chuyên đề ôn thi tốt nghiệp thpt quốc gia môn ngữ văn kỹ năng làm nghị luận xã hội - Pdf 35

Chuyên đề ôn thi TN THPT Quốc Gia

KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
(3tiết)
A. MỤC TIÊU ÔN
I. NGUYÊN TẮC
1. Bám sát cấu trúc đề thi THPTQG
- Nghị luận xã hội: 8 điểm
- Nghị luận văn học: 12 điểm
2. Bám sát các dạng bài nghị luận
3. Phạm vi kiến thức; Lớp 10,11, 12
II. YÊU CẦU
1.Yêu cầu chung:
- Đảm bảo những đặc trưng cơ bản của thể văn NLXH: có hệ thống luận điểm chặt chẽ, hướng vào luận đề, có các
luận cứ lí lẽ thuyết phục để làm sáng tỏ mỗi luận điểm và tìm những dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, đáng tin cậy để chứng
minh.
- Đảm bảo vốn kiến thức xã hội phong phú, sâu sắc, có những hiểu biết nhất định về các vấn đề thời sự, chính trị -

xã hội nóng bỏng của đất nước.
- Đảm bảo tính mục đích, tư tưởng: những vấn đề nghị luận phải có ý nghĩa thiết thực, có tính thời sự và tính giáo
dục cao, có ý nghĩa hướng đạo, giúp HS có những nhận thức và suy nghĩ đúng đán về cuộc sống.
2. Yêu cầu cụ thể:
* Về hình thức trình bày: Trình bày rõ ràng, mạch lạc, khoa học theo bố cục 3 phần của một bài văn (hoặc đoạn văn)
nghị luận, tùy theo yêu cầu của đề
* Về thao tác lập luận :
- Bài văn NLXH nào cũng vận dụng kết hợp các thao tác: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ.

Tùy từng đề bài cụ thể mà lựa chọn sử dụng thao tác lập luận theo dung lượng hợp lý
- Căn cứ vào đặc trưng của bài văn NLXH, hướng dẫn HS thực hiện các thao tác lập luận đáp ứng những yêu cầu
cụ thể sau:
• Giải thích:

nội dung ôn).
- Tổ chức cụ thể trong buổi ôn: Dành một khoảng thời gian từ 15 - 20 phút để định hướng nội dung trọng tâm, kiến thức
cơ bản của bài (có thể thông qua hình thức phát vấn, trao đổi, thảo luận...). Thời gian còn lại dành cho phần đi sâu vào
trọng tâm kiến thức kết hợp rèn luyện kĩ năng bằng các đề bài, bài tập cụ thể (có thể thông qua hình thức HS làm bài tập
cá nhân hoặc thảo luận nhóm...). Chú ý phân loại đối tượng học sinh chỉ xét tốt nghiệp và học sinh xét tốt nghiệp và ĐH.
- Việc kiểm tra: Thường xuyên kiểm tra việc chuẩn bị đề cương ôn tập của học sinh, kiểm tra miệng... Sau 1 đến 2 tuần
cần có một bài kiểm tra tổng hợp những nội dung đã ôn (cho đề HS làm, GV chấm, rút kinh nghiệm cho HS).
- Thi thử theo kế hoạch chung.
Các điều kiện cho ôn tập
- Tài liệu hướng dẫn ôn tốt nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Bám sát huẩn kiến thức kĩ năng; bám sát cấu trúc đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Bám sát Kế hoạch ôn tập của tổ chuyên môn và nhà trường
- Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, đề phát cho học sinh làm tại lớp, về nhà (GV chuẩn bị tùy theo đặc điểm của nội dung ôn
tập).
- HS làm đề cương, giáo viên thường xuyên kiểm tra.
D. TIẾN TRÌNH ÔN


Hoạt động của GV
và HS
GV cung cấp hệ thống
kiến thức, câu hỏi (nội
dung) cho HS, yêu cầu
HS làm đề cương
trước khi lên lớp. Tùy
đối tượng HS, GV
giao bài tập cụ thể.
Trước khi ôn, GV tiến
hành kiểm tra phần
chuẩn bị của HS (hoặc

- Bàn về tình cảm (tình bạn, tình mẹ, tình yêu quê hương đất nước)
- Bàn về cách sống, lý tưởng sống
- Bàn về việc học, việc đọc..
- Bàn về vấn đề đối với truyền thông (uống nước nhớ nguồn, cái nết
đánh chết cái đẹp, không Thầy đố mày làm nên, văn hóa Việt, tôn sư
trọng đạo, ngôn ngữ tiếng Việt..)

