Bài tập học kỳ Dân sự 1 Một số vấn đề về người không được quyền hưởng di sản theo qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự - Pdf 35

Bài tập học kỳ Dân sự 1 - Một số vấn đề về người không được quyền
hưởng di sản theo qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Dân sự 1

Quan hệ về thừa kế là một trong những quan hệ quan trọng trong nhóm quan hệ tài sản của luật
dân sự. Pháp luật Việt Nam ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền thừa kế của công dân, trong đó
có quyền định đoạt di sản của mình cho những người còn sống và quyền được thừa kế. Chế
định về quyền thừa kế là một chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự năm 2005 được Quốc
hội khóa 11 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6
năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2006. Trong những năm gần đây, số vụ
việc tranh chấp về thừa kế luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các tranh chấp dân sự và có tính phức
tạp cao. Bởi vậy, nghiên cứu chế định thừa kế có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và đời sống thực tế.
Trong đó có một số trường hợp về quyền thừa kế, có những di chúc bị vô hiệu một phần hoặc
toàn phần thì phần di sản liên quan đến phần di chúc vô hiệu sẽ được chia theo quy định của
pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan. Theo đó, có
một số trường hợp pháp luật tước quyền hưởng di sản của cá nhân, họ là những người đáng lẽ
được hưởng di sản nhưng lại có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức. Để làm rõ hơn về vấn đề
này, em xin phép được chọn đề tài số 23: “Một số vấn đề về người không được quyền hưởng di
sản theo qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự” làm đề tài cho bài tập lớn học kì của
mình.

NỘI DUNG

I. Định nghĩa người không được quyền hưởng di sản.

Người không được hưởng di sản hay người bị tước quyền hưởng di sản được quy định trong
Điều 643 BLDS 2005 gồm cả người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc. Đó là
những người đáng lẽ được hưởng di sản vì theo quy định của pháp luật vì họ là người thừa kế
của người để lại di sản hoặc đã được người lập di chúc cho họ hưởng di sản nhưng những
người này lại có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản
theo pháp luật cũng như theo di chúc.

trong trường hợp thi hành pháp luật). Vì những lí do đó, liệu trong những trường hợp trên thì
việc xem xét hình thức lỗi của người có hành vi xâm phạm đến tính mạng của người để lại di
sản có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định người đó có được hưởng di sản hay không?

• Về hành vi ngược đãi, vi phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản.

Định nghĩa về ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản
là những đối xử trái pháp luật, trái đạo đức thường được thực hiện qua các hành động như:
chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, bỏ đói, tra tấn… hay bất cứ hành vi trái đạo đức nào làm cho
người để lại di sản tổn thương, tủi nhục về mặt tinh thần, danh dự cũng như bị hành hạ dã man
dẫn tới những đau đớn thể xác.


Dẫu vậy, pháp luật định nghĩa hành vi ngược đãi thế nào thì được coi là vi phạm nghiêm trọng
thì pháp luật dân sự Việt Nam chưa quy định và giải thích cụ thể bằng văn bản. Theo pháp luật
quy định thì người có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người để
lại di sản chỉ bị tước quyền hưởng di sản khi hành vi đó đã bị kết án bằng một bản án có hiệu
lực pháp luật. Tuy nhiên, ta có thể hiểu rằng khi những hành vi nói trên thỏa mãn đầy đủ các dấu
hiệu của cấu thành tội phạm và đã bị kết án thì hành vi đó đã hàm chứa trong đó tính chất
nghiêm trọng. Các cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết việc thừa kế trong trường hợp này
không cần xác định tính nghiêm trọng của các hành vi đó nữa mà có quyền tuyên bố những
người có hành vi đó không được quyền hưởng di sản ngay lập tức.

2. Điểm b khoản 1 điều 643 BLDS: Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để
lại di sản.

Theo điểm b khoản 1 Điều 643 BLDS, người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người
để lại di sản cũng sẽ không có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật di sản của người được nuôi
dưỡng. Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa người để lại di sản với người thừa kế theo pháp
luật khi người để lại di sản còn sống. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng giữa các cá nhân không chỉ là

pháp luật đương nhiên người con đó không được hưởng di sản thừa kế của cha, mẹ theo pháp
luật và kể cả nếu cha, mẹ có di chúc lại cho người con đó được hưởng di sản thừa kế của cha,
mẹ thì pháp luật cũng tước đi quyền hưởng di sản đó.

b. Người để lại thừa kế là con của họ:

Cha mẹ chỉ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con khi con chưa thành niên hoặc con đã thành
niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình (khoản 1 điều 36 LHNGĐ 2000). Do đó, cha mẹ luôn là người thừa kế theo luật đối
với di sản do con để lại. Tuy nhiên, cha mẹ sẽ không được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với
di sản của con nếu cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con khi người con đó trong
tình trạng nêu trên.

