Sử dụng kiến thức liên môn giáo dục học sinh kiến thức về môi trường, ý thức bảo vệ môi trường và một số biện pháp giảm thiểu rủi ro do môi trường gây ra” - Pdf 35

1
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Thực hiện theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung
ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013) về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế. Trong đó, đối với giáo dục phổ thông là: tập trung phát triển trí tuệ, thể
chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng
khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ,
tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Trong những nhiệm vụ của giáo dục phổ thông, thì đối với giáo viên tại
cơ sở cần coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Đặc biệt, cần
xây dựng chuẩn hóa nội dung giáo dục theo hướng hiện đại, tinh gọn, đảm bảo
chất lượng, tích hợp cao ở các lớp học phổ thông, giảm số môn học bắt buộc,
tăng môn học tự chọn, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn; Đổi mới căn bản
hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo,
đảm bảo trung thực khách quan ....
Ngày nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, từ các tổ chức chính
phủ đến phi chính phủ, các cơ quan ban ngành... đều có những chương trình
hành động, có các cuộc thi tìm hiểu, cuộc thi sáng tạo ý tưởng hay các phong
trào thi đua, các cuộc vận động ... về bảo vệ môi trường, về bảo vệ nguồn nước.
Nhưng trên thực tế, thế hệ học sinh của các cơ sở giáo dục phổ thông, đã thực sự
hành động về môi trường, có được tất cả các em hiểu được rằng bảo vệ môi
trường là bảo vệ chính cuộc sống của các em, mỗi hành động của các em, của
gia đình các em là đều có tác động, ảnh hưởng đến môi trường.
Sản phẩm các cơ sở giáo dục là con người và chất lượng của sản phẩm
này được thể hiện qua kết quả của kỳ thi, kiểm tra đánh giá; qua năng lực và ý
thức của bản thân, kỹ năng tuyên truyền và tạo được niềm tin.
Với những mục tiêu và thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Sử dụng kiến thức liên môn giáo dục học sinh kiến thức về môi trường, ý thức

-Từ tháng 9/2002 đến nay, tác giả đã có hơn mười năm làm công tác giáo
viên chủ nhiệm, giảng dạy, phụ trách chuyên môn của nhóm, hiểu biết kế hoạch
chuyên môn của các cấp, nhiệm vụ của nhà trường, nên kiến thức đưa ra trong
đề tài phù hợp với kiến thức và tâm lí của các em.
Tác giả cam đoan: Đề tài là kết quả nghiên cứu của riêng tác giả, những
thông tin đưa ra trong đề tài đều có cơ sở khoa học và đã được kiểm chứng, giải
pháp giúp học sinh hiểu biết về kiến thức môi trường phù hợp với tâm lý lứa


3
tuổi học sinh, kích thích được học sinh tìm tòi nghiên cứu khoa học, có niềm tin
vào khoa học, tạo nhân tố quan trọng tuyên truyền tới gia đình, người thân, và
cộng đồng dân cư nơi sinh sống, đem lại hiệu quả thiết thực trong công tác giáo
dục.
2. Đối với học sinh:
Học sinh không cảm thấy nhàm chán khi học các môn học tự nhiên hay
xã hội, được hiểu biết hơn các kiến thức về tự nhiên về xã hội, nhận thức sâu sắc
được được vai trò giáo dục trong nhà trường, kiến thức môn học trên lớp đến
thực tiễn cuộc sống, có nhận thức và niềm tin vào việc một hành động nhỏ của
bản thân cũng sẽ là một tác động lớn đến môi trường, qua đó tự tin tuyên truyền
cộng đồng cùng chung tay bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên,
nguồn nước.
Học sinh được trang bị kỹ lưỡng kiến thức cơ bản và kỹ năng tốt cho các
kỳ thi tuyển sinh, phát triển năng lực bản thân, khả năng tư duy sáng tạo chuẩn
bị tốt cho kỳ kiểm tra, thi tuyển mà tiến tới là các câu hỏi không phải là một bài
toán cụ thể, ở đó các câu hỏi sẽ tập trung vào: đánh giá năng lực của học sinh
qua hiểu biết, ứng dụng sáng tạo về các bộ môn học.

III. CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH
Giải pháp 1: Sử dụng kiến thức môn Lịch sử

+ Môn Ngoại ngữ, giúp học sinh hiểu được ý nghĩa thực tiễn của
các tên, từ viết tắt khoa học, các đại lượng, đơn vị thường dùng
...
Giải pháp 3: Tích hợp, lồng ghép phần kiến thức liên quan trong bài
giảng vật lý, ví dụ như: khi dạy bài phóng xạ (Vật lí 12) tích hợp kiến thức về
đồng vị hạt nhân; hay dạy bài phản ứng hạt nhân (Vật lí 12) tích hợp kiến thức
về an toàn hạt nhân....; Phải xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cụ thể, chi tiết
cho từng bài, tránh tình trạng rời rạc, tản mạn trong kiến thức của học sinh, tính
hệ thống tri thức theo kế hoạch đó sẽ giúp học sinh hiểu được bản chất hiện
tượng, tạo cho các em niềm tin, nâng cao tầm nhận thức có ý thức bảo vệ môi
trường, hướng kiến thức tiếp nhận được phân tích, tìm ra quy luật, bản chất giải
thích thực tiễn.


5
Giải pháp 4: Nêu ra kết quả thực trạng của từng sự kiện, nội dung..., từ
đó nêu ra giải pháp hành động của mỗi cá nhân chúng ta để nhằm giảm thiểu
những rủi ro do môi trường gây ra.
Giải pháp 5: Xây dựng ý thức giáo dục, tuyên truyền, để mỗi cá nhân
đều phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên
nhiên, tuyên truyền đến những người xung quanh còn hạn chế về hiểu biết: tác
hại của việc tàn phá môi trường và khai tác lãng phí nguồn tài nguyên thiên
nhiên, đồng thời phải có trách nhiệm cao bảo vệ môi trường và nguồn tài
nguyên thiên nhiên, việc làm đó là chính bảo vệ cuộc sống của mỗi chúng ta.
Những nội dung cụ thể,


6
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU


7
Môi trường, nguồn nước ô nhiễm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
cuộc sống của chúng ta, trong đề tài này tác giả còn đề cập đến an toàn phóng xạ
và đặc biệt đồng vị hạt nhân trong môi trường sống, những ảnh hưởng của nó
đến môi trường và cụ thể là bệnh ung thư, đã gây ra những hậu quả vô cùng to
lớn, và ngày nay vẫn là những hiểm họa nguy hiểm đang làm nhức nhối cho bất
cứ một chế độ, một xã hội nào.
Đề tài là cơ sở để khẳng định kiến thức học sinh học được ở nhà trường
và thực tiễn luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, làm niềm tin tưởng tạo đà
cho học sinh nghiên cứu khoa học vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực
tiễn, và thay cho việc chỉ nói là phải hành động.


8
CHƯƠNG II
ĐỒNG VỊ HẠT NHÂN
VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN NƯỚC
2.1. SỰ KIỆN LỊCH SỬ:
Trong những năm gần đây con người đã chứng kiến những hệ lụy tàn
khốc của các thảm họa thiên nhiên với những tần suất, quy mô và phạm vi ảnh
hưởng chưa từng có, do sự biến đổi khí hậu. Có thể kể đến những trận lụt lịch sử
ở Thái Lan năm 2011 và 2012, ở châu Âu năm 2013, hạn hán tại Trung Quốc
năm 2014 và đợt nóng kỷ lục đang diễn ra ở Ấn Độ. Ở Việt Nam, tại tỉnh Bến
Tre nước mặn cũng đã xâm nhập sâu vào trong các con sông, tại các xã ven biển
khu vực Hải Hậu, Nam Định mạch nước ngầm hạ thấp hàng trục mét ảnh hưởng
nghiêm trọng đến cuộc sống của trăm ngìn người nông dân.
Thế giới, các quốc gia, tổ chức xã hội đang nỗ lực kêu gọi con người hãy
bảo vệ trái đất bằng các hành động thiết thực trong sản xuất, tiêu dung, có các
ngày cụ thể cho các hoạt động này,