1. Giáo viên cần
lưu ý cho học sinh điểm
khác biệt giữa hai kiểu
bài nghị luận về một
hiện tượng đời sống và
kiểu bài nghị luận về
một tư tưởng đạo lí
không chỉ nằm ở đối
tượng nghị luận mà còn
nằm ở cách thức nghị
luận: Nếu bài nghị luận
về một hiện tượng đời
sống từ phân tích sự việc
cụ thể mà rút ra những
vấn đề tư tưởng thì bài
văn nghị luận về một tư
tưởng đạo lí lại từ phân
tích, giải thích một tư
tưởng khái quát mà soi
sáng và cuộc sống, nhằm
khẳng định tư tưởng đó
quan trọng đối với đời
sống con người.

- Lập luận là cách thức lựa chọn, sắp xếp luận điểm, luận cứ sao cho
chặt chẽ, sáng rõ và thuyết phục.
4. Cấu trúc chung
- Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn vấn đề cần bàn luận.
- Thân bài:
+ Trả lời câu hỏi “là gì”: Giải thích khái niệm (nếu có). Phần này có
thể giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng... tùy theo từng vấn đề.
+ Trả lời câu hỏi “như thế nào”: Nêu biểu hiện của vấn đề trong cuộc
sống, trong văn chương.
+ Trả lời câu hỏi “vì sao”: Lí giải nguyên nhân vấn đề, hiện tượng
hay phẩm chất...

dạng đề : Dạng đề nghị
luận tổng hợp, Dạng đề
mang tính chất đối thoại
– bộc lộ suy nghĩ riêng
về vấn đề được đặt ra,
Dạng đề kết hợp nghị
luận văn học và nghị
luận xã hội.
2. Cấu trúc từng kiểu
bài
a. Kiểu bài nghị
luận về một tư tưởng
đạo lí (cấu trúc của
kiểu bài này có thể
tham khảo trong các tài
liệu bồi dưỡng chuyên
môn những năm trước).
b. Kiểu bài nghị

+ Chú ý các dấu hiệu ngăn vế câu nêu luận đề (nếu có).
-Xác định các yêu cầu:
+ Nội dung luận đề: vấn đề cần nghị luận là gi? Gồm những ý chính
nào ?)
+ Thao tác lập luận chính cần sử dụng trong bài viết?
+ Phạm vi dẫn chứng (trong tác phẩm văn học; trong đời sống xã hội
4.2.Lập dàn ý
- Vạch ra các ý lớn, những luận điểm chính, trên cơ sở đó triển khai cụ
thể thành các ý nhỏ.
- Lựa chọn, sắp xếp các ý thành một hệ thống chặt chẽ, lôgic, làm rõ
luận đề
- Bố cục 3 phần. Các ý cần có:
Mở bài:
Giới thiệu ngắn gọn, chính xác vấn đề cần nghị luận, trích dẫn ý
kiến, câu nói, đoạn văn bản ... (nếu có)
Thân bài:
Kết hợp các thao tác lập luận để làm rõ vấn đề nghị luận.
Giải thích các từ ngữ, khái niệm then chốt trong đề bài.
Phân tích các khía cạnh của vấn đề.
Mở rộng bàn bạc sâu vào vấn đề, đưa ra ý kiến đánh giá của bản
thân: khẳng định hoặc phản bác
Liên hệ thực tiễn, rút ra bài học.
Kết bài:
Tổng kết nội dung đã trình bày, mở rộng, nâng cao vấn đề.

lối nói chung chung mơ
hồ (VD: muốn bàn về
tình trạng ô nhiễm
nguồn nước, cần tìm
thông tin về những con



4.3.V iết đoạn văn
Hình thức: có mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
Nội dung:
+ Câu mở đoạn: Giới thiệu ngắn gọn, rõ ràng vấn đề cần nghị luận.
+ Các câu phát triển đoạn: giải thích vấn đề cần nghị luận => Phân tích
biểu hiện, nguỵên nhân, hậu quả của vấn đề => Đánh giá khái quát =>
Nêu giải pháp cho vấn đề.
+ Câu kết đoạn: Bài học cho bản thân.
Yêu cầu:
+ Trình bày bằng môt đoan văn.
+ Viết đủ số dòng, số câu theo yêu cầu của đề.
+ Nội dung phải rõ ràng, mạch lạc.
II. CÁC KIỂU BÀI CỤ THỂ
GV cung cấp hệ thống
kiến thức ôn tập cho
HS, yêu cầu HS làm
đề cương về các kiểu
bài cụ thể theo các nội
dung:
Đối tượng nghị
luận
Yêu cầu
Dàn ý khái quát
GV tiến hành kiểm tra
phần chuẩn bị của HS
(hoặc kết hợp kiểm tra
trong quá trình ôn tập
tùy theo nội dung ôn).

