Lý luận biểu hiện của giá trị thặng dư và vấn đề hoàn thiện thể chế phân phối thu nhập ở việt nam hiện nay - Pdf 35

Đề 2: lý luận biểu hiện của giá trị thặng dư và vấn đề hoàn thiện
thể chế phân phối thu nhập ở Việt Nam hiện nay.

I – LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ:

1,Phạm trù giá trị thặng dư:
a. Chuyển hóa tiền tệ thành tư bản:

Tiền tệ là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hóa nhưng lại là điểm xuất phát đầu tiên của tư bản. Song bản thân
tiền không phải là tư bản và không phải lượng tiền nào cũng biên thành
tư bản, tiền chỉ biến thành tư bản khi được đưa vào lưu thông và vận
động theo quy công thức: T – H - T’.
Trong đó: T – Tư bản
H – Hàng hóa
T’ = T+∆T => ∆T – giá trị thặng dư
So với công thức lưu thông hàng hóa giản đơn H – T – H, thì 2 công
thức tuy có sự giống nhau về hình thức đó là đều do 2 giai đoạn đối lập
nhau là mua và bán hình thành thì căn bản chúng có những điểm khác
nhau về chất. Đó là sự khác nhau về điểm xuất phát, điểm kết thúc và
đặc biệt là mục đích của lưu thông hàng hóa.Do mục đích của lưu thông
hàng hóa giản đơn là giá trị sử dụng nên vòng lưu thông chấm dứt ở giai
1


đoạn hai, khi những người trao đổi đã có được giá trị sử dụng mà người
đó cần đến. Còn mục đích lưu thông tiền tệ với tư cách là tư bản không
phải là giá trị sử dụng, mà là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm.Vì vậy
nếu số tiền thu được bằng số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên
vô nghĩa. Do đó số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên công thức
vận động đầy đủ của tư bản là: T-H-T’, trong ®ã T’= T + ∆T.∆T là số

khác để sinh sống.
Là một loại hàng hóa, sức lao động có cả 2 thuộc tính là giá trị và giá
trị sử dụng. Đặc biệt ngoài yếu tố vật chất, nó còn có yếu tố tinh thần
lịch sử, dân tộc, yếu tố gia đình và truyền thống, nghề nghiệp mà hàng
hoá thông thường không có.
Giá trị hàng hóa sức lao động biểu hiện dưới hình thức tiền công còn
giá trị sử dụng được biểu hiện khi tiêu dùng. Khi đó giá trị của nó không
mất đi mà còn tạo ra 1 giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó. Chính đặc

3


tính này đã làm cho sự xuất hiện của háng hóa sức lao động trở thành
điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản.
c, Bản chất giá trị thặng dư:
Trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích, nó được sản xuất chỉ vì nó
là vật mang giá trị trao đổi.
Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao
đổi, nghĩa là một hàng hoá. Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một
hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị
sức lao động mà nhà tư bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra
một giá trị thặng dư.
Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá
trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.
C.Mác viết: “ Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và
quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất
hàng hoá; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá
trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư
bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”.


Giá trị do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra trong quá trình lao
động gọi là giá trị mới, phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động,
nó bằng giá trị sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư.
Ba là, ngày lao động của công nhân trong xí nghiệp tư bản được chia
thành hai phần:
Một phần gọi là thời gian lao động cần thiết: Trong thời gian này
người công nhân tạo ra được một lượng giá trị ngang bằng với giá trị sức
lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả cho mình (4 đôla).
Phần thời gian còn lại là thời gian lao động thặng dư: Trong thời gian
lao động thặng dư người công nhân lại tạo ra một lượng giá trị lớn hơn
giá trị sức lao động hay tiền lương nhà tư bản đã trả cho mình, đó là giá
trị thặng dư (4 đôla) và bộ phận này thuộc về nhà tư bản (nhà tư bản
chiếm đoạt).
Từ đó, Mác đi đến khái niệm về giá trị thặng dư:Giá trị thặng dư là
phần dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê
sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị
vượt khỏi điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân đã tạo ra một
lượng giá trị mới ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công
mà nhà tư bản đã trả cho họ. Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư là
sản xuất ra giá trị vượt khỏi giới hạn tại điểm đó giá trị sức lao động
được trả ngang giá.
6


2, Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, do vậy
mà các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng khối lượng giá trị
thặng dư. Những phương pháp cơ bản để sản xuất giá trị thặng dư là sản

bóc lột giá trị thặng dư tương đối.
b,Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối:
Bóc lột giá trị thặng dư tương đối được tiến hành bằng cách rút ngắn
thời gian lao động cần thiết để trên cơ sở đó kéo dài tương ứng thời gian
lao động thặng dư, trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
Giả sử ngày lao động 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất
yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư , trình độ bóc lột 100%.Giả
thiết rằng công nhân chỉ cần 2 giờ lao động đã tạo ra được một giá trị
bằng giá trị sức lao động của mình. Do đó mà tỷ lệ phân chia ngày lao
động thành thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động giá trị
thặng dư trong trường hợp đó cũng không thay đổi. Khi đó thời gian lao
động cần thiết là 2 giờ, thời gian lao động thặng dư là 6 giờ, trình độ bóc
lột của nhà tư bản lúc này là 300%(m’=300%).

