Nghiên cứu chính sách bảo hiểm xã hội với vấn đề thu BHXH và chống thất thu BHXH trên địa bàn tỉnh tuyên quang - Pdf 35

Mục Lục
Lời mở đầu...............................................................................................................3
CHƯƠNG I: Lý luận chung về chính sách bảo hiểm xã hội và quản lý thu bảo
hiểm xã hội...............................................................................................................6
I. Giới thiệu chung về chính sách bảo hiểm xã hội .................................................6
1) Khái niệm về BHXH.............................................................................................6
2) Các loại hình BHXH.............................................................................................8
II. Quản lý thu BHXH và chống thất thu BHXH......................................................14
1) Quản lý thu BHXH ...............................................................................................14
2) Nội dung của quản lý thu BHXH..........................................................................16
a) Nguyên tắc quản lý thu BHXH.............................................................................16
b) Nội dung quản lý Thu BHXH...............................................................................17
3) Chống thất thu BHXH...........................................................................................21
CHƯƠNG II: Thực trạng về quản lý thu và thất thu BHXH tại tỉnh Tuyên
Quang........................................................................................................................24
I. Thực trạng thu BHXH và thất thu BHXH tại Tuyên Quang................................24
1) Khái quát BHXH Tuyên Quang............................................................................24
2) Thực trạng thu BHXH Tại Tuyên Quang .............................................................31
3) Tình hình thất thu của BHXH Tuyên Quang. ......................................................36
II. Quản lý thu BHXH tại Tuyên Quang..................................................................42
1) quản lý thu BHXH Tại BHXH Tuyên Quang. .....................................................42
2) Đánh giá quản lý thu BHXH tại Tuyên Quang.....................................................46
CHƯƠNG III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH
và chống thất thu BHXH tại Tuyên Quang...........................................................52
I. Phương hướng hoàn thiện công tác thu BHXH...................................................52
II. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH......................................53
1) Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về BHXH................................................53
1


2) Có chương trình qui hoạch đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực...........................54

Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự cố gắng
vượt bậc của ngành bảo hiểm xã hội nên các chế độ BHXH được thực hiện ngày
càng tốt hơn; công tác thu, chi, quản lý quỹ và giải quyết chế độ chính sách BHXH
cho các đối tượng theo luật định đi vào nền nếp, tạo điều kiện thuận lợi và niềm
tin cho những người tham gia và hưởng các chế độ BHXH.
Để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta và nhu cầu của người lao
động, ngày 09/01/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2003/NĐ-CP,
3


Luật BHXH được Quốc hội nứơc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
ngà 29/6/2006, đối tượng tham gia BHXH không còn tập trung vào các đơn vị
hành chính sự nghiệp , các doanh nghiệp nhà nước nữa mà được mở rộng tới các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hưu hạn, hợp tác xã , hộ kinh doanh các thể, số người tham gia ngày càng tăng, số
thu năm sau luôn cao hơn năm trước. Song song với thu BHXH thì việc chi trả cho
đối tượng nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội ngày càng nhiều. Do dó BHXH
cần có một lượng tiền đủ lớn để đảm bảo cho công tác chi trả các chế độ BHXH,
để đạt được mục tiêu đó thì việc tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH là một
nhiệm vụ rất quan trọng, có thể coi Quỹ BHXH là sự sống còn của hệ thống
BHXH, đảm bảo cho hệ thống hoạt động theo đúng chức năng nhiệm vụ Trong đó
nhiệm vụ thu BHXH là nhiệm vụ quan trọng có thể coi đó là đầu vào của ngành
BHXH.
Là cán bộ đang trực tiếp công tác tại phòng thu Bảo hiểm xã hội tỉnh Tuyên
Quang và được thực tập tốt nghiệp tại cơ quan từ ngày 25/9/2006 đến ngày
15/01/2007, trong thời gian thực tập em thấy còn một số hạn chế trong công tác
thu BHXH dẫn đến tình trạng thu chưa đúng, thu chưa đủ hay nói cách khác còn
để thất thu BHXH và vấn đề tăng cường công tác thu và chống thất thu quỹ bảo
hiểm xã hội có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của ngành BHXH nói
chung và BHXH Tuyên Quang nói riêng.