Tương tự như vậy, một người khi đã có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc trên 15 tuổi nhưng có
sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ có thể lập di chúc để định đoạt tài sản. Do đó, cha
mẹ có thể là người thừa kế theo di chúc của con trong ba trường hợp sau: con đã thành niên có
năng lực hành vi dân sự, con đã tròn 15 tuổi, con đã thành niên nhưng tàn tật (không mất năng
lực hành vi dân sự) lập di chúc và chỉ định cha, mẹ là người thừa kế di sản của người con đó.
Trong đó, cha mẹ chỉ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con trong hai trường hợp là: con đã tròn 15 tuổi
hoặc con đã thành niên nhưng tàn tật (không mất năng lực hành vi dân sự). Như vậy, chỉ có thể
tước quyền hưởng di sản theo di chúc của cha, mẹ đối với di sản thừa kế của con nếu họ không
thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con trong hai trường hợp đã nêu.

c. Người để lại thừa kế là anh, chị hoặc em của họ:


Điều 48 LHNGĐ 2000: “Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có
nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ
không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con”.


vụ đó nhưng lại không thực hiện thì ông, bà cũng không được hưởng di sản theo di chúc của
cháu theo pháp luật đã quy định tại khoản 1 điều 47 LHNGĐ 2000.


f. Người để lại thừa kế là vợ hoặc chồng của họ:

LHNGĐ 2000 không xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa vợ chồng mà chỉ xác định nghĩa vụ cấp
dưỡng lẫn nhau sau khi họ ly hôn. Trong trường hợp vợ chồng đã được tòa án cho ly hôn bằng
một bản án đã có hiệu lực pháp luật mà một bên chết thì người kia không còn là người thừa kế
theo pháp luật của người chết nữa, nhưng họ vẫn có thể là người thừa kế theo di chúc. Trong
trường hợp này, nếu sau khi ly hôn, người còn sống (chồng hoặc vợ) có nghĩa vụ cấp dưỡng
người để lại di sản theo di chúc mà vi phạm nghĩa vụ đó thì cũng sẽ bị tước quyền hưởng di sản
theo di chúc.

3. Điểm c khoản 1 điều 643 BLDS: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người
thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền
hưởng:

Đối với điểm c của khoản 1 Điều 643 thì người mà có hành vi “cố ý” xâm phạm tính mạng người
thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng.
Ở đây, người thừa kế khác được hiểu là những người thừa kế cùng hàng với người có hành vi
vi phạm hoặc là người thừa kế khác hàng nhưng bắt buộc người có tính mạng bi xâm phạm
phải là người thừa kế ở hàng thừa kế liền trên với người có hành vi xâm phạm và những người
đó không có người thế vị. Cũng chỉ có thể tước quyền hưởng di sản của người thừa kế khi hành
vi xâm phạm đến tính mạng của người thừa kế khác của họ là hành vi cố ý và đã bị tòa án kết
án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên vẫn có ngoại lệ là nếu người nào chỉ vô ý
làm chết người thừa kế khác hoặc cố ý xâm phạm nhưng không phải với mục đích chiếm đoạt
một phần hoặc toàn bộ di sản thì không chịu sự ràng buộc bởi quy định này.

4. Điểm d khoản 4 điều 643 BLDS: Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để

tâm lý, tinh thần của người để lại di sản buộc họ phải lập một di chúc để định đoạt di sản của
mình trái với ý nguyện đích thực của họ.
− Hành vi sửa chữa di chúc là hành vi của một người trong việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ
nội dung của di chúc với mục đích nhằm hưởng phần di sản nhiều hơn so với phần di sản mà
người lập di chúc định đoạt cho mình hoặc nhằm hưởng toàn bộ di sản của người lập di chúc.
− Người có hành vi giả mạo di chúc được hiểu là người có hành vi lập một di chúc mạo danh
người để lại di sản khiến cho những người khác tưởng lầm rằng người chết có để lại di chúc
(mặc dù người chết không hề để lại di chúc) nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với
ý chí của người để lại di sản.
− Hủy di chúc là hành vi của người đã tiêu hủy di chúc của người để lại di sản làm cho những
người thừa kế khác tưởng rằng người chết không để lại di sản hoặc theo mong muốn có lợi cho
người có hành vi hủy di chúc đó.