nguyên nhân nên chú ý
tới các mặt khách quan,
chủ quan. (VD: hiện
tượng tai nạn giao thông
thì nguyên nhân khách
quan là do hệ thống giao
thông còn nhiều bất cập:
cách phân luồng, phân
tuyến, hệ thống biển báo
chỉ dẫn, chất lượng tham
gia phương tiện giao
thông, nguyên nhân chủ
quan: ý thức của người
tham gia giao thông).
- Khi đề xuất giải
pháp, ta cần xem lại
nguyên nhân vì chính
nó là gợi ý tốt nhất
(VD: một trong những
nguyên nhân của nạn
bạo hành phụ nữ là
nhận thức về bình đẳng
giới thì một trong
những giải pháp khắc
phục tình trạng này là
tuyên truyền giáo dục
để nâng cao nhận thức
và ý thức bình đẳng



+ Neu luận đề nêu dưới dạng ý kiến, câu châm ngôn, tục ngữ...
cần trích dẫn lại nguyên văn câu đó.
Phần thân bài
- Tiến hành theo các bước sau:
+ Giải thích rõ luận đề (Giải thích các từ ngữ then chốt, các khái
niệm; giải thích ý nghĩa từng vế câu - nếu có; giải thích tổng quát toàn

của
những
cánh
rừng?”, về cơ bản các ý
cũng triển khai như đã
nêu trên nhưng ý trọng
tâm phải là giải pháp
ngăn ngừa nạn đốt phá
và phát triển rừng.
4. Cách lựa
chọn và đưa dẫn
chứng
- Khi lấy dẫn
chứng để chứng minh
bên cạnh yêu cầu phù
hợp với luận điểm, cần
chú ý chọn dẫn chứng
có sức thuyết phục cao:
các con số thống kê,
các sự kiện lịch sử,
những danh ngôn,
những câu chuyện thời
sự. Ví dụ để làm sáng


2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống
a. Đối tượng nghị luận
Kiểu bài này bàn về một hiện tượng xảy ra trong thực tế đời
sống. Hiện tượng này có thể là hiện tượng tích cực cũng có thể là
hiện tượng tiêu cực, hoặc là hiện tượng có tính hai mặt (cả tích cực
lẫn tiêu cực). Như thế, đòi hỏi bằng nhận thức của bản thân phải nêu
ra được ý tưởng, quan điểm riêng của mình.
Tuy vậy, các dạng đề tài thường gặp cũng rất gần gũi với đời
sống, phù hợp với trình độ học sinh như:
- An toàn giao thông
- Bảo vệ môi trường.
- Việc tiêu cực trong thi cử.
- Nạn bạo hành trong gia đình, học đường.
- Phong trào học sinh sinh viên tình nguyện, tiếp sức mùa thi.
- Bảo về tài nguyên rừng, nguồn nước ..
- Tương than tương ái

b. Yêu cầu
Về kiến thức:
Nắm được cách làm các kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời
sống.
- Bài viết cần thể hiện được sự hiểu biết về một hiện tượng đời sống có
tác động đến tình cảm, thái độ của bản thân.
- Người viết thể hiện rõ quan điểm và lập trường đánh giá.

không quá 10%...
- Khi đưa dẫn
chứng tránh tình trạng
liệt kê tràn lan theo

sắc, rơi thanh của


Về kĩ năng:
- Biết vận dụng kiến thức để phân tích đề, lập dàn ý và viết hoàn chỉnh
một bài NLXH.
- Xác định các thao tác chính của bài viết.
- Xác định được các luận điểm, luận cứ cần trình bày.
- Biết liên hệ, mở rộng (nếu cần)
Về tư duy và thái độ giáo dục
- Nhận biết được dạng bài cụ thể, huy động kĩ năng và kiến thức trong
thực tế để bộc lộ nghiêm túc suy nghĩ, quan điểm trước một vấn đề xã
hội.
- Tích hợp GDKNS: Tự nhận thức về những vấn đề tư tưởng đạo lý,
có ý thức tiếp thu những quan niệm đúng đắn và phê phán những quan
niệm sai lầm.

