Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
PHẦN MỞ ĐẦU
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam cùng với sự phát triển kinh tế xã
hội là sự thay đổi nhu cầu thực phẩm và sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng sản
phẩm thủy sản của con người. Ở Việt Nam việc đáp ứng nhu cầu thực phẩm
thủy sản từ nghề đánh bắt hải sản ngày càng hạn chế do khai thác quá mức trữ
lượng nguồn lợi cho phép. Để bù đắp vào sự thiếu hụt đó thì nuôi trồng thủy
sản phải được phát triển mạnh mẽ hơn nữa
Trải qua nhiều thập kỷ, nuôi trồng thủy sản cung cấp một khối lượng
lớn thực phẩm thủy sản và góp phần giảm bớt áp lực khai thác nguồn lợi thủy
sản tự nhiên, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, hạn chế suy thoái môi trường sinh
thái đồng thời giải quyết nhiều vấn đề cho xã hội như công ăn việc làm, xóa
đói giảm nghèo, hạn chế sự di cư từ nông thôn sang thành thị và đem lại cuộc
sống tốt đẹp cho con người. Cùng với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam có
bề dày lịch sử lâu đời trong phát triển thủy sản song nghề nuôi trồng thủy sản
mới chỉ phát triển trong khoảng 20 năm trở lại đây nhưng góp phần quan
trọng trong việc cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến xuất khẩu thủy sản
Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ đang xây dựng những
hướng đi mới trong nhiều lĩnh vực nhất là trong các lĩnh vực sản xuất hàng
hóa cả về công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Đặc biệt trong đó có sự phát
triển mạnh của ngành thủy sản nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng.
Hà Tĩnh là tỉnh có tiềm năng đất và mặt nước có khả năng phát triển nuôi
trồng thủy sản rất lớn. Các hoạt động nuôi trồng thủy sản đóng góp khá lớn
vào tiêu dùng nội địa và chiếm tỷ trọng lớn trong kim nghạch xuất khẩu
Nhìn chung trong thời gian gần đây hoạt động nuôi trồng thủy sản của
tỉnh Hà Tĩnh có xu hướng gia tăng về diện tích, sản lượng và giá trị. Loại
hình mặt nước trong nuôi trồng thủy sản càng ngày càng đa dạng như nuôi
1
CHƯƠNG I :
SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
I . Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế
1. Khái niệm về ngành thủy sản
Hoạt động của ngành thủy sản luôn gắn liền với quá trình phát triển lâu
dài của văn hóa, lịch sử con người Việt Nam với những hoạt động trên bến
dưới thuyền, quăng chài thả cá,... hoạt động thủy sản ở Việt Nam ngày càng
khẳng định vai trò quan trọng của mình không chỉ trong việc đáp ứng nhu cầu
lương thực thực phẩm của con người mà còn đóng góp một phần quan trọng
trong sự phát triển của đất nước. Ngành thủy sản được coi là ngành sản xuất
vật chất dựa trên những khả năng tiềm tàng về sinh vật trong môi trường nước
để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu con người
Theo điều 2 của Luật thủy sản đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam khóa XI kỳ họp thứ 4 thông qua
‘Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác nuôi trồng vận chuyển
chế biến bảo quản chế biến mua bán xuất khẩu nhập khẩu thủy sản dịch vụ
trong hoạt động thủy sản’( trích Luật thủy sản nước CHXHCN Việt Nam )
2. Vị trí và vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân
2.1 Vị trí của ngành thủy sản
Ngành thuỷ sản đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
quốc dân. Ngành thuỷ sản ngày càng mở rộng và vai trò của Ngành cũng tăng
lên không ngừng trong nền kinh tế.
toàn hay một phần vào ngành thuỷ sản. Ngành thuỷ sản được coi là ngành có
thể tạo ra nguồn ngoại tệ lớn cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Xuất
khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã trở thành hoạt động có vị trí quan trọng hàng
nhất nhì trong nền kinh tế ngoại thương Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu vẫn
gia tăng hàng năm và năm 2007 đạt gần 3,8 tỷ USD tăng 12% so với năm
2006, đưa chế biến thuỷ sản trở thành một ngành công nghiệp hiện đại, đủ
năng lực hội nhập, cạnh tranh quốc tế và dành vị trí trong 10 nước xuất khẩu
thuỷ sản hàng đầu trên thế giới.