Tuy nhiên, pháp luật luôn luôn tôn trọng ý chí của người để lại di sản, cụ thể, theo khoản 2 Điều
643 BLDS thì những người có hành vi vi phạm vẫn có thể được hưởng di sản theo di chúc nếu


người để lại di sản biết hành vi của họ mà vẫn thể hiện ý chí là cho những người này được
hưởng trong di chúc.

Theo quy định này pháp luật Việt Nam đã thể hiện rõ sự nhân đạo và phù hợp với truyền thống
của nhân dân ta, giúp cho những người có hành vi vi phạm thấy được sự nhân ái của người để
lại di sản mà tự mình sửa chữa, cải tạo để trở thành một công dân tốt.

III. Thực tiễn áp dụng điều 643 BLDS và một số tranh chấp thực tế liên quan đến người không
được hưởng di sản theo pháp luật.

1. Thực tiễn về vấn đề thừa kế liên quan đến người không có quyền hưởng di sản.

Trong thực tiễn có rất nhiều trường hợp con cháu vi phạm nghĩa vụ đạo lý đối với cha mẹ, ông


Cơ sở để áp dụng các quy định của pháp luật theo điểm c khoản 1 Điều 643 BLDS là phải
chứng minh được động cơ phạm tội của người có hành vi vi phạm tức là việc vi phạm phải
nhằm mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế có tính mạng bị
xâm phạm đáng lẽ được hưởng nếu còn sống.

Thứ nhất, hành vi vi phạm phải được xảy ra trước thời điểm mở thừa kế. Sau khi thừa kế được
mở mỗi người thừa kế trở thành chủ sở hữu phần tài sản thừa kế của mình, nếu một người
thừa kế chết thì phần di sản mà đáng lẽ khi còn sống họ được hưởng sẽ do người thừa kế thế vị
của họ hưởng (Điều 677 BLDS), trường hợp người chết không có người thừa kế thế vị hoặc
phần di sản thừa kế của họ được định đoạt bởi một bản di chúc có hiệu lực pháp luật và người
“cố ý tước đoạt tính mạng người thừa kế” cũng nằm trong số những người có quyền hưởng
thừa kế của người bị giết thì trường hợp này sẽ áp dụng điểm a khoản 1 Điều 643. Việc áp dụng
nguyên tắc này chỉ được áp dụng trong trường hợp người vi phạm hành động với mục đích làm
tăng phần thừa kế của mình một cách “trực tiếp” trong phần di sản mà họ và người có tính mạng
bị xâm phạm có quyền thừa kế chung.

Thứ hai, trong mỗi một vụ án, động cơ phạm tội phải được ghi nhận trong bản án kết án của
người có hành vi vi phạm. Sẽ không hợp lí nếu kết án một người có ý định chiếm đoạt một tài
sản không tồn tại vào thời điểm phạm tội và cả ở thời điểm xét xử mà chỉ có thể được tuyên sau
khi đã mở thừa kế, vì lí do này mà bản án sẽ không thể tuyên trước khi mở thừa kế.

Thứ ba, hành vi vi phạm thường chỉ xảy ra đối với những người thừa kế có quyền hưởng di sản
theo pháp luật, ít khi xảy ra đối với những người được chỉ định trong di chúc. Tuy nhiên cũng có
một vài trường hợp ngoại lệ như khi một người biết được nội dung của di chúc là để lại toàn bộ
di sản cho hai người thừa kế cùng hàng là người đó và một người nữa (trường hợp chỉ có hai
người này là hai người thừa kế duy nhất ở hàng đó) thì một người có thể xâm phạm tính mạng
người thừa kế kia với mục đích chiếm một phần di sản hoặc toàn bộ di sản nếu người thừa kế
kia không có người thế vị.