I. Giới thiệu chung về chính sách bảo hiểm xã hội
1) Khái niệm về BHXH:
Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động khi họ bị mất hoặc giảm một phần thu nhập do bị ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một
quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà
nước theo pháp luật nhằm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ,
đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Trong điều kiện kinh tế phát triển , nhu cầu sinh hoạt đời sống ngày càng
cao của người lao động nhất là trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, chính sách
BHXH được củng cố và hoàn thiện theo hướng cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước phát triển theo định hướng XHCN cụ thể hoá bằng Luật bảo hiểm
xã hội đã được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
ngày 29/6/2006. Quỹ BHXH được bảo tồn tăng trưởng và đủ khả năng đảm bảo
chi trả các chế độ BHXH cho người lao động ở các thành phần kinh tế khi tham
gia BHXH một cách ổn định, có hiệu quả. BHXH đã đem lại chỗ dựa vững chắc
cho cuộc sống người lao động, cho sự ổn định của các doanh nghiệp, các công ty
và tổ chức có thể thấy sự xuất hiện của BHXH là nhu cầu tất yếu khách quan của
cuộc sống của người lao động và các tổ chức. BHXH là nhu cầu khách quan đa
dạng và phức tạp của xã hội nhất là trong xã hội mà nền sản xuất hàng hóa hoạt
động theo cơ chế thị trường , mối quan hệ lao động phát triển tới một mức độ nào
đó, kinh tế càng phát triển thì bảo hiểm xã hội càng phát triển đa dạng và hoàn
thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của chính sách bảo hiểm xã hội hay bảo
6


hiểm xã hội không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. BHXH đã được coi
như là nhu cầu khách quan của con người và được xem như là một trong những
quyền cơ bản của con người.
“Có đóng góp BHXH thì mới được hưởng các chế độ BHXH” đó là nguyên

người lao động, tham gia Bảo hiểm xã hội là một nhu cầu khách quan của con
người có thể coi đó là quyền cơ bản nhất của con người, quỹ BHXH tập trung đòi
hỏi sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động,...ổn định quá trình
hoạt động cuả doanh nghiệp hay an ninh quốc gia hơn bao giờ hết quỹ bảo hiểm
xã hội luôn là người bạn đồng hành với họ.
2) Các loại hình BHXH:
Trên thị trường hiện nay hình thành nhiều loại Bảo hiểm khác nhau nhưng
trong phạm vi nay chúng ta so sánh hai loại hình bảo hiểm đó là:
Giữa Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm thương mại (bảo hiểm sức khoẻ, tính
mạng và tài sản bảo hiểm kinh doanh) có những điểm giống nhau và khác nhau
được thể hiện trên các mặt như sau:
Hai quỹ cùng mục đích hoạt động là nhằm hỗ trợ cho các đối tượng tham
gia bảo hiểm một khoản tiền nhất định theo quy định khi họ gặp những khó khăn
về tài chính do một nguyên nhân gây nên rủi ro nào đó đối với họ.
Hai loại bảo hiểm này cùng chung một nguyên tắc là: có tham gia đóng góp
tạo lập quỹ mới được hưởng quyền lợi từ quỹ BHXH.
Hai loại bảo hiểm hoạt động với mục tiêu hoàn toàn khác nhau. Bảo hiểm
thương mại được hình thành để nhằm hạn chế rủi ro và hoạt động với mục đích
chính là kinh doanh thu lợi nhuận còn mục tiêu của hoạt động BHXH mang tính
8


phục vụ cộng đồng xã hội trên phạm vi toàn quốc, nhằm thực hiện chính sách xã
hội của Đảng và nhà nước, bảo đảm cho người lao động có khoản trợ cấp thiết yếu
lúc gặp khó khăn.
Mức độ đóng góp và sử dụng của bảo hiểm thương mại thực hiện theo cơ
chế hoạt động của thị trường và theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh tùy theo
mức đóng ấn định để xác định quyền lợi theo tỷ lệ nhất định; với mục tiêu bảo vệ
sự phát triển kinh tế xã hội sự ổn định chính trị của quốc gia cho nên mức đóng
góp và sử dụng quỹ BHXH dựa vào chính sách xã hội trong từng thời kỳ của đất