những giá trị văn hóa
truyền thống trong thị
hiếu âm nhạc (thích
nhạc róc, ráp, hiphop),
trong trang phục (áo
phông vẽ nhiều hình
ảnh bạo lực, kinh dị, áo
phanh ngực), trong
ngôn ngữ giao tiếp
hàng ngày(dùng tiếng
lóng, tiếng nước ngoài
xen lẫn tiếng Việt) của
giới trẻ hiện nay, người

+ Bài học nhận thức và liên hệ
hiện bài văn nghị luận
bản thân
xã hội cần chú ý đến
* Kết bài:
hai yêu cầu: thứ nhất
- Khẳng định ý nghĩa của vấn đề
bài viết phải có ý, thứ
- Bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống đang nghị
hai bài viết phải có chất
luận
3. Nghị luận về một vần đề xã hội trong tác phẩm văn học. văn. Yêu cầu ý nghiêng
về nội dung (tìm tòi,
a. Đối tượng nghị luận
lựa chọn, phát hiện và


- Một
xãvần
hội đề
nàoxãđóhội
có đặt
ý nghĩa
sâu sắc,
trongvăn
tác
Nghị
luậnvấn
về đề
một

- Dù là lấy từ nguồn nào thì đề tài bàn luận cũng thuộc một
trong hai phạm vi: các tư tưởng, đạo lí hoặc các hiện tượng đời sống.

b. Yêu cầu
- Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học là kiểu bài
nghị luận xã hội , không phải là kiểu bài nghị luận văn học. Cần tránh
tình trạng làm lạc đề sang nghị luận văn học.
- Vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học có thể là một tư tưởng, đạo
lí hoặc một hiện tượng đời sống (thường là một tư tưởng, đạo lí)
- Cách làm:
Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học:
1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.
2.Đề tài: Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác
phẩm văn học, *Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác
phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ,
một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được học.
3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:
a/Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện)
để rút ra ý nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện).
b/Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề
xã hội rút ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện).

c. Dàn ý khái quát
Phần mở bài:
- Giới thiệu ngắn gọn, chính xác vấn đề cần bàn luận trên cơ sở
ngầm hiểu ý nghĩa của tác phẩm, câu chuyện.
- Dan dắt tác phẩm, câu chuyện được chọn nêu luận đề
Phần thân bài:
- Phân tích khái quát nội dung, ý nghĩa của tác phẩm hoặc câu
chuyện được dẫn trong đề bài để tìm thấy vấn đề cần bàn luận.

phong phú và những
giá trị quý báu của một
tấm lòng trong đời
sống, người viết có thể
bàn bạc mở rộng theo
hướng: Một tấm lòng
có đồng nghĩa với việc
yêu thương tất cả hay
không? Trong đời sống
chỉ cần một tấm lòng
đã đủ chưa?. Từ đó,


dụng mô hình cấu trúc: GIẢI => PHÂN => NGUYÊN NH ÂN => người viết có thể rút ra
ĐÁNH GIÁ => GIAI PHÁP (Như đã trình bày ở phần trên)
kết luận: Có một tấm
Phần kết bài:
lòng không đồng nghĩa
- Đánh giá ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí hoặc hiện tượng đời với yêu thương tất cả
sống đã nghị luận, rút ra bài học nhận thức hoặc định hướng hành mà cần có một tấm
động.
lòng biết ghét, biết căm
Khẳng định ý nghĩa của tác phẩm / câu chuyện và vai trò đóng góp của thù cái ác, cái xấu. Chỉ
tác giả.
có một tấm lòng thôi
chưa đủ. Trong hoàn
cảnh ngày nay, khi xã
hội đòi hỏi mỗi người
cống hiến tài năng, trí
tuệ thì việc bồi dưỡng

- Khi viết một
bài văn, hơn nhau
không chỉ ở chỗ viết cái
gì mà quan trọng là viết
như thế nào, bằng tình
cảm, thái độ ra sao.
Hiệu quả tác động của
văn nghị luận không
chỉ ở lí lí mà còn ở tình
cảm, cảm xúc. Để bài
văn sinh động, truyền
cảm, người viết cần lưu
ý vận dụng kết hợp các
phương thức biểu đạt
khác như tự sự, thuyết
minh và đặc biệt là biểu
cảm với phương thức
nghị luận (phương thức
chính) trong kiểu bài
này.
- Tuy nhiên, giáo
viên cũng cần lưu ý cho
học sinh: không nên
lầm rung cảm nơi lời
văn qua các câu cảm
thán, qua những lời “hô
to gọi giật” theo kiểu
chao ôi, xúc động làm
sao, thật hạnh phúc


Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) bàn về câu hát: “sống trong
đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi”.
(Trịnh Công Sơn)..

a. Phân tích đề
Hướng dẫn HS thực hiện nhanh, thuần thục các thao tác:
+ Đọc kĩ đề.
+ Gạch chân những từ then chốt, những khái niệm, những từ
"khóa". Sống, cần có tấm lòng
+ Chú ý các dấu hiệu ngăn vế câu nêu luận đề (nếu có).
- Xác định các yêu cầu:
+ Nội dung luận đề: vấn đề cần nghị luận là gì? Cách sống; vai
trò, giá trị của “tấm lòng” đối với mỗi con nguời.

+ Thao tác lập luận chính cần sử dụng trong bài viết? giải thích,
phân tích, chứng minh, bình luận.

+ Phạm vi dẫn chứng (trong tác phẩm văn học; trong đời sống
xã hội...)

b. Lập dàn ý
* Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: vai trò, giá trị của “tấm lòng”
đối với mỗi con nguời.
- Trích dẫn nguyên văn câu hát của
Trịnh Công Sơn
* Thân bài:
- Giải thích luận đề (câu hát)
+ "Tấm lòng”: Lòng yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc giữa
người với người, lòng vị tha, cao thượng, nhân ái,... hay đơn thuần chỉ

đâu xa, ngay trong bàn tôi cũng thế, mọi người xúm lại chụp ảnh rồi
“post” lên Facebook ngay tức thì “cho nó “hot”!”, một người bảo
vậy. ”…
Một dịp khác, trong khi đang ngồi chờ bus. Bên cạnh tôi có 3 nữ
sinh đã chia sẻ như sau:
“Ngày nào không vào Facebook cứ thấy bứt rứt. Nhớ
“Facebook”quá!
(Nguồn: tuoitre.online 04/05/2014)
Từ thông tin và dòng chia sẻ trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị
luận (khoảng 400 từ ) trình bày suy nghĩ của bản thân về hiện tượng
"nghiện" Facebook trong giới trẻ hiện nay?
a.Phân tích đề
- Hướng dẫn HS thực hiện nhanh, thuần thục các thao tác:
+ Đọc kĩ đề.
+ Gạch chân những từ then chốt, những khái niệm, những từ
"khóa".
+ Chú ý các dấu hiệu ngăn vế câu nêu luận đề (nếu có).
- Xác định các yêu cầu:
+ Nội dung luận đề: suy nghĩ của bản thân về hiện tượng "nghiện"
Facebook trong giới trẻ hiện nay
+ Thao tác lập luận chính cần sử dụng trong bài viết? giải thích,


phân tích, chứng minh, bình luận.

+ Phạm vi dẫn chứng trong đời sống xã hội...

b. Lập dàn ý
- Vạch ra các ý lớn, những luận điểm chính, trên cơ sở đó triển


Hậu quả


- Chi phối làm ảnh hưởng thời gian học tập, sinh hoạt, lao động hàng
ngày.
- Mất đi sự trong sáng của Tiếng Việt theo những kí hiệu kì quặc tùy
tiện : z,f,w...
- Đi ngược với thuần phong, mĩ tục, đạo đức người Việt Nam.
- Nhiều vụ lừa tình, lừa tiền, bắt cóc, hành vi bạo lực...
- Ảnh hưởng đến lối sống tùy tiện, buông thả, vô cảm, thiếu trách
nhiệm với bản thân..
- Xói mòn, ảnh hưởng đến nhân cách do chìm trong thế giới ảo.
Giải pháp:
- Nhà trường tăng cường tuyên truyền, giáo dục về mặt trái của
facebook.
-Ứng xử của những người xung quanh được xem là giải pháp quan
trọng để thanh lọc và giúp bạn trẻ giữ vững phẩm chất đạo đức.
- Gia đình kiểm soát chặt chẽ con em, thường xuyên phối hợp với nhà
trường.
- Bản thân xây dựng thời gian biểu hợp lí giữa việc học tập, vui chơi,
biết xác định mục đích, động cơ học tập phù hợp ..
Bài học nhận thức và hành động:
- Biết kiểm soát chừng mực mỗi hành vi của mình, trang bị những kỹ
năng sống cần thiết, dù là chỉ trên thế giới ảo...”
- Sử dụng facebook đúng mục đích.
-Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nước ngoài, giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam.
- Đầu tư cho việc học tập, tránh lãng phí thời gian vô bổ.- Điểm 0,75:
Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm
(giải thích, chứng minh, bình luận) còn chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa

b.Lập dàn ý
Mở bài:
- Hạnh phúc bình dị mà quý giá có lẽ được tạo nên bởi sức
mạnh của sự hòa thuận trong gia đình. Tuy nhiên nạn bạo hành gia
đình vẫn đang là một vấn đề gây bức xúc trong xã hội.
- Vấn đề đó được Nguyễn Minh Châu đề cập đến khá sâu sắc
trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
Thân bài:
- Phân tích khái quát ỷ nghĩa của tác phẩm đã học
+ Tâm hồn Phùng dâng ngất ngây trong niềm hạnh phúc vì anh
vừa chụp được cảnh thuyền và biển trước bình minh đẹp như trong
mộng, thì cũng đúng lúc đó anh sững sờ chứng kiến cảnh: người đàn
ông rút thắt lưng đánh vợ một cách tàn bạo, người vợ nhẫn nhục chịu
đựng, đứa con lao vào cứu mẹ đánh lại cha. Bi kịch gia đình đã diễn ra
ngay đằng sau cái đẹp và không phải một lần, người đàn bà bất hạnh
ấy chịu đòn như cơm bữa. Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận
nặng, vừa đánh vừa kèm theo những lời chửu rủa độc địa của người
chồng vũ phu.
+ Tác phẩm đã khiến người đọc suy ngẫm: Cuộc đời không đơn
giản như người ta tưởng, bạo hành gia đình là vấn nạn mà cả xã hội


chúng ta đang đối mặt và cần phải giải quyết,
- Giải thích:
Bạo hành gia đình: là hành động bạo lực tàn ác với mọi người
trong gia đình, đày đọa cả về thể xác lần tinh thần.
- Phân tích, chứng minh làm rõ vẩn đề:
Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa:
+ Qua sự chứng kiến của nghệ sĩ Phùng về cảnh tượng người
dàn ông độc dữ đánh vợ.

gia đình, người thân và xã hội.
- Tác phẩm giàu giá trị nhân văn, là bài học về đạo lí làm
người.
Đề bài 2:
Từ đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu
Quang Vũ, nghĩ về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với
mọi người.

Dàn ý
Mở bài:
- Cuộc sống của con người chỉ thực sự thanh thản và hạnh phúc
khi được sống là chính mình và sống thực với mọi người.
- Đoạn trích vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu
Quang Vũ đã đề cập khá sâu sắc đến vấn đề này.
Thân bài:
- Phân tích khái quát ỷ nghĩa của đoạn trích vở kịch đã học

+ Thông qua lời đối thoại giữa các nhân vật: Hồn Trương Ba da hàng thịt; Hồn Trương Ba - Vợ Trương Ba, cái Gái, chị con dâu;
Hồn Trương Ba - Đế Thích, tác giả đã đẩy xung đột của hồi kịch lên
đến cao trào, buộc Hồn Trương Ba phải lựa chọn một cách sống dứt
khoát: sống đúng là mình, hòa hợp thống nhất giữa thể xác và tâm hồn.
+ Đoạn trích vở kịch đã khiến người đọc suy ngẫm và nhận thức
sâu sắc về quan niệm sống, lẽ sống đẹp nhất của con người trong cuộc
đời: sống thực với mình và với mọi người
- Giải thích:
“Sống thực” là sống có sự gắn bó hài hòa, thống nhất giữa thể
xác và tâm hồn mình, không để tâm hồn mình làm nô lệ cho thân xác.
Nói cách khác: sống thực là sống đúng với bản chất vốn có, không giả
dối hay che giấu điều gì.
- Phân tích, chứng minh làm rõ vẩn đề'.

cách làm người của con người.
+ Lưu Quang Vũ đã góp tiếng nói tích cực vào việc định hướng
lẽ sống và nhân cách đẹp cho con người hiện tại.
Kết bài:
- Rút ra bài học: bản thân phải sống thật thà, ngay thẳng và
luôn thẳng thắn đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực để hoàn
thiện nhân cách.
- Đoạn trích vở kịch giàu giá trị nhân văn, là bài học về đạo lí
làm người.
4. Củng cố
Kĩ năng làm các kiểu bài NLXH.
5. Dặn dò


Tìm thêm các đề tại và luyện tập.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status