Út mua vào năm 1968 (lúc này ông Khôi đang sống với bà). Năm 1989, UBND TP Đà Nẵng công
nhận quyền sở hữu ngôi nhà trên đứng tên bà Bùi Thị Út . Năm 1978 bà Liễu chết, ông Khôi đưa
các con về sống chung lại với bà Út tại ngôi nhà số 189 (số mới) 79 (số cũ) Trần Cao Vân - Đà
Nẵng. Bà Út và các con riêng của chồng sống với nhau rất tốt Năm 1990, bà Bùi Thị Út chết.
Tháng 9-2006, bà Võ Thị Xuân yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo di chúc của bà Bùi Thị Út để lại
ngày 22-5-1984. Trong bản di chúc bà Út để lại di sản thừa kế cho 4 người con gái và 2 cháu
trai. Về phía bị đơn và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan cho rằng: Bản di chúc do bà


Xuân xuất trình là giả mạo và yêu cầu chia thừa kế theo luật. Và theo Thông báo ngày 28-22007 của Tổ chức giám định Công an TP Đà Nẵng đã xác định “chữ ký và con dấu của người
xác thực di chúc là giả”

Trong vụ án :
− Nguyên đơn : Bà Võ Thị Xuân.
− Bị đơn : Ông Võ Ngọc Khôi.
Như vậy, trong trường hợp này việc chia di sản thừa kế tuân theo pháp luật vì bà Bùi Thị Út
không để lại di chúc hoặc di chúc bị thất lạc.

Tòa án nhân dân quận TK đã xử và quyết định:

1. Bác toàn bộ yêu cầu đòi chia di sản và tước quyền thừa kế theo luật của bà Võ Thị Xuân đối
với di sản.

2. Công nhận sự thỏa thuận về việc chia di sản thừa kế như sau: 44,21m2 đất tại số 189 Trần
Cao Vân có giá trị 120.000.000đ là di sản thừa kế do bà Bùi Thị Út để lại được giao ông Võ
Ngọc Khôi quản lý sử dụng và ông Nguyễn Văn Nghĩa từ chối nhận di sản thừa kế nên ông Khôi
phải trích trả kỉ phần thừa kế cho những người sau: Trả cho ông Võ Ngọc Thanh, bà Nguyễn Thị
Thu, bà Võ Thị Hương mỗi người là 30.000.000đ.

Trong tình huống trên, ta thấy được rằng bà Xuân đã có hành vi cung cấp di chúc giả được xác

Lẽ đơn giản vì ai cũng là con người, có cảm xúc và mối quan hệ gắn bó với nhau, pháp luật tuy
nghiêm khắc và phải khách quan nhưng cũng là những điều được tạo ra để bảo vệ mối quan hệ
giữa con người với con người cho nên cũng cần xét đến cảm tính để có những quyết định cuối
cùng vừa hợp tình, vừa hợp lý.

KẾT LUẬN

Những vấn đề xác định những người nào không được quyền hưởng di sản của người để lại di
sản là những vấn đề quan trọng trong khi chia thừa kế đối với di sản của người chết. Cùng
những hiểu biết về vấn đề này sẽ giúp cho Tòa án, cá nhân có thẩm quyền có những phán xử
vừa chính xác đúng với quy định của pháp luật vừa phù hợp với đạo đức xã hội. Ngoài những ý
nghĩa trên, quy định của pháp luật về người không được quyền hưởng di sản còn có tính kỉ
cương, làm gương đối với mọi người về hậu quả pháp lý mà họ sẽ phải nhận nếu thực hiện
những hành vi trái pháp luật cũng như đạo đức xã hội. Tuy nhiên, cũng còn một số điểm cần
phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với bối cảnh xã hội phát triển đa dạng như bây giờ. Em
mong rằng trong lần sửa đổi kế tiếp, bộ luật dân sự có thể hoàn thiện hơn nữa các quy định về
thừa kế nói chung cũng như người không được quyền hưởng di sản nói riêng. Cuối cùng, do
những hạn chế về nhận thức và cách thức tiếp cận vấn đề, và đây là một lĩnh vực lớn cần sự
am hiểu sâu rộng về điều luật và thực tế xã hội, toà án, cho nên bài tập của em còn những hạn
chế nhất định, em rất mong nhận được sự cảm thông, góp ý của các thầy cô và các bạn.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ luật dân sự năm 2005
2. Luật thừa kế Việt Nam – TS Phùng Trung Tập – NXB Hà Nội
3. Giáo trình Luật dân sự Việt Nam – TS Lê Đình Nghị - NXB Giáo dục Việt Nam.
4. TS. Nguyễn Minh Tuấn, Pháp luật thừa kế của Việt Nam những vấn đề lí luận và thực tiễn,
Nxb. Lao động – Xã hội.