bản là chức năng phân phối và chức năng giám đốc, tuy nhiên theo đặc thù BHXH
không những có tính kinh tế mà còn có tính xã hội rất cao và BHXH có những
chức năng sau:
Chức năng hình thành một hệ thống an toàn xã hội : Chức năng này không
chỉ cần thiết cho người lao động mà còn đảm bảo sự ổn định xã hội cho quốc gia.
Chức năng hạn chế khó khăn về kinh tế của người lao động: là đảm bảo cho
mọi thành viên trong xã hội đều có quyền tham gia và được hưởng quyền lợi
BHXH.
Hai chức năng này có mối quan hệ biện chứng với nhau: Đời sống
người lao động được cải thiện và nâng cao thì các hiện tượng tiêu cực sẽ
giảm đi, an ninh chính trị an toàn xã hội được đảm bảo , sản xuất phát triển ;
Khi xã hội phát triển sẽ tạo nhiều cơ hội công ăn việc làm cho người lao
động như vậy đời sống của họ được nâng lên... Bảo hiểm xã hội có vai trò to
lớn trong việc bảo đảm ổn định và phát triển cho xã hội, thể hiện thông qua các tác
động chủ yếu sau:

10


- Bảo đảm thay thế và bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ
bị mất thu nhập hoặc bị giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm trong những
điều kiện nhất định.
Nói là bảo đảm hay thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao
động là nói đến sự thay thế hoặc bù đắp đó nhất định sẽ xảy ra khi người lao động
rơi vào các trường hợp nói trên và hội tụ các điều kiện quy định. Sở dĩ như vậy là
giữa người lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội có mối quan hệ hết sức chặt chẽ,
quan hệ này nảy sinh trên cơ sở lao động và quan hệ tài chính BHXH. Đó là quan
hệ giữa bên tham gia bảo hiểm, bên nhận bảo hiểm và bên được bảo hiểm. Bên
tham gia bảo hiểm trước hết là người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng phí
bảo hiểm cho người lao động mà mình đang sử dụng, đồng thời người lao động

đóng góp đều kỳ của người lao động và người sử dụng lao động và nhà nước cho
cơ quan BHXH để tồn tích dần thành một quỹ tập trung, quỹ này lại huy động
phần nhàn rỗi vào hoạt động sinh lời làm tăng nguồn thu Thông qua BHXH những
mâu thuân giữa những người sử dụng lao động như mâu thuẫn về tiền lương, thời
gian lao động … sẽ được điều hoà và giải quyết. Đặc biệt là cả hai bên này đều
thấy được nhờ có BHXH mà mình có lợi được bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu
nhau và gắn bó lợi ích với nhau. Còn đối với Nhà nước và xã hội hỗ trợ quỹ
BHXH một khoản nhất định, nhưng BHXH đã mang lại hiệu quả rất cao đó là
đảm bảo sự ổn định xã hội , ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ.
BHXH phát huy tiềm năng của số đông và ưu điểm của nhiều phương thức hoạt
động trong cơ chế thị trường để đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động
cũng như cho xã hội. Đồng thời BHXH cũng tạo ra sự gắn bó chặt chẽ với lợi ích
cả lợi ích trước mắt và lâu dài của các bên tham gia BHXH cũng như các bên đó
với lợi ích quốc gia.
BHXH có một số tính chất cơ bản sau:

12


- BHXH là một nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống của mỗi con người
do vậy mà nó mang tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. như phần trên
đã trình bày trong quá trình lao động sản xuất người lao động có thể gặp phải
những rủi ro như : Sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ, lao động dư thừa... đời sống
khó khăn. Nhưng khi sản xuất càng phát triển thì rủi ro với người lao động và khó
khăn với chủ sử dụng lao động càng trở lên phức tạp, mâu thuẫn căng thẳng, để
giải quyết vấn đề này nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua các chính sách
BHXH , như vậy BHXH ra đời là một tất yếu khách quan.
- BHXH mang tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và
không gian. Những rủi ro xảy đến rất bất thường không bao giờ biết trước được.
Chính vì vậy nên mọi rủi ro đến với người lao động của một tổ chức hay là tất cả

BHXH ngày càng cao.
II. Quản lý thu BHXH và vấn đề chống thất thu BHXH
1) Quản lý thu BHXH
Căn cứ Nghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002 của Chính phủ, quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam.
BHXH Việt nam Là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, có chức năng thực hiện
chính sách, chế độ BHXH, BHYT ( gọi chung là Bảo hiểm xã hội ) và quản lý quỹ
Bảo hiểm xã hội theo qui định của pháp luật.
Công tác thu BHXH có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngành
BHXH, theo qui định đóng BHXH đó là mối quan hệ giữa người lao động, người
sử dụng lao động và cơ quan BHXH, giữa các bên có sự ràng buộc giám sát lẫn
nhau về số người tham gia, mức đóng và thời gian đóng BHXH trong suốt quá