86

Rn


10
14
2.2.1. Đồng vị phóng xạ 6 C
14
* Nguồn gốc của đồng vị phóng xạ 6 C
14

Đồng vị 6 C được sinh ra trong vùng giữa tầng bình lưu và tầng đối lưu
do phản ứng hạt nhân của nơtron thứ cấp trong vũ trụ với hạt nhân nitơ:
14
7

N + 01n → 146 C + 11 p

(2.1)

14

14

Nguyên tử 6 C bị ôxi hóa tạo thành phân tử khí cacbonic ( CO2 ). Các
14
14
phân tử khí CO2 này sẽ trộn với các phân tử khí CO2 không phóng xạ đi vào
môi trường nước theo các quá trình với hàm lượng phần trăm các bon hiện đại

100%
Sói mòn/Sa lắng

trong đất
0%
100%

Nước ngầm
TDIC 65-85%

Hình 2. Sơ đồ biểu diễn nguồn gốc 14C trong nước ngầm [5]
* Phương pháp xác định tuổi của nước ngầm bằng việc xác định tuổi
của đồng vị 14C
Đồng vị 14C phân rã phóng xạ theo phương trình sau:


11
14

C → 14 N + β −

(2.2)

Chu kỳ bán rã của 14C là T1/2 =5730 năm (trong phép tính toán sai số ±40

năm), năng lượng lớn nhất của bức xạ β là 156keV. Xác định độ phóng xạ của


14
C qua việc đo bức xạ của β . Theo phương trình (1.2) một bức xạ β ghi

0,12Bq).
Nguồn gốc của triti trong nước
Đồng vị triti trong nước có hai nguồn gốc: Tự nhiên và nhân tạo
* Triti có nguồn gốc tự nhiên: Cũng được tạo ra từ hai nguyên nhân
-Thứ nhất: do tương tác của nơtron được tạo ra từ tia vũ trụ, ở tầng trên
của khí quyển với hạt nhân Nitơ theo phản ứng:
1
0

n + 147 N → 126 C + 13 H

(2.6.)

Tốc độ của phản ứng trong phương trình (2.6) trong bầu khí quyển của
3
trái đất cỡ 0,25/nguyên tử/cm 3/s. Đồng vị triti ( 1 H ) được hình thành bị Ôxi hóa
bởi Oxi của tầng bình lưu để tạo thành nước theo phương trình:
3
1

H + O2 → 1H 3HO

(2.7)


12
Triti phân rã phóng xạ tạo thành đồng vị của alpha
3
1


3

* Triti ( 1 H ) có nguồn gốc nhân tạo:
Thí nghiệm về phản ứng tổng hợp các hạt nhân nhẹ
2
1

H + 12 H → 13 H + 01n

(2.10)
235

Năng lượng kích hoạt lấy từ phản ứng phân hạch 92U trên thiết bị có tên
là George được tiến hành thành công vào ngày 01 tháng 11 năm 1952, cũng
chính từ thí nghiệm này mà bom nhiêt hạch đã ra đời. Sau đó nhiều vụ thử vũ
3
khí hạt nhân loại này xảy ra làm cho hàm lượng 1 H tăng lên vài lần vào đầu
những năm 1960, và đỉnh điểm cao nhất vào năm 1963, các phép đo này có độ
tin cậy cao được Cơ quan năng lượng quốc tế IAEA công bố [7].
3
* Ứng dụng đồng vị 1 H đối với bài toán nước ngầm
3

