Nghiên cứu tình hình bảo tồn và phát triển làng nghề sản xuất tương truyền thống tại huyện nam đàn, tỉnh nghệ an - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu trong bài báo cáo này hoàn toàn trung
thực và kết quả nghiên cứu chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho quá trình thực hiện báo cáo đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong báo cáo này được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Sinh viên

Nguyễn Thị Bắc

LỜI CẢM ƠN


Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được
sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân. Nhân đây tôi xin
bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
Tập thể các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã
tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo PGS.TS Mai Thanh Cúc - người
đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Nam Đàn, Phòng nông nghiệp
huyện Nam Đàn đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu
tại cơ sở, bà con trong hai xã Hùng Tiến,, xã Vân Diên, và thị trấn Nam Đàn đã
giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin để nghiên cứu để hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã chia sẻ, giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của
mình.
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các
tập thể và cá nhân đã dành cho tôi.


Hiện đại hóa

HTX

Hợp tác xã

KHCN

Khoa học công nghệ

MT

Môi trường

SL

Số lượng

TTCN

Tiểu thủ công nghiệp

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thong

VENN; thu thập các số liệu thứ cấp trên các sách, báo cáo, tạp chí…kết hợp với
phương pháp phỏng vấn trực tiếp 60 hộ nông dân ở hai xã Hùng Tiến , Vân Diên
và mọtt thị trấn trên địa bàn huyện qua mẫu bảng hỏi soạn sẵn, các mục tiêu đã
được thực hiện trên nền tảng là các nghiên cứu về lý luận, thực tiễn tại huyện
Nam Đàn.
Qua quá trình tìm hiểu, tôi đã thu được một số kết quả sau:
Tương là sản phẩm truyền thống của người dân huyện Nam Đàn. Có đến
95 % người dân sử dụng tương trong các bữa ăn. Làng nghề làm tương Nam
Đàn giữ một vai trò quan trọng trong nông thôn, trước hết là nhằm giải quyết
mục tiêu kinh tế sử dụng đầu vào có sẵn, tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho
người lao động, thu hút lao động ở địa phương và lân cận, thu hút vốn cho sản
xuất làng nghề, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông thôn, nâng cao thu nhập dân


cư, thu hẹp khoảng cách đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa nông nghiệp
và công nghiệp, hạn chế di dân thúc đẩy cơ sở hạ tầng nông thôn, giũ gìn văn
hóa bản sắc dân tộc.
Tuy nhiên, tình hình bảo tồn và phát triển làng nghề tương Nam
Đàn hiện nay bên cạnh những kết quả đạt được như giữ đúng quy trình sản xuất,
phục tráng lại được nguồn nguyên liệu là giống đậu tương địa phương, quy mô
sản xuất tăng lên đáng kể… thì còn có một số tồn tại, khó khăn thách thức cần
giải quyết. Như mặt bằng của các hộ nơi sản xuất vừa là nơi ở vừa là nơi sản
xuất. Nguyên liệu đầu vào chủ yếu là đậu tương xuân gốc Nam Đàn con thiếu
trầm trọng mặc dù tỉnh và huyện cũng đã có nhiều dự án phục tráng lại loại
giống quý này. Trong khi thị trường tiêu thụ vẫn chưa thực sự ổn định, năng lực
quản lý và cơ cấu tổ chức của hội làng nghề còn hạn chế. Ô nhiễm môi trường
do làng nghề để lạị chưa khắc phục được triệt để.
Vì vậy, phương hướng bảo tồn và phát triển làng nghề trong thời gian tới
là khôi phục và duy trì ở mức độ nhất định làng nghề sản phẩm truyền thống
mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, đẩy mạnh phát triển làng nghề mà sản phẩm