14


trình tham gia BHXH, lấy đó làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giải quyết các
chế độ BHXH theo luật định.
Căn cứ vào mức đóng theo quy định và tiền lương, tiền công và các khoản
phụ cấp chức vụ, thâm niên vượt khung, thâm niên nghề (nếu có) (theo Nghị định
152/2006/N Đ-CP) hiện đang hưởng của người lao động để xác định số tiền phải
đóng cho từng lao động khi tham gia BHXH, yêu cầu theo dõi kết quả đóng
BHXH của từng cơ quan, đơn vị theo từng tháng, để từ đó ghi nhận kết quả đóng
BHXH cho từng người, tương đương với mức lương làm căn cứ đóng BHXH v à
ghi vào sổ BHXH. Đây là công việc đòi hỏi tính chính xác cao, thường xuyên, liên
tục kéo dài cả quá trình tham gia BHXH. Đồng thời việc theo dõi ghi chép kết quả
đóng BHXH của mỗi người là căn cứ pháp lý để thực hiện chế độ BHXH, do đó
mỗi lần thay đổi mức lương, chức vụ , nơi công tác …phải kiểm tra chính xác
và ghi sổ cụ thể để việc giải quyết chế độ BHXH thuận lợi .
Đối với nghiệp vụ thu BHXH đòi hỏi nghiệp vụ chuyên môn sâu và chính

Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ đã quy định rõ: Quỹ
BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán
độc lập và được Nhà nước bảo hộ, quỹ được thực hiện các biện pháp bảo tồn giá
trị và tăng trưởng theo quy định của chính phủ. Điều 1 Nghị định 19/CP ngày
16/02/1995 của Chính phủ quy định: Thành lập BHXH Việt nam để giúp Thủ
tướng Chính phủ chỉ đạo công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ,
chính sách theo pháp luật của Nhà nước. Đây là thể hiện nguyên tắc tập trung
trong quản lý quỹ.
Tại Điều 3 trong Quy chế quản lý tài chính đối với BHXH nêu rõ:

16


1. Quỹ BHXH được hình thành từ người tham gia BHXH, BHYT, đóng góp
của người sử dụng lao động; nhà nước đóng và hỗ trợ; tiền sinh lời từ hoạt động
bảo toàn, tăng trưởng quỹ và nguồn thu khác.
2. Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, dân chủ và công khai
trong toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam; hạch toán theo quỹ thành phần ,
độc lập với ngân sách nhà n ước và được nhà nước bảo hộ.
Căn cứ vào các quy định nêu trên, quỹ BHXH được quản lý theo các
nguyên tắc cơ bản là: Nguyên tắc tập trung, thống nhất.
Hạch toán độc lập với NSNN
Được Nhà nước bảo hộ
Được thực hiện các biện pháp bảo tồn giá trị và tăng trưởng theo quy định
của Chính phủ.
Trong các nguyên tắc nêu trên, nguyên tắc tập trung thống nhất là nguyên
tắc cơ bản nhất trong công tác quản lý quỹ. Nội dung chính của nguyên tắc này là :
Tất cả các khoản thu BHXH đều được tập trung vào một quỹ do một cơ quan quản
lý, không chia quỹ ra nhiều quỹ nhỏ. Trên cơ sở quỹ được tập trung mới có điều
kiện để thực hiện việc chống thất thoát quỹ và sử dụng quỹ đúng mục đích. Đồng

mẫu số 5- KHT và gửi về BHXH Việt nam trước ngày 31/10.
Tháng 11 hàng năm BHXH Việt Nam căn cứ vào mẫu số 5-KHT của
BHXH tỉnh lập để dự kiến kế hoạch thu BHXH cho BHXH tỉnh. Tháng 12 hàng
năm BHXH tỉnh Tuyên Quang căn cứ vào kế hoạch giao của BHXH Việt Nam
phân bổ chỉ tiêu thu của năm sau cho BHXH Huyện thị để thực hiện.
18