2.2 Vai trò của ngành thủy sản
2.2.1 Ngành thủy sản là một trong những ngành mũi nhọn của quốc gia
4
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp
mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến năm
2007, đã sử dụng 1,05 triệu ha để nuôi trồng thuỷ sản tăng khoảng 10.000 ha
so với cuối năm ngoái . Trong đó, đối tượng nuôi chủ lực là tôm
Bên cạnh những tiềm năng đã biết, Việt Nam còn có những tiềm năng
mới được xác định có thể sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản như sử dụng vật liệu
chống thấm để xây dựng công trình nuôi trên các vùng đất cát hoang hoá,
chuyển đổi mục đích sử dụng các diện tích trồng lúa, làm muối kém hiệu quả
sang nuôi trồng thuỷ sản… Hoạt động nuôi biển là một hướng mở mới cho
ngành Thuỷ sản, đã có bước khởi động ngoạn mục với các loài tôm hùm, cá
giò, cá mú, cá tráp, trai ngọc,… với các hình thức nuôi lồng, bè. Nuôi nước
ngọt đang có bước chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ tự túc sang sản xuất hàng
hoá lớn, điển hình là việc phát triển nuôi cá tra, cá ba sa xuất khẩu đem lại giá
trị kinh tế cao, nuôi đặc sản được mở rộng. Sự xuất hiện hàng loạt các trang
trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 100 nước và vùng lãnh thổ.
Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của
ngành thuỷ sản đã góp phần mở ra những còn đường mới và mang lại nhiều
bài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng
hơn vào khu vực và thế giới
2.2. 3 Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực
phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp. Dưới giác độ ngành kinh tế
quốc dân, Ngành Thuỷ sản đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực
phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn.
Có thể nói Ngành Thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực
phẩm cho người dân, không những thế nó còn là một ngành kinh tế tạo cơ hội
công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông
thôn và vùng ven biển. Những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2002 đến năm
2008, công tác khuyến ngư đã tập trung vào hoạt động trình diễn các mô hình
khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, hướng dẫn người nghèo làm ăn. Hiện tại, mô
6
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
hình kinh tế hộ gia đình được đánh giá là đã giải quyết cơ bản công ăn việc
làm cho ngư dân ven biển. Bên cạnh đó, mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư
bản tư nhân đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở các vùng,
nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ. Nghề khai thác
thuỷ sản ở sông Cửu Long được duy trì đã tạo công ăn việc làm cho 48.000
lao động ở 249 xã ven sông.
2.2.4 Góp phần tạo việc làm ,tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo
Ao hồ nhỏ là một thế mạnh của nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng nông
nông nghiệp lúa nước thì hiện nay việc tiến ra biển, kéo biển lại gần sẽ là định
hướng khôn ngoan cho một nền kinh tế công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Trong những thập kỉ qua, nhiều công trình hồ thuỷ điện đã được xây
dựng, khiến nước mặn ngoài biển thâm nhập sâu vào vùng cửa sông, ven
biển. Đối với nền canh tác nông nghiệp lúa nước thì nước mặn là một thảm
hoạ, nhưng với nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ thì nước mặn được
nhận thức là một tiềm năng mới, vì hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có thể cho
hiệu quả canh tác gấp hàng chục lần hoạt động canh tác lúa nước.
Một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được
chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản. Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá
thuỷ sản trên thị trường thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi
giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến
nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp
càng trở nên cấp bách. Chính phủ đã đưa ra nghị quyết 09 NQ/CP ngày
15/6/2000 về chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp và đó cũng là yếu tố giúp cho quá trình chuyển đổi diện
tích nuôi trồng thuỷ sản càng diễn ra nhanh, mạnh và rộng khắp hơn. Quá
trình chuyển đổi diện tích, chủ yếu từ lúa kém hiệu quả, sang nuôi trồng thuỷ
sản diễn ra mạnh mẽ nhất vào các năm 2000-2002: hơn 200.000 ha diện tích
được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản,
tuy nhiên từ 2003 đến nay ở nhiều vùng vẫn tiếp tục chuyển đổi mạnh, năm
2003 đạt 49.000 ha và năm 2007 đạt 95.400 ha. Có thể nói nuôi trồng thủy sản
đã phát triển với tốc độ nhanh, thu được hiệu quả kinh tế - xã hội đáng kể, từng
8
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, góp
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
rảo và một số loài cá như cá vược , cá mú , cá chình... Hình thức nuôi gồm
chuyên canh một đối tượng và xen canh, luân canh giữa nhiều đối tượng hoặc
nuôi trong rừng ngập mặn. Gần đây, mô hình nuôi hữu cơ bắt đầu được áp
dụng và mở rộng ở Đồng bằng sông Cửu Long.
