–
BÀI GIẢNG Y HỌC QUÂN SỰ
Đại Tá Bác Sỹ BÙI XUÂN QUANG
BÀI 17
CÔNG TÁC PHA CHẾ DÃ NGOẠI
TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC
MỤC ĐÍCH YÊU CẦU BÀI GIẢNG:
1. Mục đích yêu cầu : Nắm vững nội dung và biết triển khai công tác pha chế dã
ngoại trong chiến tranh.
THỜI GIAN GIẢNG BÀI: 6 tiết (2 lý thuyết, 4 thực hành)
ĐỐI TƯỢNG GIẢNG:
- Sinh viên Dược năm thứ 4 – 5 hệ dài hạn và sinh viên Dược năm thứ 3 – 4 hệ
chuyên tu, tại chức Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG BÀI GIẢNG :
CÔNG TÁC PHA CHẾ DÃ NGOẠI TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC.
I. VỊ TRÍ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC PHA CHẾ DÃ NGOẠI:
- Pha chế trong điều kiện dã ngoại là tiến hành pha chế thuốc men, dịch truyền
phục vụ thương, bệnh binh trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn rất nhiều so với điều
kiện tĩnh tại, về thời gian, cơ sở và phương tiện làm việc – so với thời bình.
- Pha chế dã ngoại được tiến hành ở trạm quân y trung đoàn, trạm quân y sư đoàn,
đội điều trị, đội phẫu thuật, bệnh viện dã chiến...
- Trong cuộc chiến tranh giải phóng trước kia đều phải thực hiện công tác pha chế
dã ngoại. Qua tổng kết các chiến dịch lớn trong chiến tranh giải phóng của ta trước
đây, thì lượng dịch truyền sử dụng cho chống sốc là rất lớn: cứ 2000 thương binh vào
trạm quân y sư đoàn thì cần 250 lít đến 500 lít dịch truyền, chưa kể dịch truyền để
dùng trong phẫu thuật và các trường hợp cấp cứu và điều trị nội khoa khác.
- Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ở biên giới phía Tây Nam và biên giới phía
+ Kali Clorua
: 1,5 gam
+ Glucoza
: 20 gam
Dùng để pha trong 1 lít nước đun sôi để nguội để điều trị sốc nhẹ, mất nước.
- Tuyến quân y sư đoàn và đội điều trị phải tự pha chế đảm bảo khoảng 75%
lượng dung dịch.
- Ở các bệnh viện dã chiến quân đoàn, bệnh viện quân khu, được cấp nguyên liệu,
để tự pha chế đảm bảo lấy nhu cầu dịch truyền cho mình.
II. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI PHA CHẾ TRONG ĐIỀU KIỆN DÃ NGOẠI:
1. Yêu cầu:
1.1- Chuẩn bị phương tiện dụng cụ pha chế:
- Phải có một bộ dụng cụ dùng thường xuyên và một bộ dự trữ gồm:
+ Dụng cụ để cải tạo địa hình và xây dựng cơ sở.
+ Dụng cụ để triển khai cơ sở pha chế.
+ Dụng cụ chuyên môn để pha chế dung dịch tiêm truyền.
1.2- Chuẩn bị hóa chất và nguyên liệu pha chế:
Nguyên liệu và hóa chất dùng để pha chế dã ngoại do cấp trên cấp (ở cơ số kiện
nguyên liệu).
Hóa chất dùng để xử lý chai, lọ, xử lý nước: axit clohyđric, phèn, thuốc tím...
1.3- Huấn luyện và xây dựng đội ngũ nhân viên pha chế dã ngoại :
+ Hình thức huấn luyện :
- Tập tổng hợp: Sau khi tập phân đoạn thành thạo thì chuyển sang tổng hợp. Tập
tổng hợp cần phải có thời gian thường được tổ chức định kỳ 6 tháng 1 lần hoặc diễn
tập quân y, diễn tập hậu cần hoặc kết hợp với diễn tập quân sự để huấn luyện.
Đánh giá quá trình tập luỵên theo chất lượng và thời gian.