Tổ chức thu BHXH
Cán bộ bảo hiểm xã hội các cấp có trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thu tiền
Bảo hiểm của tất cả các đối tượng tham gia bảo hiểm theo quy định.
Cán bộ làm công tác thu tại phòng thu BHXH Tỉnh và BHXH các huyện
thị xã thu BHXH trực tiếp tới từng đơn vị sử dụng lao động theo danh sách lao
động và quỹ tiền lương của từng tháng trích nộp BHXH, đặc biệt là đối với khối
doanh nghiệp thì phải thường xuyên bám sát nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh, thu nhập của người lao động và khả năng trích nộp BHXH
để có biện pháp tham mưu kịp thời với các cấp có thẩm quyền .
Hàng tháng, các đơn vị sử dụng lao động (kể cả các đơn vị, cơ quan, tổ chức
thuộc Bộ quốc phòng , Bộ công an và Ban cơ yếu Chính phủ) có trách nhiệm đóng
đầy đủ, kịp thời, vào quỹ BHXH, ngay sau khi thanh toán tiền lương hàng tháng
cho người lao động.
Trường hợp các đơn vị sử dụng lao động chậm nộp bảo hiểm từ 30 ngày trở
lên so với quy định, thì ngoài việc phải nộp số tiền chậm nộp và nộp phạt hành
chính theo quy định hiện hành, còn phải nộp số tiền phạt chậm nộp theo theo mức
lãi suất tiền vay quá hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại thời điểm
truy nộp. Đối với những đơn vị cố tình vi phạm hoặc chây ì thì cơ quan BHXH
được quyền đề nghị Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng nơi giao dịch trích tiền từ tài
khoản của đơn vị để nộp để nộp đủ tiền đóng BHXH và tiền phạt nộp mà không
cần có sự chấp nhận thanh toán của đơn vị sử dụng lao động (trừ các đơn vị được
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cho phép nộp chậm.

20


BHXH tỉnh lập báo thu BHXH đối với các đơn vị sử dụng lao động do
BHXH tỉnh trực tiếp quản lý và báo cáo tổng hợp thực hiện thu BHXH toàn tỉnh
(mẫu 8-BCT), gửi cho BHXH Việt nam trước ngày 25 tháng đầu quý nếu là báo
cáo quý, và trước ngày 31/1 nếu là báo cáo năm.
Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ( sau đây gọi chung
là BHXH tỉnh) Bảo hiểm xã hội các quận huyện thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
(Bảo hiểm sau đây gọi chung là BHXH huyện) có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức
thu BHXH đúng kỳ, đủ số lượng, theo đúng quy định cấp đối chiếu và xác nhận
trên sổ BHXH cho người lao động tham gia BHXH.
Công tác thu và quản lý nguồn thu có vai trò quan trọng trong hoạt động của
ngành BHXH. Do đó, BHXH Việt Nam đã triển khai thực hiện thu BHXH theo
mô hình 3 cấp từ Trung ương đến thành phố, tỉnh và đến các quận huyện. Hàng
năm BHXH Việt Nam dựa vào kết quả thu BHXH, số lượng lao động trên địa bàn
tỉnh để đề ra kế hoạch nhiệm vụ của ngành trong các năm tiếp theo. Đồng thời
BHXH Việt Nam cũng dựa vào đó để đề ra chỉ tiêu thu BHXH cho các cơ quan
BHXH tỉnh, thành phố. Trên cơ sở các chỉ tiêu này, các cơ quan BHXH tỉnh, thành
phố sẽ xem xét lại quỹ tiền lương, số lương lao động, tổ chức đóng góp trên địa
bàn tỉnh thành phố và các quận huyện để triển khai kế hoạch cụ thể đến từng cơ
quan BHXH các quận huyện. Để có được các chỉ tiêu kế hoạch nói trên thì hàng
quý các cơ quan BHXH các quận huyện phải tổng hợp kế hoạch thu BHXH của
các đơn vị do mình chịu trách nhiệm tổ chức thu ghi sổ BHXH gửi cho cơ quan
BHXH tỉnh vào ngày 25 của tháng cuối quý trước theo biểu 2 - BCT; các cơ quan
BHXH tỉnh, thành phố cũng tổng hợp kế hoạch thu của tất cả các đơn vị trên địa
bàn theo mẫu 3- BCT và gửi đồng thời về BHXH VN vào ngày 30 của tháng cuối
quý trước.