- Nuôi trồng động, thực vật nước mặn
Là hoạt động kinh tế ương nuôi các loài thuỷ sản mà nơi sinh trưởng cuối
cùng của chúng là ở biển. Đối tượng nuôi chính là tôm, tôm hùm, cá mú, cá
giò, cá hồng, cá cam, nghêu, sò huyết, ốc hương, trai ngọc .... Hình thức nuôi
chủ yếu là lồng bè hoặc nuôi trên bãi triều. Những tỉnh trồng rong câu chủ
yếu ở Việt Nam là Hải Phòng, Thừa Thiên Huế và Bến Tre. Rong sụn là loài
mới được nhập và trồng có kết quả, đang được nhân rộng ở nhiều địa phương
ở miền Trung và Nam Bộ.
Nhìn chung, với những nỗ lực trong việc mở rộng diện tích nuôi trồng
thuỷ sản, ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất giống, chú trọng những
đối tượng nuôi thế mạnh của từng vùng, áp dụng phương thức nuôi tiên tiến,
đem lại hiệu quả cao, nhất là áp dụng công nghệ nuôi công nghiệp chu trình
khép kín, ít thay nước đối với đối tượng tôm sú, phát triển các khu nuôi trồng
thuỷ sản công nghệ cao, v.v… hoạt động nuôi, trồng các loài động, thực vật
thuỷ sinh đã thu được kết quả vượt bậc
3.2 Lĩnh vực khai thác thủy sản.
- Khai thác hải sản
Là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên trên biển và vùng nước lợ. Nhìn
chung, nghề khai thác hải sản của nước ta là nghề cá nhỏ, hoạt động ven bờ là
chủ yếu. Do sự tăng trưởng quá lớn của việc khai thác nên trữ lượng nguồn
lợi ở vùng biển ven bờ đã có dấu hiệu bị đe doạ, một số loài hải sản có giá trị
kinh tế cao đã bị khai thác quá mức. Vì vậy ngành thuỷ sản Việt Nam chủ
trương cơ cấu lại nghề khai thác để giảm áp lực đối với nguồn lợi trong vùng
Trước những nguy cơ và thách thức mới, các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản
xuất khẩu của Việt Nam đã không ngừng đổi mới phương thức quản lý và tác
11
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
phong làm việc, tích cực đầu tư máy móc và trang thiết bị hiện đại để tiến
hành qui trình tự động hoá sản xuất. Áp dụng các công nghệ tiên tiến trên thế
giới như công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghệ surimi, công nghệ ngủ
đông trong vận chuyển thuỷ sản tươi sống, công nghệ đông … Tập trung chế
biến các mặt hàng giá trị gia tăng như mặt hàng phi lê đông lạnh, sản phẩm
sẵn sàng để nấu hoặc sản phẩm ăn liền, nhờ đó tỷ trọng các mặt hàng này
trong tổng sản phẩm chế biến xuất khẩu đã tăng lên đáng kể
Nhờ việc tích cực áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm
nên số doanh nghiệp đạt các điều kiện an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Việt
Nam ngày càng nhiều và đạt tiêu chuẩn tại các thị trường khó tính như Mỹ,
EU, Nhật Bản. Việt Nam tạo được thế đứng vững chắc trên thị trường thuỷ
sản thế giới.