Vì hàm lượng đồng vị 1 H nguồn gốc tự nhiên tạo ra rất thấp, nên người ta
3
sử dụng triti có nguồn gốc nhân tạo “Bom hạt nhân”, lấy “đỉnh” hàm lượng 1 H
năm 1963 để giải quyết bài toán về nước ngầm [5], [7].
2.2.3. Đồng vị phóng xạ Radon
Radon ( 8622 Rn ) là khí phóng xạ duy nhất nằm trong dãy phân rã phóng xạ
226

Vùng chứa nước, do sự phân rã của radi nên hàm lượng khí radon sẽ tăng
dần theo định luật về
phóng
Tầng
chứaxạ:nước
N t = N bh − N bh e − λt = N bh (1 − e − λt )

Trong đó:

(2.11)

Nt hàm lượng khí radon ở thời điểm t;
Nbh hàm lượng khí radon trong nước ngầm ở thời điểm

bão hòa;
λ hằng số phân rã của radon.

Theo hướng dòng chảy, nếu có một số lỗ khoan có thể quan trắc được
hàm lượng khí radon, thì thời gian lưu của nước ngầm sẽ được xác định theo
công thức


14
t=−

1 N bh − N t
ln
λ
N bh


vốn ODA của Chính phủ CHLB Đức “Tăng cường năng lực quy hoạch và điều


15
tra nước ngầm tại các khu đô thị Việt Nam” do Trung tâm QH & ĐTTNN
(CWRPI) và Viện Liên bang Khoa học Địa chất và Tài nguyên thiên nhiên
CHLB Đức (BGR) thực hiện. Đó là các xã Yên Chính (huyện Ý Yên), Mỹ
Thịnh (huyện Mỹ Lộc), Điền Xá, Bình Minh (huyện Nam Trực), Phương Định
(huyện Trực Ninh), Giao Xuân, Giao Yến (huyện Giao Thủy), Hải Bắc, Hải
Giang (huyện Hải Hậu) và Nghĩa Thành (huyện Nghĩa Hưng). Mỗi điểm quan
trắc có 1 đến 3 công trình quan trắc. Các công trình quan trắc chủ yếu vào tầng
chứa nước Holocen, Pleistocen và Neogen [4, 5].
Các kết quả quan trắc đã chỉ ra rằng, tình trạng khai thác và sử dụng nước
ngầm ở Nam Định đang tiềm ẩn nhiều yếu tố không bền vững. Đó là hiện tượng
nhiễm bẩn do nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và nước thải làng
nghề. Cũng trong quá trình khảo sát thực tế, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra,
ở nhiều địa phương của tỉnh Nam Định xuất hiện tình trạng khai thác quá mức
nước ngầm dưới độ sâu trên 100m dẫn đến tình trạng hạ thấp mực nước ngầm
và đã có hiện tượng nhiễm mặn trong nước ngầm tại huyện Giao Thủy và Hải
Hậu...
Các chuyên gia và cố vấn của dự án đã kết luận hiện tượng suy thoái nước
ngầm chỉ có thể được ngăn chặn nếu việc khai thác nước ngầm được duy trì ở
mức ổn định.
Đối với hiện tượng nhiễm mặn, phân tích của các chuyên gia đã đi đến
thống nhất phương pháp cân bằng nước cho tầng chứa nước dưới sâu. Theo đó,
khoảng 42% lượng nước khai thác được thay thế bởi nước ngầm nhạt từ tầng
chứa nước phía dưới và từ ranh giới phía Tây tỉnh Nam Định. 22% lượng nước
khai thác được thay thế bởi nước ngầm từ biển và 36% lượng nước khai thác
được thay thế bởi nước ngầm lợ/mặn từ tầng chứa nước phía trên mặt và từ ranh
giới phía Đông Bắc.

gia cầm, nuôi thủy sản; đảm bảo tiêu úng cho diện tích đất phía trong đê của
tỉnh, tập trung tiêu cho các vùng thấp khó tiêu và hỗ trợ một phần diện tích
ngoài đê. Tạo nguồn cấp nước sinh hoạt khoảng 1,8 triệu dân, các KCN tập
trung và các cơ sở sản xuất TTCN trong vùng. Duy trì dòng chảy trên các sông
trục trong hệ thống, góp phần giảm thiểu ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước, cải
thiện môi trường sinh thái.
2.4.3. Nghiên cứu, điều tra của tác giả tại TT. Thịnh Long huyện Hải
Hậu
2.4.3.1. Đặc điểm địa lí của khu vực thị trấn Thịnh Long