tương hàng hóa nhiều hơn nữa, tăng nhanh sản lượng và doanh thu cho người
sản xuất. Nên gom các hộ sản xuất tương hàng hóa lại theo hướng tập trung để
dễ dàng đầu tư phát triển và quản lý chất lượng đầu ra sản phẩm. Cần nghiên
cứu xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm qua việc mở hội chợ trên các
phương tiện trên thông tin đại chúng nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
khắp nước, và cần tới những nghiên cứu sâu hơn về sản phẩm tương Nam Đàn
để đánh giá về vệ sinh an toàn thực phẩm, đưa ra được quy trình chuẩn đạt chất
lượng cao nhất. Xây dựng các phương án khả thi hơn nữa để đưa sản phẩm
tương từ sản xuất nhỏ lẻ manh mún thành sản xuất có quy mô lớn hơn.


PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, khi nước ta chuyển đổi cơ chế quản kế hoạch
hóa tập trung sang cơ chế thị trường, mọi lĩnh vực hoạt động được khơi
dậy có đóng góp tích cực vào mức tăng trưởng của nền kinh tế. Trong dòng chảy
chung đó có sự phát triển của hoạt động nghành nghề ở khu vực nông thôn, nơi
có gần 80% dân số đang sinh sống.
Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cư sống ở vùng nông
thôn đều có hoạt động thêm nghành nghề phụ, với mục đích ban đầu sản xuất ra
phục vụ cho nhu cầu trong đời sống của hộ gia đình mang tính chất tự cung tự
cấp. Nhưng qua một quá trình dài phát triển do có sự khác nhau về tay nghề và
kinh nghiệm tích luỹ được ở từng địa phương nhất định đã có sự chuyên môn
hoá và các sản phẩm làm ra bắt đầu đưa ra thị trường trao đổi như những loại
hàng hoá.
Trên thế giới cũng như Việt Nam đang tồn tại rất nhiều làng nghề truyền
thống. Làng nghề giữ một vai trò rất quan trọng trong nông thôn, trước hết nhằm
giải quyết các mục tiêu kinh tế sử dụng đầu vào có sẵn, tạo công ăn việc làm
tăng thu nhập cho người lao động, thu hút lao động ở địa phương và các vùng
lân cận, thu hút vốn cho sản xuất ở làng nghề, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh



1.2 Mục đích nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung:
Nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát triển làng nghề tương Nam Đàn,
các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển làng nghề, từ đó đề xuất một số
giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề tương Nam Đàn.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
• Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về vấn đề bảo tồn
và phát triển làng nghề truyền thống.
• Đánh giá thực trạng bảo tồn và phát triển làng nghề tương Nam Đàn, và
các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển làng nghề tương Nam Đàn.
• Đề xuất các định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát triển
làng nghề tương truyền thống trong thời gian tới tại huyện Nam Đàn,tỉnh Nghệ
An.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ sản xuất trong làng nghề tương Nam Đàn, các bên liên quan đến
việc bảo tồn và phát triển làng nghề tương.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi nội dung : Nghiên cứu về bảo tồn và phát triển làng nghề tương
theo góc nhìn của nhà quản lý


Phạm vi không gian: Các hộ gia đình sản xuất tương trên địa bàn 2

Xã Hùng Tiến, Vân Diên, và Thị Trấn Nam Đàn trên địa bàn huyện Nam Đàn.
• Thời gian : Lấy số liệu qua 3 năm: 2007, 2008, 2009. Thời gian nghiên
cứu: 20/2/2010 đến 1/5/2010