Hình 2:
Bàn để pha chế : Dài 1,2m, rộng 0,7m
Bàn để cân
: Dài 0,8m, rộng 0,7m
Có thể dùng mô đất hoặc thùng cơ số để làm bàn. Nếu dùng hai mô đất làm bàn
thì giảm được thời gian phải đào một khối lượng lớn đất. Nếu hầm có nắp thì lớp đất
lấp dày 0,5 – 0,8m trên có phủ nilon che mưa. Hầm không làm nắp thì trên che tăng
bạt. Chung quanh có khơi rãnh thoát nước. Tiến hành pha chế ở hầm có nắp thì công
việc sẽ khó khăn phức tạp hơn vì thiếu ánh sáng, thiếu không khí, người pha chế
không thể làm việc được lâu.
Ở phía trong hầm, tường hầm, trần hầm, nền hầm và bàn pha chế, bàn cân đều
căng trải nilon, nền hầm lát ván.
Bếp cất nước và tiệt trùng thuốc thường phải xây dựng theo bếp hoàng cầm để
chống khói ban ngày và ánh sáng ban đêm. (Hình 3 và 4).
Kích thước và cấu trúc của bếp Hoàng Cầm gồm có:
CÔNG TÁC PHA CHẾ DÃ NGOẠI TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC
114
BÀI GIẢNG Y HỌC QUÂN SỰ
–
Đại Tá Bác Sỹ BÙI XUÂN QUANG
Hình 3: Sơ đồ cấu trúc bếp Hoàng Cầm
Hình 4: Sơ đồ đứng dọc của bếp Hoàng Cầm
+ Giải quyết nguồn nước để cất:
-
Nước ao, hồ
-
Nước khe suối, nước sông
-
Nước mưa
-
Nước giếng
+ Có 3 biện pháp làm trong nước:
Để tự lắng: Dùng nồi hấp chõ xôi, thùng đựng cơ số thuốc hoặc đan sọt, lót
nilon, chứa đầy nước để tự lắng. Cách làm này lâu không đảm bảo thời gian, nhất là
nước chứa nhiều cặn dạng keo.
Làm trong nước bằng phèn: Chứa nước vào các dụng cụ nói trên, cho phèn
chua và quấy tan, trung bình từ 0,1 – 0,2g phèn chua cho một lít nước cần làm trong,
rồi để lắng.
CÔNG TÁC PHA CHẾ DÃ NGOẠI TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC
116
BÀI GIẢNG Y HỌC QUÂN SỰ
lớp than, cát, sỏi để
nước ngấm qua đó vào
giếng (H.7)
- Nếu có tạp chất
sắt, nước có màu đục
thì chỉ cần lọc qua một
lớp cát vàng chiều dày
từ 25cm. Với nguồn
nước có một lượng sắt
dưới 20mg/lít khi qua
bể lọc chỉ còn lại từ
0,1 – 0,15mg/lít.
- Nếu thêm một lớp than gỗ dày từ 15 – 25cm xếp xen kẽ với lớp cát vàng và sỏi
thì ngoài khả năng khử sắt, mùi vị, làm trong, nó còn có khả năng khử được mùi và
chất hữu cơ (giải quyết được 70 – 80%), một lượng amôniac nhỏ từ 0,5mg/l trở xuống.
- Với nguồn nước giếng khơi thì tuỳ theo chất lượng nước của từng giếng mà cần
làm trong hay không làm trong.
- Nước mưa có thể dùng vải nilon căng rộng để hứng, dự trữ và vẫn phải xử lý
bằng cách lọc như trên trước khi cất nước.
+ Xử lý nước để cất: như cách xử lý nước cất ở thời bình (cất nước dùng cho
pha chế).