8


Như vậy để có thể giảm thời gian lao động cần thiết để từ đó gia tăng
tương ứng phần thời gian lao động thặng dư thì các nhà tư bản cần tìm
mọi biện pháp để tăng năng suất lao động trong những nghành sản xuất
tư liệu sinh hoạt. Đồng thời nâng cao năng suất lao động xã hội trong
những nghành, những lĩnh vực sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng để nuôi
sống người công nhân.
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng
dư tuyệt đối chiếm ưu thế, thì đến giai đoạn sau khi mà kỹ thuật phát
triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối đã chiếm ưu thế. Hai phương
pháp trên đã được các nhà tư bản sư dụng kết hợp với nhau để nâng cao
trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong các giai đoạn phát triển của
chủ nghĩa tư bản.
II,Vấn đề hoàn thiện phân phối thu nhập ở Việt Nam hiện nay:

tiễn chúng ta càng nhận thức rõ rằng:“ Sản xuất hàng hóa không đối lập
với CNXH, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn
tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi
CNXH đã được xây dựng ” (2).
10


Trong “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”, C.Mác đã nhận định: xã hội trong
giai đoạn thấp của của chủ nghĩa cộng sản, hay còn gọi là CNXH, vừa
thoát thai từ xã hội TBCN, là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế,
đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó lọt
lòng ra” (3). V.I.Lênin cũng cho rằng: “chúng ta không thể hình dung một
thứ CNXH nào khác hơn là CNXH dựa trên tất cả những bài học mà nền
văn minh lớn của CNTB đã thu được” (4). Một khi xã hội XHCN còn
mang những dấu vết kinh tế của xã hội TBCN và kế thừa những thành
tựu của nền văn minh lớn mà CNTB đã thu được thì sự tồn tại sản xuất
và lưu thông hàng hóa là tất yếu. Trong xã hội này, mỗi người lao động
vẫn còn lệ thuộc vào sự phân công lao động xã hội, vẫn còn sự đối lập
giữa lao động chân tay và lao động động trí óc; lao động vẫn là phương
tiện để sinh sống chứ chưa trở thành nhu cầu bậc nhất của mỗi người,
sức sản xuất của xã hội chưa đạt đến mức của cải tuôn ra dào dạt để
phân phối theo nhu cầu, nên vẫn phải đi con đường vòng thực hiện phân
phối thông qua trao đổi hàng hóa.
Mặt khác, sản xuất và phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản
và trong chủ nghĩa xã hội hoàn toàn không giống nhau. Bởi vì “ bất kỳ
một sự phân phối nào về tư liệu tiêu dùng cũng chỉ là hậu quả của sự
phân phối chính ngay những điều kiện sản xuất; nhưng sự phân phối
những điều kiện sản xuất lại là một tính chất của chính ngay phương
thức sản xuất. Ví dụ, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên
tình hình là những điều kiện vật chất của sản xuất lại nằm ở trong tay


Hiện nay trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta
bên cạnh một bộ phận giàu lên chính đáng, đã và đang xuất hiện sự
phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa
các tầng lớp dân cư. Tuy vậy cho đến nay vẫn chưa có quan điểm nào
đúng đắn về tầm quan trọng của các hình thức phân phối ngoài hình thức
phân phối theo lao động. điều đó ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng sản
xuất.
một thực trạng nữa ở nước ta hiện nay là sự tồn tại biệt lập của các hình
thức phân phối thu nhập. trong nền sản xuất chủ yếu là phân phối theo
lao động, còn trong lĩnh vực xã hội hình thức phân phối chủ yêu đó là
phân phối thong qua phúc lợi tập thể, xã hội.tuy thế nhưng chúng vẫn
tọa thành 1 thể thống nhất, mỗi hình thức một lĩnh vực và chúng đều
phát huy hết tác dụng của mình.
Như vậy vấn đề phân phối thu nhập còn nhiều khiếm khuyết làm
kìm hãm sự phát triển kinh tế nước ta. Vấn đề đặt ra là cần làm sao để
phân phối thu nhập phải dựa theo nguyên tắc của kinh tế thị trường một
cách triệt để.

13


Chú thích:
(1). C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1993,
t.23, tr.234
(2). ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ VIII, Nxb CTQG, H, 1996,
tr97.
(3). Mác - Ăngnghen toàn tập, tập 19, Nxb CTQG, H, 1995, tr33.
(4). Lênin toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, tr334
(5). C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status