổng mức tiêu thụ tại thị trường nội địa, nhưng trong thực tế
nó chỉ bằng 20% năng lực của các Doanh nghiệp trong nước. 30% còn lại là
7


hàng dệt may nước ngoài trong đó 20% là hàng dệt may Trung Quốc.
Thị trường nội địa với hơn 80 triệu dân là một thị trường hấp dẫn với các nhà
sản xuất cả trong nước và quốc tế. Mặc dù có những bước tăng trưởng lớn trong
những năm gần đây nhưng gần như mặt hàng may mặc của Việt Nam vẫn đứng
ngoài cuộc thay vào đó thì hàng may mặc của các nước như Trung Quốc, Thái
Lan bằng nhiều con đường nhập lậu, trốn thuế đang tràn lan trên thị trường Việt
Nam. Đánh trúng vào tâm lí của phần lớn khách hàng Việt giá thành thấp, đa
dạng mẫu mã chủng loại them vào đó là công tác quản lý lỏng lẻo tổ chức thị
trường không tốt đã khiến cho hàng may mặc của mình đi ra xa hơn với thị
trường mình. Thị trường may mặc nội địa đầy tiềm năng nhưng vẫn chưa được
các doanh nghiệp nước ta quan tâm đúng mức.

PHẦN II: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NGÀNH MAY MẶC Ở
VIỆT NAM

Hiện cả nước có 5.982 doanh nghiệp Dệt May. Đây là ngành đóng góp 8%
GDP và là một trong những ngành đi đầu trong xuất khẩu của Việt Nam.
Theo đánh giá chung, ngành May mặc nước ta có lực lượng lao động dồi dào, kỹ
năng và tay nghề tốt. Công nghệ và thiết bị ngành Dệt May đã được hiện đại hóa
95%, các sản phẩm may mặc có chất lượng ở phân khúc trung bình khá và có
tính cạnh tranh cao.
Tuy nhiên, công nghệ hỗ trợ ngành May mặc còn yếu, phần lớn vải và phụ kiện
may mặc còn phải phụ thuộc nguồn nhập khẩu. Đa phần còn sản xuất mô hình
gia công, giá trị gia tăng còn thấp. Trong khi đó, công tác thu thập, phân tích,
cung cấp thông tin chuyên ngành, thị trường trong nước và thế giới chưa kịp

Kim ngạch
NK hàng
271,0 426,0 449,8
may mặc,
triệu USD
Cán cân
thương mại
ngành may 5.308,0 6.760,0 8.604,6
mặc, triệu
USD

2009

2010

2011

2012

2013

7.424,6 8.335,4 8.898,6 8.929,0 9.505,3

337,3

379,8

414,0

451,3

được trình bày trong bảng sau.
Bảng: Cân đối nhu cầu đối với một số nguyên phụ liệu dệt may trong giai
đoạn 2005-2020
Mặt hàng Đơn vị

2005
Năng Nhu Nhập Năng
lực
cầu khẩu lực
Bông
1000
11
165 154
20
tấn
Sợi nhân 1000
140 140 260
tạo
tấn
Chỉ và
1000 260 510 250 350
filament
tấn
Vải
Triệu 618 2.280 1.662 1.000
m2
Nguồn: Đại sứ quán Đan Mạch tại Hà Nội