Theo quy định tạm thời của cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề
nông thôn (cơ quan trực thuộc bộ nông nghiệp giao nhiệm vụ quản lý nhà nước
về lĩnh vực này) thì :
Làng nghề là làng ở nông thôn có nghành nghề phi nông nghiệp phát triển
tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của người
dân trong làng. Về mặt định lượng, làng nghề là làng có từ 35- 40 % số hộ trở
lên có tham gia hoạt động nghành nghề và có thể sống bằng chính nguồn thu
nhập từ nghành nghề và giá trij sản lượng của nghành nghề chiếm trên 50 %
tổng giá trị sản lượng của địa phương. Vì vậy , khái niệm làng nghề cần được
hiểu là những làng ở nông thôn có nghành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế
về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông.
2.1.1.2 Khái niệm về làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống trước hết làlàng nghề được tồn tại và phát triển
lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền
thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ các lành nghề, là nơi có nhiều hộ
gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ
nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt là các
thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc [13].
2.1.1.3 Khái niệm về làng nghề tương Nam Đàn
Từ hàng ngàn năm nay nhân dân ta đã dùng đậu tương để chế biến ra
nhiều loại thức ăn mà phổ biến là tương.Tương là một loại nước chấm khá phổ
biến ở Việt Nam và nhiều người Đông Nam Á cũng ăn tương. Tương được làm
từ các nguyên liệu thực vật giàu đạm, đặc biệt là từ đậu tương nên giá trị dinh
dưỡng của nó rất cao, vừa ngon vừa rẻ. Các cụ thường nói “ Tương cà là gia
bản”.
Làm tương Nam Đàn đòi hỏi phải có sự công phu và tỉ mỉ không phải ai
cũng có thể thành công, một chum tương ngon đúng hương vị của tương Nam
Đàn thường chỉ do người già sinh ra và lớn lên ở Nam Đàn mới có thể làm được.



2.1.1.4.1 Đặc điểm của làng nghề
Cùng với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và quá trình phát
triển đô thị, làng nghề cũng không ngừng biến đổi. Làng nghề có những đặc
điểm sau:
a. Đặc điểm nổi bật nhất của làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ
với nông nghiệp
Các nghành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp nhưng
không rời khỏi nông thôn. Sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ
công nghiệp trong làng nghề đan xen lẫn nhau. Người thợ thủ công trước hết và
đồng thời là người nông dân. Các gia đình nông dân vừa làm ruộng vừa làm
nghề sản xuất thủ công nghiệp. Sự ra đời của làng nghề đầu tiên là do nhu cầu
giải quyết lao động phụ, lao động dư thừa nhàn rỗi giữa các mùa vụ và đáp ứng
nhu cấu it ỏi về hàng tiêu dùng của từng gia đình và từng làng xã. Trong làng
nghề, người nông dân thường tự sản xuất đáp ứng phần lớn nhu cầu ít ỏi của
mình về hàng tiêu dùng.
b. Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong làng nghề, đặc biệt là làng nghề
truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, cộng với thói quen của người sản xuất
tiểu nông nên công nghệ chậm được cải tiến và thay thế
Để tồn tại, sản xuất trong làng nghề phải có sự kết hợp công nghệ hiện đại
ở những công đoạn nhất định với kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất thủ công theo
hướng tiểu công nghiệp hiện đại, thủ công nghiệp tinh xảo. Đối với những làng
nghề truyền thống, công nghệ có sự cải tiến, xong vẫn mang yếu tố truyền
thống. Đặc điểm này tồn tại trong suốt quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông
thôn kể cả khi quá trình này hình thành.
c. Đại bộ phận nguyên liệu của làng nghề thường là tại chỗ hoặc vùng lân cận
Làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ có sẵn nguồn
nguyên liệu tại chỗ, trên địa bàn địa phương. Đặc biêt, nghề truyền thống sản