• Chuyện nghề Luật (2)
• Công chứng chứng thực (8)
• Công pháp quốc tế (57)


• Đại cương văn hóa VIệt Nam (11)
• Đề cương môn học (5)
• Đề cương ôn tập (149)
• Đề thi (12)
• Đề thi vấn đáp (23)
• Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam (7)
• Giáo dục thể chất (2)
• Giáo trình (75)
• Hợp đồng thương mại quốc tế (2)
• Hợp đồng trong thương mại (1)
• Khoa học điều tra hình sự (2)
• Khoa học điều tra tội phạm (3)
• Khóa luận tốt nghiệp (3)
• Khoa Luật ĐH Quốc gia HN (1)
• Khoa Luật ĐH Vinh (2)
• Kinh tế học đại cương (12)
• Kinh tế vi mô (9)
• Kinh tế vĩ mô (4)
• Kỹ năng chung về tư vấn pháp luật (2)
• Kỹ năng đàm phán ký kết điều ước quốc tế (4)
• Kỹ năng giải quyết tranh chấp thương mại (1)
• Kỹ năng giao tiếp nghề luật (6)
• Kỹ năng luật sư trong tố tụng hình sự (1)
• Kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại (1)
• Kỹ năng thẩm định kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (2)

• Luật Ngân hàng (14)
• Luật Ngân sách Nhà nước (6)
• Luật Người khuyết tật (4)
• Luật Nhà ở (9)
• Luật Phá sản (3)


• Luật Phòng chống mua bán người (1)
• Luật So sánh (19)
• Luật Sở hữu trí tuệ (11)
• Luật Tài chính (48)
• Luật Tài chính doanh nghiệp (3)
• Luật thi hành án dân sự (4)
• Luật Thuế (3)
• Luật Thương mại 1 (72)
• Luật Thương mại 2 (47)
• Luật Thương mại quốc tế (4)
• Luật Tố tụng Dân sự (63)
• Luật Tố tụng Hình sự (69)
• Luật Tố tụng Lao động (1)
• Luật Trách nhiệm bồi thường (1)
• Lý luận Nhà nước và pháp luật (64)
• Mỹ học (3)
• Nghe-luat-va-phuong-phap-hoc-luat (2)
• Nghiên cứu khoa học (1)
• Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin (28)
• Pháp luật bảo hiểm dân sự (1)
• Pháp luật bồi thường giải phóng mặt bằng (16)
• Pháp luật chống bán phá giá (1)
• Pháp luật cộng đồng ASEAN (37)

• Thủ tục đặc biệt trong Tố tụng Dân sự (2)
• Thủ tục đặc biệt trong Tố tụng Hình sự (9)
• Tiếng Anh (7)
• Tin tuc (26)
• Tòa án Hình sự quốc tế (1)
• Tổ chức và hoạt động Interpol (6)
• Tội phạm học (21)


• Tổng hợp bài tập (7)
• Tổng quan về kinh doanh quốc tế (5)
• Tư pháp quốc tế (55)
• Tư tưởng Hồ Chí Minh (25)
• Tư vấn hợp đồng lao động (4)
• Văn bản pháp luật (1)
• Vieclam (66)
• Việc làm thêm cho sinh viên (15)
• Xã hội học đại cương (10)
• Xã hội học pháp luật (10)
• Xây dựng văn bản pháp luật (38)

Bài đăng phổ biến


Bài tập học kỳ Lịch sử Nhà nước pháp luật Việt Nam - Đặc điểm của hình phạt
trong hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của các nhà nước phong kiến Việt Nam, pháp
luật luôn giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp các nh...



Đảng và nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Bài tập học kỳ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin. Việt Nam là
quốc gia có nhiều tôn giáo, có tôn giáo du nhập từ bên n...



Cafe Sữa Lúa 108B Vạn Phúc tuyển Nhân viên phục vụ bàn cafe
Việc làm thêm cho sinh viên Vị trí tuyển dụng: Nhân viên phục vụ bàn cafe Hình
thức làm việc: Bán thời gian cố định Mức lương: 1 -...



So sánh sự giống và khác nhau giữa cao trào cách mạng 1930 – 1931 và phong
trào dân chủ 1936 – 1939
Bài tập học kỳ Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam. Cách mạng tháng
Tám năm 1945 thắng lợi là một bước ngoặt lớn trong lịch sử ...



Câu hỏi và Đáp án ôn tập Luật Hành chính (Phần 2)
Câu 11: Bất cứ cá nhân nào đang ở trên lãnh thổ nước ChxhcnVN hay người ở
nước ngoài ,Không quốc tịch... đều là đối tượng của pháp luật x...



Phân tích những phẩm chất đạo đức cơ bản của người Việt Nam mới theo tư
tưởng Hồ Chí Minh - Bài tập học kỳ Tư tưởng Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về đạo đức và thực hành đạo đức. Ở
Người, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm,...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status