2010
2020

1.Dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu
Số liệu do báo chí công bố cho thấy, trong năm 2011, ngành dệt may đặt mục
tiêu xuất khẩu đạt tới 13 tỷ đô la, chiếm khoảng 2,5 % thị phần toàn cầu.
Hàng dệt may, thêu đan, may mặc của Việt Nam hiện đứng thứ 5 của thế giới và
phấn đấu tiến lên hàng top 3 trong những năm tới. Trong năm 2011, hàng dệt
may xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ thu về gần 7 tỷ đô la, bán sang EU
thu hơn 2 tỷ đô la và xuất qua Nhật Bản chiếm một tỷ rưỡi đô la, kim ngạch trên
một tỷ đô la còn lại là tại các thi trường khác khắp các châu lục.
Nhận định về thành quả khả quan này, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia
kinh tế độc lập phân tích:
“Ngành dệt may Việt Nam có tiến bộ rất đáng khích lệ, tốc độ tăng trưởng
nhanh, đạt doanh thu xuất khẩu trên 11 tỷ đô la, hàng dệt may có kim ngạch xuất
khẩu cao nhất, tạo được nhiều công ăn việc làm, có đóng góp cho xóa đói giảm
nghèo, đó là những thành tựu đáng ghi nhận.”
2. Trang thiết bị được nâng cấp đổi mới
Trang thiết bị của ngành may mặc đã được đổi mới và hiện đại hoá đến 90%.
Các sản phẩm đã có chất lượng ngày một tốt hơn, và được nhiều thị trường khó
tính như Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản chấp nhận.
Các doanh nghiệp dệt may đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với
nhiều nhà nhập khẩu, nhiều tập đoàn tiêu thụ lớn trên thế giới. Bản thân các
doanh nghiệp Việt Nam cũng được bạn hàng đánh giá là có lợi thế về chi phí lao
động, kỹ năng và tay nghề may tốt.
3. Những bước tiến mới
Trong những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam đã có những bước phát
triển đáng kể với tốc độ trên dưới 20%/năm, kim ngạch xuất khẩu chiếm 15%
kim ngạch xuất khẩu cả nước. Giá trị sản xuất công nghiệp của ngành may trong
năm 2007 tăng 17,9% so với năm 2006. Các sản phẩm chủ yếu đều tăng như
12



khẩu của Việt nam. Nguồn nguyên liệu cho may mặc mà chúng ta đang phải
nhập khẩu là ở các nước như: Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)… và nhiều
nhất chính là từ Trung Quốc, cả một ngành công nghiệp may mặc gần như hoàn

13


toàn chỉ phụ thuộc vào nước ngoài. Vì vậy, để sản xuất ổn định, hầu như các
doanh nghiệp ngành dệt may đều phải chấp nhận gia công cho đối tác nước
ngoài, dù lợi nhuận thấp. Bởi khi gia công, đối tác sẽ cung ứng kịp thời, đầy đủ
nguyên phụ liệu.
Giám đốc của một công ty thương mại may mặc cho biết: “Việc tìm kiếm và
nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành may đang gặp nhiều khó khăn do có sự tranh
mua nguyên liệu từ các nước chuyên gia công hàng may mặc xuất khẩu. Thêm
vào đó, các nhà cung cấp cũng lợi dụng tình trạng khan hiếm nguồn nguyên, phụ
liệu để cố tình trì hoãn việc giao hàng, nhằm đẩy giá tăng lên từ 10 đến 15%.
Điều này ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện những đơn hàng xuất khẩu đã ký kết
trước đó của các DN.
Như nhiều doanh nghiệp, đã có những lúc phải trì hoãn nhiều đơn hàng giao
cho khách vì nguồn cung nguyên liệu thiếu hụt, đây là khó khăn chung của các
doanh nghiệp may mặc chưa tìm ra cách giải quyết.” Một mặt, các ngành công
nghiệp phụ trợ kém phát triển dẫn đến hệquả là sự phụ thuộc quá mức vào nhập
khẩu cũng như làm tăng chi phí và giảmtính cạnh tranh của hàng dệt may xuất
khẩu. Mặt khác, việc thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ cũng hạn chế tác động
của việc xuất khẩu dệt may đối với các ngành kinh tế khác.
2. Lao động và nguồn nhân lực:
Mặc dù lao động Việt nam được đánh giá là chăm chỉ, có trình độ văn hóa nhất
định và có lợi thế về giá nhân công thấp, nhưng chất lượng lao động lại tương
đối thấp. Phần lớn lao động làm việc trong ngành dệt may là lao động phổ
thông chỉ được đào tạo qua các kỹ năng cơ bản như cắt may trong các khóa học