3.4 Các lĩnh vực hoạt động khác
a. Hệ thống sản xuất giống
Đối với các loài cá nước ngọt truyền thống, hầu hết được sản xuất giống nhân
tạo, do đó nguồn giống tương đối ổn định, cơ bản đáp ứng được nhu cầu trong
nước. Hiện nay, cả nước đã có hơn 500 trại giống thủy sản nước ngọt, sản
xuất khoảng 12 tỷ con giống/năm (riêng ở miền Tây Nam Bộ có 145 trại, mỗi
năm cung cấp 4 tỷ con giống cá da trơn (cá tra, ba sa), hơn 5000 trại giống
tôm sú (sản xuất hơn 20 tỷ con giống/năm) và hàng nghìn trại giống sản xuất
giống các loài cá biển, giáp xác, động vật thân mềm, bò sát, lưỡng cư... cung
cấp con giống phục vụ nhu cầu phát triển nuôi trồng của nhân dân ở các vùng
du lịch. Người dân đã bắt đầu đòi hỏi hàng thuỷ sản có chất lượng cao, bao bì
đóng gói thuận tiện, các mặt hàng thuỷ đặc sản tươi sống, đông lạnh và đồ
hộp đang có sức tiêu thụ mạnh lên.
II. Đặc điểm của ngành nuôi trồng thủy sản
1. Khái niệm nuôi trồng thủy sản
13
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
Ngành nuôi trồng thủy sản là một bộ phận của ngành thủy sản. Nuôi trồng
thủy sản nhằm mục đích cung cấp sản phẩm cho tiêu dùng của dân cư và cung
cấp nguyên liệu cho hoạt động chế biến thủy sản xuất khẩu
Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản góp phần vào giải quyết việc làm cho thanh
niên, lao động nông thôn, tạo được những mô hình kinh tế thuỷ sản ở các tỉnh
đem lại hiệu quả kinh tế cao… Bên cạnh đó hoạt động nuôi trồng thủy sản là
một bộ phận sản xuất có tính nông nghiệp nhằm duy trì bổ sung, tái tạo và
phát triển nguồn lợi thủy sản
2. Vai trò của nuôi trồng thủy sản
2.1 Thúc đẩy tăng trưởng
Đóng góp của nuôi trồng thủy sản trong sự tăng trưởng của nền kinh tế việt
nam là không thể phủ nhận. Sản phẩm thủy sản xuất khẩu ngày càng có giá tri
cao trên thị trường thế giới. Việc tiêu thụ những sản phẩm nảy trong nội địa
hay xuất khẩu đều giúp cho nhà nước thu được lợi nhuận góp phần không nhỏ
vào sự tăng trưởng của toàn ngành kinh tế. Bên cạnh đó nuôi trồng thủy sản
góp phần vào tạo việc làm tăng thu nhập hạn chế các tệ nạn xã hội. Nhìn
chung ngành thủy sản phát triển mở ra một cơ hội mới cho nền kinh tế của đất
nước
2.2 Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản
trồng thủy sản cao hơn so với nhiều lĩnh vực khác trong nông nghiệp nên
cùng với vệc chuyển đổi sản xuất chuyển đổi từ diện tích trồng lúa, muối kém
hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản đã tạo ra nguồn thu nhập lớn góp phần nâng
cao mức sống dân cư
2. 5 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong xu thế đất nước đang chuyển mình hòa nhịp vào nền kinh tế quốc tế
nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng có sự phát triển trong thấy. Phát triển
nuôi trồng thủy sản là một trong những biện pháp nhằm thực hiện chuyển
dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn .Bên cạnh đó phát triển nuôi trồng thủy
sản cũng đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế tham gia như
doanh nhiệp Nhà Nước, doanh nghiệp tư nhân ... đặc biệt sự tham gia của các
15
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
hộ gia đình nông thôn thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư nhân. Nuôi trồng thủy
sản phát triển bền vững cũng kéo theo sự phát triển ngành dịch vụ và công
nghiệp. Như vậy phát triển nuôi trồng thủy sản đã góp phần đưa nền kinh tế
việt nam tiến tới một cơ cấu bền vững và tiến bộ hơn .
3. Đặc điểm của hoạt động nuôi trồng thủy sản
3.1
Nuôi trồng thủy sản mang tính thời vụ
Do thủy sản có quy luật sinh trưởng và sinh trưởng riêng nên dẫn tới trong
hoạt động nuôi trồng mang tính mùa vụ rõ rệt. Theo Lenin thì tính thời vụ thể
hiện ở chỗ thời gian lao động không ăn khớp với thời gian sản xuất vậy nên
người lao động luôn phải tuân theo quy luật riêng đó. Tính thời vụ trong nuôi
4.1 Nhân tố tự nhiên
Mỗi sinh vật sinh sống trên trái đất này đều phụ thuộc vào những yếu tố tự
nhiên nhất định, các loài thủy sản cũng không phải là ngoại lệ. Nhân tố này
quyết định đến khả năng nuôi trồng các loài thủy sản trên từng vùng, từng
lãnh thổ, và ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản lượng nuôi trồng thủy sản.