xuất những sản phẩm tiêu dùng ( làm tương…), nguyên liệu thường có tại chỗ,

vẫn dùng kỹ thuật thủ công để tạo nên tính truyền thống cho sản phẩm. Nếu
không có hoạt động sản xuất thủ công của các nghệ nhân thì sản phẩm của làng
nghề không mang tính đặc trưng.
g. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề hầu hết mang tính địa phương,
tại chỗ, nhỏ hẹp
Sự ra đời của làng nghề, đặc biệt đối với làng nghề sản xuất tương, là xuất
phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của địa phương. Thị
trường làng nghề về cơ bản vẫn là thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh.
Vì vậy. khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường thì làng
nghề sản xuất tương Nam Đàn và nhiều hộ sản xuất trong làng nghề đã đứng
trước những khó khăn không nhỏ.
h. Hình thức tổ chức sản xuất trong làng nghề chủ yếu ở quy mô hộ gia đình,
một số đã có sự phát triển hình thành những tổ chức khác nhau
Với hình thức này hầu như tất cả các thành viên trong hộ đều được huy
động vào làm những công việc khác nhau. Người chủ gia đình thường đồng thời
là người thợ cả, người quản lý mà trong số họ có không ít nghệ nhân. Tổ chức
sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình đảm bảo được sự gắn bó giữa quyền lợi và
trách nhiệm, huy động được mọi lực lượng có khả năng lao động tham gia sản
xuất – kinh doanh, tận dụng được thời gian và nhu cầu đầu tư thấp. Đây là hình
thức tổ chức thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ. Từ khi thực hiện phát triển theo
cơ chế thị trường, nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư về mọi mặt để thành lập
doanh nghiệp nhằm đáp ứng yếu tố sản xuất [8].


2.1.1.4.2 Điều kiện để hình thành làng nghề
Sự tồn tại và phát triển của làng nghề cần có nhưng điều kiện cơ bản nhất
định sau:
Một là, gần đường giao thông. Hầu hết những làng nghề cổ truyền đều
nằm trên những đầu mối giao thông quan trọng, đặc biệt là những đầu mối giao
thông thủy, bộ. Nằm ở vị trí này cho phép làng nghề có thể kết hợp sử dụng các

vững và phát triển nhất. Chúng tạo thành những chất keo gắn kết làm cho làng
nghề tồn tại và phát triển bền vững [8].
2.1.1.5 Ý nghĩa về phát triển làng nghề
Trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước, Đảng ta đã đặt mục
tiêu CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn lên hàng đầu. Điều đó được thể hiện rõ
trong nội dung CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn ở Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII, đó là:
- Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp phục vụ CNH.
- Thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá vào sản
xuất nông nghiệp.
- Phát triển chế biến nông, lâm, thuỷ, hải sản với công nghệ ngày càng
cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị.
- Phát triển các ngành nghề và làng nghề truyền thống và các ngành nghề
mới bao gồm cả tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng,
hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi
nông nghiệp, các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội theo đồng bộ và hiện đại, xây
dựng nông thôn mới giàu có và văn minh
Chủ trương phát triển kinh tế trong đó có chủ trương phát triển làng nghề
được cụ thể hoá hơn ở Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX: “ Tiếp tục
phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới


bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy
mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá; quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi
mới cơ chế cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích; giải
quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá. Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết
cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các
ngành đa dạng, chú trọng công nghệ chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các
làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực

mô, địa bàn hoạt động để thu hút nhiều lao động.
Ở nước ta, các làng nghề được phân bố rộng khắp ở các vùng nông thôn,
hàng năm sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá khá lớn, đóng góp
đáng kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng,
làm tăng tổng giá trị sản phẩm hàng hoá của cả nước. Ví dụ tỉnh Bắc Ninh, năm
1998 giá trị sản phẩm hàng hoá của các làng nghề là 210 tỉ đồng, chiếm 3/4
tổng giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh. Năm 1998, làng nghề ở Bắc
Ninh đã nộp ngân sách nhà nước là 21,350 tỉ đồng, trong khi các xí nghiệp quốc
doanh chỉ thu được 3,4 tỉ đồng. Năm 2002 đạt khoảng 800 tỉ đồng, chiếm 50%
giá trị công nghiệp của địa phương, đóng góp 62% kim ngạch xuất khẩu của
tỉnh. Giá trị công nghiệp của ngành nghề nông thôn ở tỉnh Hải Dương đạt 560 tỉ
đồng năm 1998, 608 tỉ đồng năm 1999 và 637 tỉ đồng năm 2000 [14].
b. Ý nghĩa về xã hội
- Phát triển toàn diện kinh tế – xã hội nông thôn, tạo việc làm, nâng cao
đời sống cho dân cư nông thôn là vấn đề quan trọng ở nước ta hiện nay. Với
83% dân số và 73% lao động của cả nước, đất đai canh tác lại bị hạn chế bởi
giới hạn của tự nhiên, đây là một thách đố lớn đối với sự phát triển nông nghiệp
và kinh tế nông thôn [ 6 ]. Sự phát triển của làng nghề đã kéo theo sự hình thành
và phát triển của các nghề khác, đã tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.
Nó không chỉ giải quyết việc làm cho cư dân trong vùng mà còn tạo việc làm
cho cư dân các vùng lân cận. Người dân có việc làm nhờ đó thu nhập của họ