17
- Bản đồ huyện Hải Hậu (thị trấn Thịnh Long)

Hình 4. Bản đồ huyện Hải Hậu
-Tổng diện tích là:

1568ha;

- Dân số khoảng:

16230 người;

- Số hộ gia đình:

4800 hộ.

Phía tây của thị trấn tiếp giáp với sông Ninh cơ, phía Nam và Đông Nam
tiếp giáp với biển, phía Bắc giáp với Hải Châu, phía Đông và Đông Bắc tiếp
giáp Hải Hòa. Phủ khắp thị trấn là hệ thống ao hồ dày đặc, do kế hoạch phát

sông) sang nước ngầm thông qua việc khai thác từ các giếng khoan với một số
lượng lớn khoảng 30.000m3/ngày.
- Tại ven biển ta có thể thiết lập phương trình điều kiện cân bằng thủy
tĩnh giữa nước nhạt và nước mặn như sau:

1, 0( H + h) = 1, 024 H
⇒ H = 42h

(4.1)


19
+ Với: h là chiều cao của lớp nước nhạt, kể từ mặt nước nhạt đến
mặt nước biển; H chiều sâu mặt nước biển đến ranh giới giữa mặt nước mặn và
nước nhạt; 1,024 và 1,0 là tỉ trọng trung bình của nước biển và nước nhạt;
+ Ta suy ra được biên mặn nhạt ở ven biển là một đường bán
parabol nằm trong góc phần tư thứ nhất;
Thịnh Long nằm trên vùng trầm tích bở rời có nguồn gốc đất bồi và
nguồn gốc biển, qua khảo sát chi tiết nước bùn tại 30 giếng bắt đầu khoan sâu
145m từ mặt đất trải đều khắp thị trấn, lớp trầm tích này có chiều dày 100150m, lớp trầm tích này chứa một lượng lớn nước ngầm, là nguồn cung cấp
nước chính cho tất cả các giếng khoan của thị trấn; phía trên được phủ bởi lớp
cát, phù sa và sét dày đến gần 100m.
Khí hậu trong thị trấn, đặc trưng là hai mùa rõ rệt, mùa mưa nóng từ
tháng 5 đến tháng 10 dương lịch; mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4. Nhiệt
độ trung bình hàng năm vào mùa mưa là 30 0C và trong mùa khô là 150C. Lượng
mưa hàng năm trung bình dao động trong khoảng 2110mm, lượng nước bay hơi
trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1215mm. Lượng nước bổ cấp trong
vùng thành một dải đồng đều, và bị hạn chế bởi thủy triều rút, vào mùa khô
lượng bay hơi vượt quá lượng mưa.
Thịnh Long, cũng như Nam Định nói chung nằm trong vùng đồng bằng

suất của vỏ trái đất.
+ Ngoài ra, cũng theo những nghiên cứu [2, 4, 5, 8, 15 ] dấu hiệu ô
nhiễm đối với các chỉ tiêu về chỉ số ôxy hoá chất hữu cơ trong nước (COD); chỉ
số về mức độ ôxy hoá trong nước (BOD), Clorua, Amoni; nguồn nước ngầm tại
các Nguyên nhân dẫn đến các yếu tố gây tác động xấu đến nước ngầm là do từ
nhiều năm nay, các hộ dân khai thác nguồn nước ngầm không theo quy hoạch,
các giếng khoan được thực hiện tự phát, việc thay thế các giếng hỏng cũng rất
tuỳ tiện, bừa bãi, không có sự quản lý của địa phương. Nhiều giếng khoan đã
khai thác xong hoặc không sử dụng không được san lấp đúng quy định, tạo
thành những đường dẫn các chất ô nhiễm trên bề mặt xâm nhập vào lòng đất,
làm suy thoái chất lượng nước ngầm. Bên cạnh đó, công tác bảo vệ môi trường
theo quy định chưa được thực hiện nghiêm túc khiến nước ngầm có nhiều nguy
cơ bị ô nhiễm từ các tác động khách quan như: chất thải tồn lưu tại các bãi chứa
rác chưa được xử lý ô nhiễm triệt để; tình trạng ô nhiễm nước mặt cũng gây ô
nhiễm nước ngầm qua các đường mao mạch trong đất…
2.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG II VÀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC


21
- Bằng cơ sở lý thuyết, kết hợp những kết quả nghiên cứu được các nhà
khoa đã được công bố, xác định được mô hình dòng chảy của nước ngầm, sự bổ
cấp nước ngầm từ nước bề mặt; tuổi của nước ngầm có niên đại vào khoảng
300-400 năm, nước ngầm được bổ cấp khoảng 20 năm (điều này dễ dàng giải
thích cho hiện tượng vào mùa hè 2014 và 2015 tại thị trấn Thịnh Long: mưa
nhiều, triều cường lớn, nước sông Ninh cơ dâng cao nhưng một loạt các giếng
bơm bị tụt nước, phải mồi nước thì mới bơm hút được nước);
- Vùng chứa nước ngầm khu vực thị trấn Thịnh Long nói riêng và khu
vực Hà Nội nói chung [5] nói chung thuộc loại động thái bị phá hủy mạnh;
- Môi trường ô nhiễm, đặc biệt là các cơ sở sản xuất nước thải không qua
xử lý đang làm nhiễm bẩn nguồn nước nghiêm trọng;

cơ sở giáo dục phổ thông nên có các phong trào thi đua, cuộc thi tìm hiểu về
môi trường, nguồn nước, tổ chức các trò chơi liên quan đến các hoạt động này,
để hằn sâu trong tiềm thức của mỗi học sinh phải có ý thức, trách nhiệm về việc
làm này.


23

Hình 5. Một số hình ảnh về các hoạt động tuyên
truyền bảo vệ nguồn nước


24
CHƯƠNG III
PHÒNG TRÁNH PHÓNG XẠ VÀ AN TOÀN HẠT NHÂN
3.1. TẢN MẠN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÓNG XẠ ĐẾN MÔI TRƯỜNG
Nếu như là ô nhiễm môi trường, như những đồ rác thải ra môi trường ví
dụ trong (hình 6) ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của chúng ta, mắt chúng ta
còn quan sát thấy được, thì cũng còn có những loại bụi bẩn, cặn bã ví chúng như
những “Bóng ma” mắt chúng ta không nhìn thấy ảnh hưởng nghiêm trọng đến
môi trường sống, nó gây ra những hậu quả, tác hại vô cùng to lớn và khủng
khiếp cho cuộc sống con người, cho thế hệ tương lai, đó là nhiễm bẩn “phóng
xạ”

Hình 6. Rác thải làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường
Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên "Little
Boy" đã được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản. Sau đó 3 hôm, ngày 9
tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên "Fat Man" đã phát nổ trên bầu
trời thành phố Nagasaki. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima đã chết
bởi vụ nổ cũng như bởi hậu quả của nó. Số người thiệt mạng ở Nagasaki là

xuống cấp. Chính quyền Ukraine sẽ xây vỏ bọc mới bằng thép, hình mái vòm
với chiều cao 105 m, chiều dài 150 m và chiều rộng 260 m quanh lò phản ứng
số 4. Lớp vỏ bọc mới sẽ tồn tại khoảng 100 năm và chi phí xây dựng nó vào
khoảng 1,3 tỷ Euro. Người ta gọi vỏ bọc mới là "quan tài đá". Theo kế hoạch,
quá trình xây dựng nó bắt đầu từ năm 2010 và sẽ kết thúc vào năm 2015.
(hinh7) [ 14, 15].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status