chế.
Bên cạnh đó tính hiệu quả từ việc tham gia hội chợ hay các chuyến đi thăm
ngắn ngày ở nước ngoài cũng là một vấn đề. Thực tế cho thấy thời gian thăm
viếng và khảo sát thị trường nước ngoài thường ngắn và không đủ để quảng bá
hình ảnh doanh nghiệp và tìm kiếm bạn hàng.
Ngoài ra, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng gặp nhiều khó khăn trong việc
tiếp cận các chương trình xúc tiến thương mại của nhà nước.
5. Xây dựng và quảng bá thương hiệu:
Vấn đề xây dựng và quảng bá thương hiệu đã được chú ý nhiều hơn trong
những năm gần đây thông qua việc phát triển các dòng sản phẩm cao cấp
cho thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu. Một số doanh nghiệp lớn đã
đầu tư đáng kể cho việc thiết kể mẫu mã, xây dựng và quảng bá thương hiệu
như Việt tiến, An phước, May 10. Bên cạnh việc xây dựng năng lực và
tự thiết kế sản phẩm, nhiều doanh nghiệp cũng chú ý đến việc mua lại
các thương hiệu nước ngoài theo hình thức nhượng quyền. Tuy nhiên việc
phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu vẫn là một điểm yếu của các
doanh nghiệp Việt nam đòi hỏi nhiều thời gian và nỗ lực để khắc phục.

15


6.Đa dạng mẫu mã sản phẩm:
Các sản phẩm và các thương hiệu mới được phát triển đều chưa đáp ứng
được các đặc tính của thời trang đó là sự năng động và luôn thay đổi. Các sản
phẩm thời trang nội địa từ các doanh nghiệp khác nhau cũng thiếu tính độc đáo
và do đó dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trênthị trường. Trong lĩnh vực xuất khẩu
hang may mặc,xuất khẩu của Việt Nam chỉ là những sản phẩm thong thường
như quần, áo sơ mi và jacket. Trong khi thời trang là một lĩnh vực năng động và
luôn thay đổi,mẫu mã và chủng loại, mà chủng loại sản phẩm của Việt Nam lại
ít đa dạng và chậm thay đổi.

+ Trang bị cơ sở hạ tầng, thiết bị máy móc tiên tiến công nghệ cao nhằm phục
vụ cho quá trình sản xuất…
B. Đa dạng hóa sản phẩm và thị trường
• Giữ vững và phát triển các thị trường truyền thống
Hiện nay Mỹ, EU, Nhật Bản là những thị trường trọng tâm của hoạt động xuất
khẩu hàng may mặc nước ta. Trong điều kiện kinh tế như bây giờ, giữ vững thị
phần là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp ổn định doanh thu.
Để thâm nhập sâu hơn vào các thị trường quốc tế, ngành may mặc cần lưu ý
nhìn nhận góc độ “cầu” về sức mua, thị hiếu, tính đa dạng, phân đoạn thị
trường…trong đó quan trọng nhất là nhận thức và khả năng thích ứng. Ví dụ
như thị trường EU : yêu cầu về mẫu mốt, kiểu dáng thay đổi nhanh, đặc biệt là
hàng may mặc, sở thích và thói quen tiêu dùng nhanh chóng thay đổi cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ. Vì vậy các doanh nghiệp cần
tích cực thu thập thông tin, đúc rút ra kinh nghiệm cả ở trong nước và quốc tế để
ổn định sản xuất lại.
• Tìm kiếm thị trường mới
Khi Việt Nam gia nhập WTO các rào cản thương mại sẽ được xóa bỏ, cơ hội để
các doanh nghiệp may mặc tìm kiếm và mở rộng các thị trường mới là rất thuận
lợi. Vì vậy chúng ta cần tích cực thăm dò nghiên cứu thông tin để chuẩn bị cho
quá trình xâm nhập, phát triển tại các thị trường mới.
2. Tạo ra mức giá cạnh tranh
Hiện nay khi tham gia thị trường thế giới 1 hạn chế của chúng ta đó là giá sản
phẩm còn cao, năng lực cạnh tranh yếu. Vì vậy bên cạnh việc nâng cao chất
lượng sản phẩm chúng ta cũng cần chú trọng việc đặt mức giá cho mỗi sản phẩm
xuất ra thị trường. Để làm tốt công tác này ta nên thực hiện 1 số biện pháp sau :
A. Xây dựng chiến lược giá cả hợp lý
Để có 1 chiến lược giá cả hợp lý, cần phải căn cứ vào chi phí sản xuất sản phẩm,
17



của doanh nghiệp được quảng bá rộng khắp hơn, có thể tìm được những đối tác
lớn với những hợp đồng xuất khẩu có giá trị lớn…
18