được tăng cao, đời sống bớt khó khăn hơn, mặt khác bản tính của người nông
dân là tiết kiệm, nên họ đã biết chi tiêu hợp lý và bắt đầu có tích luỹ. Vì vậy
cuộc sống của người dân trong các làng nghề thường có mức sống cao hơn so
với các làng chỉ sản xuất thuần nông.
- Khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có trong nông thôn: vốn, lao
động.
Một đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn

nếu là một đặc sản đang bị thay thế, đang bị mất dần đi những vị ngon, đặc
trưng của nó, những mất đi này là do xu hướng sản xuất hàng hóa, thị trường xã
hội,… thì ta phải bảo tồn lấy những cái vị đó, chất lượng của loại sản phẩm đó.
2.1.2.2 Khái niệm về phát triển
Có rất nhiều quan niệm về phát triển, nhưng có 2 quan điểm lớn
- Quan điểm truyền thống (sau chiến tranh thế giới thứ II – trước 1970): Cho
rằng phát triển là sự tăng trưởng, tăng năng suất lao động, mở rộng sản xuất.
- Quan điểm hiện đại (sau những năm 1970): Cho rằng phát triển một đất
nước không chỉ nhắm hết nguồn lực vào kinh tế. Quan tâm lớn nhất của hộ là
giảm bất bình đẳng, tập trung xóa đói giảm nghèo trong một bối cảnh có tăng
trưởng. Hay nói cách khác tăng trưởng chỉ là điều kiên cần cho sự phát triển chứ
không phải là mục tiêu của sự phát triển.
+ Sau những năm 1980 thế giới bắt đầu trải qua những thời kì có sự náo
động của sự biến đổi môi trường, thảm họa thiên nhiên, ô nhiễm môi trường.
Nếu chỉ tập trung nâng cao cuộc sống của con người mà lại ảnh hưởng đến môi
trường thì ngược lại những tổn thất môi trường dẫn đến sự không bền vững cho
sự phát triển, từ đó đưa ra quan điểm “phát triển bền vững”, Ngoài mục tiêu kinh
tế xã hội, phát triển bền vững phải quan tâm đến môi trường.
+ Năm 1897 Liên Hợp Quốc định nghĩa: “Phát triển bền vững là một quá
trình của sự thay đổi, trong đó việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu
tư, hướng phát triển của công nghệ và kĩ thuật và sự thay đổi về tổ chức là


thống nhất làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại, và tương lai của con
người”.
+ Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất năm 1992 tổ chức tại Rio de Janeiro
đưa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững: “ Phát triển nhằm thỏa mãn
nhu cầu của thế hệ ngày nay, mà không làm tổn hại khả năng đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ tương lai”.
2.1.2.3 Vai trò của bảo tồn và phát triển làng nghề