Các nhân tố tự nhiên như đất đai, khí hậu, thời tiết, gió, nhiệt độ, mưa ... đã
ảnh hưởng đến điều kiện sống, khả năng sinh sản và di trú của loài thủy sản.
Nhiệt đô đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của sinh vật nói
chung và các loài nuôi trồng thủy sản nói riêng. Khả năng chống chịu của
chúng nằm trong khoảng giới hạn nhất định. Sự thay đổi nhiệt độ là điều kiện
phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy ra cho các loài nuôi. Nhiệt độ tăng cao
ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của thủy sản. Tác động của
thời tiết cũng ảnh hưởng mạnh đến môi trường ao nuôi . Đối với nghề nuôi
thủy sản nuôi mặn lợ thì độ mặn là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và
phát triển của loài nuôi. Khi mưa lớn độ mặn trong các ao nuôi giảm đi đột
ngột vượt ra khỏi khả năng chịu đựng làm cho tôm, cá bị sốc và chết hoặc
chậm lớn.
17
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
Bên cạnh nhiệt độ, đất đai thì nguồn nước là yếu tố đặc biệt quan trọng đối
với các loài thủy sản bởi vì mỗi loài đều có những đặc điểm sinh lý, sinh thái
khác nhau như cá thì có cá nước ngọt, cá nước mặn và lợ dẫn tới mỗi loài đều
có những phương pháp khác nhau. Chính vì vậy để nuôi trồng thủy sản đạt
hiệu quả cao và phát triển bền vững phải chú ý giải pháp về môi trường, giải
pháp về quản lý, giải pháp về kỹ thuật nuôi trồng ... làm cơ sở để hạn chế sự ô
nhiễm nguồn nước mặt trên diện rộng, bảo vệ chất lượng môi trường nước
các huyện Cẩm Xuyên (4.620ha), Hương Khê trong đó tập trung ở hồ Kẻ Gỗ
nên khả năng đưa vào nuôi trồng là rất lớn đặc biệt trong kế hoạch nuôi quảng
canh cải tiến và nuôi lồng. Tiếp đến là huyện Can Lộc chủ yếu tại hai đập Cù
Lây, Kẻ Thờ Trại Tiểu ... nhưng loại hình chỉ hợp cho khai thác đánh bắt tự
nhiên
Bảng 1.1 : Diện tích tiềm năng NTTS nước ngọt của tỉnh Hà Tĩnh
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Địa phương
Hương Sơn
Vũ Quang
Hương Khê
Đức Thọ
Nghi Xuân
TX Hồng Lĩnh
Can Lộc
Thạch Hà
1.740
1.640
250
4.300
1.960
5.660
360
310
90
180
260
480
80
380
190
250
60
230
80
200
110
70
20
150
240
160
60
280
30
Tĩnh
Kỳ Anh
1.460
130
190
630
460
Tổng cộng
20120 2410
1510
7910
7290
Nguồn : Phòng KHPT ngành – Sở kế hoạch và đầu tư Hà Tĩnh
0
410
Bên cạnh các loại hình nuôi ao hồ thì còn có loại hình nuôi ruộng trũng
khá phát triển với tổng diện tích tiềm năng 7.290 ha. Hiện nay loại hình tiềm
19
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
năng này đang phát triển rất mạnh nhất là các huyện vùng bán sơn địa đồng
bằng và vùng ven sông. Điển hình nhất là các huyện Can Lộc, Đức Thọ ...
tới nếu có sự đầu tư mạnh mẽ thì nuôi trồng thủy sản của tỉnh có sự phát triển
vượt bậc
2. Tiềm năng về giống loài thủy sản
Cùng với lợi thế về diện tích nuôi trồng thì Hà Tĩnh còn rất phong phú
về giống loài thủy sản với nguồn lợi loài cá nước ngọt khoảng trên 300 loài,
nguồn lợi từ cá nước mặn khoảng 100 loài, ngoài ra còn có khoảng 10 loài
tôm và rất nhiều họ nhuyễn thể như trai, hầu, nghêu, sò... Nguồn lợi giống
loài đa dạng về cả số lượng lẫn giống loài trong đó có nhiều loài có giá trị
kinh tế cao như tôm sú, tôm he, cua biển, mè, trắm cỏ ...Bên cạnh đó thành
phần giống loài sinh vật phù du, loài sinh vật đáy làm thức ăn cũng phong phú
và đa dạng như giáp xác, ấu trùng...