21

không đăng ký sử dụng lao động. Khi sử dụng lao động không có hợp đồng lao
động cụ thể, hoặc kê khai số lao động thấp hơn thực tế, không đảm bảo các điều
kiện qui định của bộ luật lao động, hoặc chỉ hợp đồng thuê lao động làm việc dưới
ba tháng hay dừng hợp đồng lao động không theo quy định để chốn tránh việc
nộp BHXH cho người lao động hay có sự khai man về nhân thân và quỹ tiền đóng
BHXH. Do đó cơ quan BHXH không có cơ sở xác định hình thức hợp đồng lao
động để khai thác đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; mức tiền lương tiền công
để tham gia BHXH cũng chưa đúng với thực tế thu nhập của người lao động;
ngoài việc trốn tránh tham gia BHXH cho người lao động thì việc nợ đọng BHXH
và nộp chậm BHXH của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng là vấn đề hết
sức nóng bỏng hiện nay. Trên thực tế đã có chế tài xử phạt vi phạm Luật lao động
về BHXH nhưng chưa hợp lý, chưa qui định cụ thể đối với khu vực ngoài quốc
doanh về thanh tra nộp phạt, qui định về nộp phạt còn quá thấp , chỉ mới dùng lại
ở hình thức cảnh cáo, phạt tiền 2 triệu đồng, mức nộp phạt quá thấp , thậm chí
không thể bắt nộp phạt được nên chưa có tính cưỡng chế và không mang lại hiệu
quả cao. Có những Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động số tiền nộp BHXH rất
lớn so với số tiền bị phạt nên họ cũng săn sàng chốn tránh , chần trừ về số nộp.
Để đảm bảo chi trả các chế độ BHXH, BHYT cho người lao động , Luật
BHXH được ban hành là cơ sở pháp lý bắt buộc người sử dụng lao động phải thực
hiện đồng thời có những biện pháp tăng cường quản lý đối tượng, tranh thủ sự
quan tâm của của các cấp uỷ đảng chính quyền địa phương trong việc thực hiện
chế độ BHXH đối với người tham gia BHXH , phối hợp với các cơ quan hữu
quan, tăng cường chỉ đạo và tiến hành điều tra nắm tình hình thực trạng hoạt động
của các Doanh nghiệp trên điạ bàn quản lý, tìm ra biện pháp thiết thực để công tác
thu đạt kết quả cao.

23


CHƯƠNG II

vị sang hoặc chưa có. Đến nay, được sự quan tâm của Bảo hiểm xã hội Việt Nam,
Tỉnh uỷ, Uỷ Ban nhân dân Tỉnh, Bảo hiểm xã hội Tỉnh Tuyên Quang đã được đầu
tư xây dựng trụ sở làm việc (hai nhà) mới khang trang nằm trên đường Tân Trào
ngay giữa trung tâm Thị xã, Trụ sở BHXH huyện cũng đều được xây dựng với quy
mô và diện tích tạm đủ phục vụ cho thực hiện nhiệm vụ, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc đi lại giao dịch các cơ quan và đối tượng đến làm việc, cơ sở vật chất
được trang bị đầy đủ, hầu hết các phòng đều có đủ ánh sáng, máy vi tính, điện
thoại phục vụ cho công việc được thuận tiện, bàn ghế được trang bị lại toàn bộ.
Thực hiện Nghị định số 100/2002/NĐ - CP ngày 06/12/2002 của Chính phủ,
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam.
BHXH Tỉnh lại tiếp tục nhận bàn giao cơ sở vật chất và Cán bộ từ Bảo hiểm y tế
chuyển sang do vậy có nhiều biến động về tổ chức cán bộ; cũng như những năm
đầu đội ngũ cán bộ, công chức của ngành với trình độ chuyên môn khác nhau,
trong đó chủ yếu CBVC có trình độ trung cấp, chưa qua đào tạo cơ bản về các
nghiệp vụ liên quan trực tiếp đến công tác BHXH.
Hơn mười năm xây dựng và phát triển, đến nay hầu hết cán bộ, công chức
viên chức trong cơ quan đã được đào tạo đại học, được bồi dưỡng chuyên sâu về
các nghiệp vụ liên quan trực tiếp đến công tác BHXH, BHYT, đáp ứng cơ bản
được yêu cầu nhiệm vụ được giao trong tình hình mới. Trình độ chuyên môn và
chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức toàn ngành như sau:
Đại học 46 người; chiếm 37,4 %; Cao đẳng 12 người; chiếm 9,8 %

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status