B. Nâng cao hiệu quả công tac nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là một yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp bởi đây
là khâu nghiên cứu khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường từ đó nâng cao
khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Do vậy các doanh nghiệp May Mặc cần nắm
bắt được nhu cầu, đặc điểm của thị trường đồng thời phân tích đối thủ cạnh
tranh 1 cách rõ ràng để xác định được sức cạnh tranh của đối thủ. Bên cạnh đó
cũng cần nghiên cứu khách hàng, hiểu được mong muốn của họ để phát triển sản
phẩm theo hướng tốt hơn.
4. Nâng cao hiệu quả họat động của bộ máy tổ chức, chất lượng nguồn nhân
lực:
Đây là một trong những giải pháp hữu hiệu góp phần thúc đẩy xuất khẩu của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có sự sắp xếp, phân công công việc một cách
hợp lý giữa các bộ phận phòng ban, giữa các cá nhân. Mỗi bộ phận, phòng ban,
mỗi cá nhân đảm nhiệm những nhiệm vụ cụ thể. Các nhiệm vụ đó được chia
càng nhỏ càng tốt. Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần tập thể của tất cả
các cá nhân, xây dựng tác phong làm việc công nghiệp, hiện đại trong toàn
doanh nghiệp.
Đồng thời, tăng cường công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đối với
cán bộ quản lý, nâng cao kiến thức và khả năng làm việc, nhất là những cán bộ
liên quan trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Nâng cao trình độ, tay nghề của
công nhân, những đối tượng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.
Để làm được điều này, doanh nghiệp phải làm tốt ngay từ khâu lựa chọn, tuyển
dụng kết hợp với việc tổ chức các chương trình đào tạo, các cuộc thi tay nghề
trong quá trình sản xuất. Có những chính sách khuyến khích khả năng sáng tạo
của cán bộ, công nhân viên. Nhờ thế, năng suất lao động sẽ tăng lên, góp phần

hữu quan nghiên cứu để ban hành biểu phân loại mã số hàng xuất khẩu phù hợp
với tiến trình đổi mới nền kinh tế đất nước trong thời kỳ hội nhập.
C. Tăng cường cung cấp thông tin khoa học công nghệ về May mặc
Trong quá trình sản xuất kinh doanh các DN thường thiếu thông tin về công
20


nghệ và thị trường công nghệ, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản
xuất. Vì vậy Nhà nước phải có các dự án nhằm cung cấp các thông tin cho
doanh nghiệp.

Tiểu kết : trên đây là 1 số giải pháp cơ bản vừa có ý nghĩa trước mắt vừa có
ý nghĩa lâu dài nhằm khắc phục những hạn chế và thúc đẩy phát triển thị
trường may mặc nước ta.

21


KẾT LUẬN
Xu hướng quốc tế hoá nền sản xuất và sự dịch chuyển trong sản xuất hàng may
mặc từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển đang tạo ra nhiều cơ
hội thuận lợi để maymặc Việt Nam phát triển. Nhiều công ty may mặc đã phát
triển thành những DN có uy tín trên thị trường nội địa và quốc tế như : May 10,
Viettien...May mặc cũng là ngành thu hút đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài,
tạo việc làm cho một số lượng lớn lao động, đóng góp lớn vào sự tăng trưởng
của kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, ngành may mặc nước ta cũng đang đứng trước nhiều khó khăn,
thách thức hết sức khắc nghiệt. Yêu cầu hội nhập buộc các sản phẩm may mặc
Việt Nam phải cạnh tranh một cách khốc liệt và sòng phẳng với các “cường
quốc” dệt may trong khu vực và thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan,…

thảo luận
Số
buổi
họp
nhóm

1

Nguyễn Thị
Thùy Dung

13D110077

13D110009

2

Trần Thị
Phương
Dung

3

Nguyễn
Tiến Dũng

13D250205

4


nhóm
chấm


tên

Ghi chú


Giang
6

Nguyễn
Minh Giang

13D110012

7

Nguyễn Thị


13D11018
1

8

Nguyễn Thị
Thu Hà



Vũ Thị Hoài 13D250151

14

Đặng Huy
Hoàng

13D250213

15

Khúc Thị
Huệ

13D110159

16

Nguyễn Thị
Huệ

13D250303

17

Lý Thị Thu
Huyền

13D250305

22

Nguyễn Thị
Hương

13D250018

23

Đặng Thúy
Hường

13D250220

24

Trần Thị
Lan

13D250221

Hà nội, ngày

Xác nhận của thư ký

tháng năm 2014

Xác nhận của nhóm trưởng

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status