so sánh với mức thu nhập của lao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động
ngành nghề cao hơn khoảng 2 đến 4 lần, đặc biệt là so với chi phí về lao động và
diện tích sử dụng đất thấp hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp.
c. Đa dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá
Đa dạng hoá kinh tế nông thôn là một trong những nội dung quan trọng
của công nghiệp hoá nông thôn nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải
thiện đời sống của người dân nông thôn. Sự phát triển của làng nghề đã phá vỡ
thế độc canh trong các làng thuần nông, mở ra hướng phát triển mới với nhiều
nghề trong một làng nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của nông nghiệp sự
phát triển của làng nghề đã đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng hợp lý các
nguồn lực ở nông thôn như đất đai, lao động, nguyên vật liệu, thị trường. Ở
những vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành nên một trung
tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá.
d. Cải thiện đời sống của nhân dân và xây dựng nông thôn mới
Ở những vùng có làng nghề phát triển đều thể hiện một sự văn minh, giàu
có, dân trí cao hơn hẳn những vùng mà chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp. ở
các làng nghề, tỷ lệ hộ khá và giàu thường rất cao, tỷ lệ hộ nghèo thấp và hầu
như không có hộ đói. Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu
nhập để đem lại cho người dân ở đây một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn cả
về vật chất và tinh thần. Nhà cao tầng của các hộ dân được xây dựng nhiều, tỷ lệ


hộ có các loại đồ dùng tiện nghi đắt tiền chiếm tỷ lệ khá. Làng Tân Lễ (Thái
Bình) tỷ lệ hộ khá, giàu chiếm gần 80% tổng số hộ của địa phương. Làng nghề
Bát Tràng (Hà Nội) mức thu nhập bình quân thu nhập của các hộ thấp cũng đạt
tới 10 – 20 triệu đồng/năm, của các hộ trung bình là 40 – 50 triệu đồng/năm, còn
của các hộ cao thì đạt tới hàng trăm triệu đồng/năm [8]. Cùng với việc tăng thu
nhập của người dân sự phát triển của làng nghề cũng để tạo ra một nguồn tích
luỹ khá lớn và ổn định cho ngân sách địa phương. Đời sống vật chất và tinh thần
của người dân được cải thiện, sức mua tăng lên, tạo thị trường cho công nghiệp

diện của con người, một sắc thái văn hóa của con người và quê hương đất nước.
Tuy quy mô nhỏ, công nghệ còn lạc hậu nhưng so với hoạt động nông nghiệp,
hoạt động tiểu thủ công nghiệp, làng nghề nông thôn là bước tiến trong trình độ
sản xuất của nông thôn như trình độ trang bị, yêu cầu gắn kết với thị trường. Do
đó, bảo tồn và phát triển làng nghề góp phần không nhỏ trong việc cải biến
những hạn chế tiểu nông của nông dân.
Tóm lại, bảo tồn và phát triển làng nghề góp phần vào việc giữ gìn các giá
trị văn hóa của dân tộc và nâng cao đời sống tinh thần cho cư dân ở nông thôn.
Đó là niềm tự hào của dân tộc ta qua các thế hệ nối tiếp đến nay vẫn còn nguyên
giá trị. Sản phẩm của làng nghề phản ánh những nét chung của dân tộc có nét
riêng của làng nghề. Người Việt Nam sống ở nước ngoài khi nhớ về quê hương
là nhớ đến dấu ấn đậm nét của làng nghề với sản phẩm độc đáo của nông thôn
Việt Nam mà các dân tộc khác không có được.
2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề bảo tồn và phát triển của làng
nghề
Quá trình phát triển của làng nghề truyền thống chịu tác động của nhiều
nhân tố. Những nhân tố này có sự biến đổi trong từng thời kỳ và tác động theo
chiều hướng khác nhau. Chúng có thể là những nhân tố thúc đẩy nhưng ngược
lại cũng có thể là những nhân tố kìm hãm sự phát triển. Ở mỗi vùng, mỗi địa
phương, mỗi làng nghề do có những đặc điểm khác nhau về các điều kiện tự



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status