Bảng 1.2 : Nguồn lợi thủy sản ở Hà Tĩnh
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Cá
Cá song
Tôm chân trắng
Tôm sú
Tôm rảo
Tôm he
Tôm càng xanh
Cua
Ghẹ
Baba
ếch
Nguồn : Phòng kế hoạch phát triển kinh tế ngành
Từ bảng thống kê các loài trên thấy được rằng đối tượng nuôi trồng của
ngành thủy sản Hà Tĩnh cũng rất phong phú và đa dạng tạo điều kiện cho phát
triển nuôi trồng rộng khắp các huyện, thị xã trong tỉnh
3. Tiềm năng về lao động
21
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
Theo số liệu thống kê dân số trung bình tỉnh đến năm 2007 là 1.290.000
người phân bố trong 10 huyện và 1 thành phố, 1 thị xã với tổng diện tích
6.026km2. Xét theo ngành kinh tế lao động trong các ngành nông –lâm – ngư
493.496 người chiếm 80.6% số lao động toàn tỉnh. Nguồn lao động làm việc
trong ngành thuỷ sản Hà Tĩnh khá lớn, 23.565 người, chiếm 3,8 % số lao
động toàn tỉnh, lực lượng lao động này chịu khó, cần cù, thông minh, có khả
năng tiếp thu tốt khoa học công nghệ mới. Trong thời gian tới nếu được đầu
tư lớn về khoa học kỹ thuật và đào tạo về nguồn nhân lực thì lao động Hà
Tĩnh trở thành nguồn lao động chủ yếu để phát triển tỉnh nói riêng và cả nước
thiện môi trường.
Như vậy cùng với quan điểm của thế giới về phát triển bền vững thì nước
ta đã có những chính sách và quyết định nhằm phát triển tất cả các ngành
nghề theo hướng bền vững cả về kinh tế xã hội và môi trường trong đó có
nuôi trồng thủy sản. Đảng ta đã đưa ra nhiều quan điểm mới về phát triển bền
vững của ngành thủy sản. Sự phát triển bền vững đó được đánh giá ở các mặt
đó là mặt kinh tế, xã hội, môi trường
Thể hiện về mặt kinh tế đó là sự ổn định trong tăng trưởng kinh tế
ngành trên cơ sở cân đối ngành với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực hợp
lý đặc biệt trong sử dụng công nghệ sạch, cơ cấu GDP lành mạnh nhằm đảm
bảo cho tăng trưởng GDP ổn định lâu dài. Tỷ lệ đóng góp của ngành cao hơn,
ổn định hơn
Bên cạnh đó cần có sự ổn định trong cơ cấu của ngành thủy sản như
chuyển biến về cơ cấu nuôi trồng thủy sản cần tích cực hơn, chuyển dần từ
nuôi trồng những mặt hàng sơ chế có giá trị thấp sang những mặt hàng có giá
trị gia tăng cao hơn. Tỷ trọng của nuôi trồng thủy sản trong toàn ngành thủy
sản cần đạt tốc độ cao hơn và ổn định hơn góp phần thúc đẩy sự phát triển
chung của toàn ngành. Mặt khác sự bền vững về kinh tế của nuôi trồng thủy
sản còn thể hiện ở sự phát triển và ổn định thị trường đầu ra, một mặt giữ
vững và khai thác thị trường một mặt đổi mới công nghệ đáp ứng nhu cầu
ngày càng khắt khe của thị trường, nâng cao sức cạnh tranh của thủy sản Việt
Nam
24
Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục
Bền vững trong ngành còn phải thể hiện ở mặt xã hội, sự phát triển của
nuôi trồng thủy sản cần đặt mục tiêu phát triển vì con người lên hàng đầu như