+ Kỹ thuật cất nước: kỹ thuật cất nước như thời bình
+ Chuẩn bị chai, nút và xử lý chai nút: như thời bình
+ Vệ sinh buồng pha chế:
CÔNG TÁC PHA CHẾ DÃ NGOẠI TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC
117
CÔNG TÁC PHA CHẾ DÃ NGOẠI TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC
118
BÀI GIẢNG Y HỌC QUÂN SỰ
–
Đại Tá Bác Sỹ BÙI XUÂN QUANG
Nhược điểm của phương pháp này là nhiệt độ trong nồi không đồng đều, các
chai xếp phía trên, nhiệt độ ngoài chai chỉ đạt 90 – 950C và trong chai là 80 – 850C Để
có nhiệt độ đồng đều trong nồi thì khắc phục như hình vẽ sau: (Hình 10)
Hình 10:
+ Khả năng tiệt khuẩn phụ thuộc vào:
-
Loại vi khuẩn và dạng cuả nó (dinh dưỡng, nha bào).
-
Thời gian tiệt khuẩn (dạng nha bàolâu hơn).
-
Số vi khuẩn hiện diện trước khi tiệt khuẩn.
-
Đại Tá Bác Sỹ BÙI XUÂN QUANG
- Về lý thuyết thì không bao giờ xác định được sự tiệt khuẩn tuyệt đối.
III. TRANG BỊ DỤNG CỤ ĐỂ TRIỂN KHAI PHA CHẾ DUNG DỊCH TIÊM
TRUYỀN TRONG ĐIỀU KIỆN DÃ CHIẾN
1. Dụng cụ để xây dựng và tái tạo địa hình
TT
Tên trang bị dụng cụ
Đ/v tính
Số lượng
Cái
2
1
Dao (dao tông )
2
Xẻng
-
2
1
7
Cưa tay 0,8 m
-
1
Ghi chú
Cộng 7 khoảng
2. Dụng cụ để triển khai cơ số pha chế
TT
Tên trang bị dụng cụ
Đ/v tính
Số lượng
1
Lều bạt nhỏ 8m2
Bộ
2
1
6
Bàn pha chế dã ngoại
-
1
7
Kẹp sắt
Cái
70
8
Dây nilon
Mét
120
9
Màn pha chế bằng Polyetylen 2 x 1,5m x 2
Đ/v tính
Số lượng
1
Nồi cất nước 20 lít/1 (Cục QY)
Cái
2
2
Dây dẫn lưu
Bộ
2
3
Nồi hấp áp lực 10 kg
Cái
1
4
8
Đũa thuỷ tinh
Cái
4
9
Ca nhôm 500ml
-
2
10
Khay men 30 x 40
-
2
11
Hộp hấp bông băng vừa
-
-
1
16
Chai đựng dịch truyền 500ml (cả nút)
Bộ
180
17
Chai đựng dịch truyền 250ml (cả nút)
Bộ
50
18
Nát cao su dịch truyền
Cái
100
19
23
Bộ soi trong nguồn sáng Pin
-
01
24
Chậu nhựa nhỏ
Cái
02
25
Sô nhựa xách nước 15 lít
-
02
Ghi chú
CÔNG TÁC PHA CHẾ DÃ NGOẠI TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC
121
Đèn pin và pin
-
02
29
Áo công tác + mũ, mạng
Bộ
05
30
Chổi lông rửa chai
Cái
05
31
Bàn chải rửa tay
Cái
02
01
36
Sổ pha chế
-
01
37
Nhãn thuốc các loại
-
1000
Ghi chú
IV. KẾT LUẬN:
Công tác pha chế dã ngoại thời chiến, ở tuyến chiến thuật, chiến dịch là sự kế
tục truyền thống hậu cần tại chỗ và rất cần thiết, có vị trí rất quan trọng của công tác
tiếp tế quân y trong chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ Quốc.
Pha chế dung dịch tiêm truyền ở điều kiện dã ngoại là tiến hành một kỹ thuật có
ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng thương binh, bệnh binh trong điều kiện hết sức khó
khăn; do vậy chúng ta cần phải quan tâm đúng mức, chuẩn bị tốt ngay từ trong thời
bình để đáp ứng tốt cho thời chiến.
CÔNG TÁC PHA CHẾ DÃ NGOẠI TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC