LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình khai thác than hiện nay, chuyên ngành khai thác hầm lò ngày
càng đóng một vai trò chủ đạo, trong ngành khai thác mỏ. Đứng trước những khó
khăn của ngành khai thác lộ thiên khi khai thác càng xuống sâu. Trong khi đó sản
lượng cần cung cấp cho các ngành : Điện, xi măng.v.v…và các ngành khác ngày
càng tăng.
Theo báo cáo tổng quan phát triển ngành than đến năm 2010 và dự báo đến
năm 2025 sản lượng than khai thác phục vụ cho các ngành Kinh tế là trên 30 triệu
tấn/năm.
Vì vậy đòi hỏi các kỹ thuật viên Ngành khai thác hầm lò phải có kiến thức,
biết vận dụng thành thạo các khoa học Công nghệ tiên tiến để đáp ứng được sản
lượng ngày càng tăng, giảm giá thành sản phẩm trong quá trình khai thác hầm lò.
Qua 5 năm theo học – Ngành khai thác mỏ ở trường Đại học Mỏ địa chất.
Em đã được trang bị những kiến thức lý thuyết cần thiết, kết hợp với kiến thức
ngoài thực tế sản xuất. Em được giao đề tài tốt nghiệp:
Phần chung: “ Thiết kế mở vỉa và khai thác khu mỏ than Thành Công,
công ty TNHHMTV than Hòn Gai từ mức +25 -:- -250 đảm bảo sản lượng mỏ
1,5 triệu tấn/năm”
Phần chuyên đề:“Lựa chọn công nghệ chống giữ hợp lý cho điều kiện vỉa
6”.
Trong quá trình làm chuyên đề tốt nghiệp em được sự hướng dẫn, giúp đỡ
tận tình của TS Vũ Trung Tiến và sự đóng góp của các bạn đồng nghiệp, của phòng
Kỹ thuật công nghệ, phòng TĐ - ĐC và các phòng ban khác của xí nghiệp than
Thành Công - Công ty TNHH MTV than Hòn Gai - Vinacomin . Nay em đã hoàn
thành chuyên đề. chắc chắn chuyên đề sẽ không tránh khỏi những hạn chế sai sót.
Em rất mong được sự góp ý chỉ bảo của các thầy trong khoa khai thác hầm lò và
của các bạn đồng nghiệp để chuyên đề được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
1
Đôi Cây (cách 3km), Cảng Suối Lại (cách 3km), cảng Tân Bình (cách 2km).
Nguồn năng lượng và nước sinh hoạt:
Nguồn năng lượng chính của mỏ được lấy từ trạm 110 KV của vùng đặt sát
ngay khu mỏ qua trạm 35 KV/6KV dẫn đến hộ tiêu thụ qua các máy biến áp.
Nước sinh hoạt được lấy từ nguồn nước sông Diễn Vọng qua hệ thống đường
ống sinh hoạt, nước công nghiệp được bơm từ suối Nam Hà Lầm về mỏ với cung
độ 4 Km.
I.1.2. Dân cư và văn hóa.
2
Thành phố Hạ Long là nơi tập trung dân cư khá đông của tỉnh Quảng Ninh.
Dân cư đa số là người Kinh, một số ít là người Sán Rìu, người Dao... Nghề nghiệp
chủ yếu là khai thác mỏ, kinh doanh, du lịch, một số ít là sản xuất nông - lâm - ngư
nghiệp.
Thành phố Hạ Long là một trung tâm văn hóa, thương mại lớn của tỉnh. Ở đây
có đầy đủ cơ sở giáo dục từ cấp tiểu học đến cấp trung học, thậm chí có cả một số
phân viện của các trường đại học, cao đẳng, ngoài ra còn có các trường đào tạo
công nhân kỹ thuật của các xí nghiệp, công ty đóng trên địa bàn. Trình độ văn hóa
giáo dục, ý thức giác ngộ cách mạng của giai cấp công nhân vùng mỏ rất cao.
I.1.3. Điều kiện khí hậu.
Khí hậu ở đây mang đặc tính khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm mùa mưa
thường từ tháng 4 đến tháng 9 mùa này thường nắng nóng mưa nhiều với các trận
mưa rào to. Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa này hanh khô có mưa
phùn gió rét.
Theo tài liệu đo mưa tại trạm Hòn Gai (sau là trạm Bãi Cháy) từ năm 1970 đến
1996 lượng mưa trong năm lớn nhất là 2915,4mm (năm 1973) lượng mưa nhỏ nhất
1160.5 mm(1997) lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2000mm, lượng mưa
cao nhất tập trung vào tháng 7 và tháng 8 hàng năm..
I.1.4. Lịch sử công tác thăm dò và khai thác khu mỏ.
trước đây, hiện nay và sau này:
÷
Vào những năm 1960 1988 công tác khai thác chủ yếu là khai thác thổ phỉ ở
phần lộ vỉa của các chủ tư nhân. Năm 1997 xí nghiệp than Thành Công được thành
lập và tiến hành khai thác lộ thiên vỉa 6 và khi hệ số bóc cao thì chuyển sang khai
thác lò bằng mức +40 đến lộ vỉa.
Mỏ Thành Công đang đẩy mạnh tốc độ đào lò chuẩn bị để mở diện mới cho
các vỉa 5 và vỉa 6 của các mức dưới, xác định lại điều kiện sản lượng của vỉa cũng
như điều kiện địa chất, cơ giới hoá khâu đào lò chuẩn bị và đang tiến hành thử
nghiệm áp dụng cơ giới hoá trong khâu chống giữ.
I.2.Điều kiện địa chất
I.2.1 Cấu tạo địa chất vùng mỏ
Địa tầng
Địa tầng khu mỏ Thành Công bao gồm chủ yếu các trầm tích điển hình của
tầng than (T3n-r hg ), với đặc thù cơ bản là tính chu kỳ rõ ràng, lặp đi lặp lại nhiều
lần. Các đá trầm tích của hệ tầng phân bố phổ biến toàn khu mỏ.
Tham gia địa tầng khu mỏ bao gồm các loại nham thạch:
- Cuội kết: Màu trắng đục đến xám sáng, cấu tạo dạng khối gồm chủ yếu là
các hạt thạch anh có độ mài tròn tốt, cỡ hạt 5-12mm, xi măng gắn kết là silic.
- Sạn kết: Màu xám sáng đến xám tối, cấu tạo khối rắn chắc, độ hạt từ 36mm, chiếm tỷ lệ khoảng 12 đến 14% trong địa tầng, chỉ duy trì trong diện nhỏ hẹp,
đá bị nứt nẻ tương đối mạnh, thường nằm ở giữa địa tầng các vỉa than. Thành phần
chủ yếu là các hạt thạch anh, được gắn kết bằng xi măng silic rất bền vững.
- Cát kết: Có màu xám sáng đến xám tro, cấu tạo từ vừa đến mỏng thành
phần chủ yếu là cát thạch anh từ thô đến mịn, xi măng gắn kết là sét và silic. Chiều
4
dày biến đổi từ 5 m đến 10m. Các lớp cát kết thường phân bố gần vách, trụ các vỉa
5
Đứt gãy thuận F.2: Phát triển theo phương gần Nam - Bắc, cắt đứt gãy thuận
Hòn Gai ở phía Nam và bị F.14 ở phía Bắc chặn lại, F.2 cắm về Đông, Đông Bắc
với góc dốc từ 70 -750, chiều dài đứt gẫy trên 3000,0m. Chiều rộng đới huỷ hoại
trên mặt từ 30m- 80m, biên độ đứt gẫy F.2 khoảng 90 m. Đứt gẫy F.2 được kế thừa
theo tài liệu “ Báo cáo địa chất kết quả thăm dò sơ bộ than khu mỏ Bình Minh thành
phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh”, năm 1997
I.2.2 Cấu tạo các vỉa than.
Đặc điểm các vỉa than (chỉ nêu các vỉa đưa vào diện khai thác):
* Vỉa 5: Chiều dày vỉa biến đổi từ 0,31m đến 33,2 m, trung bình 6,41 m. Góc
dốc vỉa thay đổi từ 5 đến 700. Vỉa có cấu tạo rất phức tạp, thường chứa từ 0 đến 10
lớp đá kẹp, chiều dày đá kẹp biến đổi từ 0,09 m đến 23,95 m, trung bình 1,66 m.
Chiều dày riêng than thay đổi từ 0,77m đến 23,95m, trung bình 5.43 m.. Vách, trụ
vỉa thường là cát kết, bột kết.
* Vỉa 6: Chiều dày vỉa biến đổi từ 0,47 m đến 30.43 m, trung bình 7,0 m.
Vỉa có góc dốc thay đổi từ 5 đến 42 0, trung bình 260. Vỉa có cấu tạo rất phức tạp,
thường chứa từ 1 đến 18 lớp đá kẹp, chiều dày đá kẹp biến đổi từ 0,09 m đến 9,63
m, trung bình 1,93 m. Chiều dày riêng than thay đổi từ 0,47m đến 20,80m, trung
bình 6,53 m. Vách vỉa thường là cát kết, bột kết, trụ vỉa là đá bột kết hạt thô hay cát
kết hạt nhỏ.
* Vỉa 7: Chiều dày biến đổi từ 0,64 m đến 32,94 m, trung bình 3,59 m. Góc
dốc vỉa thay đổi từ 5 đến 700. Vỉa có cấu tạo rất phức tạp, thường chứa từ 1 đến 15
lớp đá kẹp, chiều dày đá kẹp biến đổi từ 0,10 m đến 4,75 m, trung bình 0,93 m.
Chiều dày riêng than thay đổi từ 0,64m đến 13,45m, trung bình 2,81 m.. Vách vỉa
thường là sạn kết, bột kết, trụ vỉa là đá bột kết.
* Vỉa 8: Chiều dày biến đổi từ 0,60 m đến 31,27 m, trung bình 4,73 m. Vỉa
có góc dốc thay đổi từ 5 đến 60 0. Vỉa có cấu tạo rất phức tạp, thường chứa từ 0 đến
6,41
6,53
3,59
4,73
trung bình
(độ)
26
26
25
22
kẹp
tạo
0-10
1-18
1-15
0-15
rất phức tạp
rất phức tạp
rất phức tạp
rất phức tạp
I.2.3. Phẩm chất than
Đặc tính vật lý của than:
Than khu mỏ có 2 dạng cơ bản sau:
Dạng than cám: có mầu đen xỉn, ánh mờ, không rắn chắc, dễ bở rời, tơi xốp.
Hệ thống nước trên mặt:
Trong khu mỏ có thể phân ra làm các hệ thống suối chính sau:
Hệ thống suối phía Bắc và Đông Bắc, gồm nhiều suối nhỏ chảy vào thung lũng
Cái Đá đổ ra sông Diễn Vọng, các suối này phần thượng nguồn rộng từ 1 đến 2 mét, hạ
nguồn rộng đến 5 mét lòng suối gồ gề có nhiều đá lăn. Theo báo cáo Tây Bắc Hà Lầm
năm 1975 tài liệu quan trắc tại trạm 7 ở suối cho thấy lưu lượng nhỏ nhất về mùa khô
là 0,261 l/s về mùa mưa lưu lượng lên tới 139,5 l/s.
Hệ thống các suối phần trung tâm và phía Đông Nam khu mỏ có các suối nhỏ
phía cao đổ vào suôí lớn Hà Lầm và đổ ra sông Diễn Vọng ở phía Tây. Lưu lượng
các suối này phụ thuộc chủ yếu vào nước mưa, mùa khô thì rất nhỏ có khi khô ở
thượng nguồn, song mùa mưa lại tăng lên đột ngột. Tài liệu quan trắc tại trạm 6 suối
nhỏ Hà Lầm cho thấy hệ số biến đổi lưu lượng giữa mùa mưa và mùa khô là
32,1lần.
Qua phân tích một số mẫu nước lấy ở suối (trạm quan trắc) nước thường
không mầu, không mùi, không vị, độ pH từ 5,3 đến 5,6; tổng khoáng hoá M từ 0,04
đến 0,05 g/l, nước thuộc loại sunfat - clonatri - canxi; nước rất cặn ( Tổng lượng cặn
H = 16,8 g/m3) nước có tính ăn mòn a xít ( hệ số ăn mòn K>0, nước không sủi bọt
hệ số sủi bọt F < 60).
Hệ thống nước ngầm:
Dựa vào đặc điểm địa chất, địa chất thuỷ văn có thể phân ra các phân vị địa
tầng địa chất thuỷ văn có mặt trong khu thăm dò như sau:
Nước trong trầm tích đệ tứ (Q):
Phân bố chủ yếu ở các thung lũng suối, nằm ở sườn Tây Bắc và Bắc khu mỏ.
Thành phần chủ yếu là cuội, sỏi, cát lẫn sét, mùn thực vật và đá thải do quá trình
khai thác lộ thiên đổ ra.
Chiều dầy lớp trầm tích đệ tứ mỏng, đây là tầng chứa nước không áp, nguồn
cung chủ yếu là nước mưa, miền thoát chủ yếu là mương rãnh và khe suối cắt qua
phức hệ này. Nước trong tầng ít ảnh hưởng đến việc khai thác hầm lò.
Nước trong trầm tích phụ điệp Hòn Gai T3(n-r)hg2:
Các trầm tích phụ điệp Hòn Gai giữa phân bố hầu hết diện tích thăm dò, diện
Phía Đông: Đường biên giới qua các mốc: BM6, MB7, BM8, BM9,
BM10, BM11
Phía Tây: Đường biên giới qua các mốc: BM2, BM3
Chiều sâu tính trữ lượng từ lộ vỉa đến -250
Đối tượng tính trữ lượng: vỉa than 5, 6, 7, 8 thuộc khu Đông Bình Minh
Kết quả tính trữ lượng được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.02. Tính toán trữ lượng cho vỉa 5, 6, 7 và 8 (đơn vị: nghìn tấn):
Tên vỉa
9
Trữ lượng
Via 5
28 811
Via 6
23 970
Via 7
4 508
Via 8
7 604
10
Mở vỉa là việc đào các đường lò từ ngoài mặt địa hình vào đến vị trí khoáng
sản có ích để từ đó mở các đường lò chuẩn bị cho việc khai thác. Việc lựa chọn
phương pháp mở vỉa hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong suốt quá trình tồn tại
và phát triển của mỏ, nó quyết định thời gian, quy mô vốn đầu tư xây dựng cơ bản,
công nghệ khai thác, mức độ cơ giới hoá v.v.., nó ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế,
năng suất lao động và giá thành sản phẩm.
II.1. Giới hạn khu vực thiết kế.
II.1.1. Biên giới khu vực thiết kế.
Khu vực thiết kế nằm trong giới hạn toạ độ:
÷
X = 19.000 22.400
÷
Y = 406.600 408.000
Biên giới trên mặt:
Phía Bắc: Đường biên giới qua các mốc: BM3. BM4, BM5, BM6
Phía Nam: Đường biên giới qua các mốc: BM2, MB12, BM11
Phía Đông: Đường biên giới qua các mốc: BM6, MB7, BM8, BM9,
BM10, BM11
Phía Tây: Đường biên giới qua các mốc: BM2, BM3
II.1.2. Kích thước khu vực thiết kế.
Chiều dài theo phương Bắc Nam trung bình là 2,6km
Chiều dài từ Đông sang Tây là 1,2km.
Chiều sâu khai thác từ lộ vỉa xuống mức -250
ZCN = 0.75 x ZCĐ
ZCN = 48670 x 103 tấn.
II.3. Sản lượng và tuổi mỏ.
II.3.1. Sản lượng của mỏ.
Để xác định sản lượng của mỏ thì có nhiều phương pháp. Có thể do Tổng
công ty giao xuống hoặc do mỏ tự xây dựng dựa trên các điều kiện cụ thể của khu
vực.
Với điều kiện khu vực thiết kế, và với nhu cầu xã hội do vậy đồ án xin chọn
công suất mỏ là 1.500.000 tấn/năm.
Am = 1.500.000 tấn/năm.
II.3.2. Tuổi mỏ.
Tuổi mỏ bao gồm thời gian xây dựng cơ bản, thời gian khai thác và thời gian
khấu vét tận thu:
Z CN
Am
Tm =
+ t1 + t2 năm.
Trong đó:
ZCN - Trữ lượng công nghiệp của khu vực, ZCN =48670 .103 t.
Am - Sản lượng của mỏ. Am = 1.500.000 t/năm
t1 - Thời gian xây dựng cơ bản, t1 = 2.5 năm.
t2 - Thời gian kết thúc tận thu, t2 = 2 năm.
≈
Tm 37 năm.
II.4. Chế độ làm việc của mỏ.
Chế độ làm việc của mỏ có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của
mỏ. Nó quyết định đến năng suất lao động, đời sống văn hoá tinh thần của cán bộ
Bảng 2.01. Lịch đảo ca:
Tổ
Tuần 1
Ca1 Ca2
X
X
Ca3
CN
Tuần 2
Ca1 Ca2
CN
Ca3
X
1
2
Nghỉ X
Nghỉ
3
X
X
Các bộ phận ở những vị trí đặc biệt, làm những công việc đặc biệt như trạm
quạt, trạm truyền thanh, bảo vệ... thì những ngày lễ tết, chủ nhật vẫn không được
nghỉ mà phải có sự sắp xếp nghỉ luân phiên nhau.
II.5. Phân chia ruộng mỏ.
Các khu của mỗi mức được liên kết với nhau bằng đường lò vận chuyển chính
để vận chuyển than từ các khu về giếng chính của mỏ. Chiều dài mỗi khối theo
phương từ 4÷6km và chiều dài theo độ dốc 1÷3km.
II.5.4. Chia ruộng mỏ thành tầng.
Tầng là một phần của ruộng mỏ phía trên được giới hạn bởi lò thông gió, phía
dưới là lò vận chuyển và theo phương là giới hạn của ruộng mỏ. Lò vận chuyển
dùng để chở than ra ngoài và đưa gió sạch vào, lò thông gió dùng để đưa gió bẩn ra
ngoài.
Theo đề tài thiết kế từ mức +25 đến -250, các vỉa than thuộc loại dốc nghiêng.
Trong giới hạn mỏ không có các đứt gãy lớn gây ảnh hưởng đến khai thác. Do đó ta
tiến hành phân chia ruộng mỏ thành nhiều tầng khai thác:
÷
Tầng 1: Từ lộ vỉa +0 -50
÷
Tầng 2: Từ -50 -100
÷
Tầng 3: Từ -100 -150
÷
Tầng 4: Từ -150 -200
14
÷
Tầng 5: Từ -200 -250
II.6. Mở vỉa.
phương án mở vỉa được cho là tối ưu nhất:
1/ Mở vỉa bằng giếng nghiêng kết hợp với lò xuyên vỉa tầng.
15
2/ Mở vỉa bằng giếng đứng kết hợp với lò xuyên vỉa tầng.
II.6.3. Trình bày các phương án mở vỉa:
II.6.3.2. Phương án I: “Mở vỉa bằng giếng nghiêng kết hợp với lò xuyên vỉa tầng.”
a. Sơ đồ mở vỉa và bình đồ mở vỉa:
Hình2.01: Sơ đồ mở vỉa
Hình2.02: Bình đồ mở vỉa (a4)
b. Trình tự tiến hành mở vỉa:
Từ mặt bằng sân công nghiệp mức +25 ta tiến hành đào cặp giếng nghiêng
chính, phụ xuống mức -50. Tại đây đào hệ thống đường lò sân ga mức -50 và các
hầm trạm, lò chứa nước...
Để chuẩn bị cho tầng thứ nhất, từ mức +0 tiến hành đào lò xuyên vỉa thông gió
đến gặp các vỉa than; từ sân giếng mức -50 ta đào lò xuyên vỉa vận tải tới gặp các
vỉa than 5, 6, 7, 8. Sau đó tiến hành đào các đường lò dọc vỉa vận tải về hai cánh
của khu khai thác. Từ lò xuyên vỉa thông gió tiến hành đào các lò dọc vỉa thông gió
về hai cánh của vỉa than.Sau đó ta đào lò thượng khởi điểm nối thông lò dọc vỉa vận
tải với dọc vỉa thông gió để tạo lò cắt ban đầu.
÷
Trong quá trình khai thác tầng thứ nhất (+0 -50), ta tiến hành đào sâu thêm
giếng tới mức -100. Tại đây ta đào hệ thống đường lò sân ga mức -100 và các hầm
trạm, lò chứa nước,...
÷
Việc chuẩn bị cho tầng thứ 2 (-50 -100) tiến hành tương tự tầng 1. Với các
đường lò xuyên vỉa, dọc vỉa vận tải được giữ lại phục vụ cho việc đi lại, vận chuyển
bơm ở sân ga rồi được bơm hút ra ngoài.
Bảng 2.02: Bảng liệt kê khối lượng các công trình mở vỉa của phương án I:
STT
Tên đường lò
Dạng vì chống
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Giếng nghiêng chính
Giếng nghiêng phụ
Lò xv mức +0
Lò xv mức -50
Lò xv mức -100
Lò xv mức -150
Lò xv mức -200
Lò xv mức -250
Sân giếng
Bê tông cốt thép
Bê tông cốt thép
Từ mặt bằng sân công nghiệp mức +25 ta tiến hành đào cặp giếng đứng chính,
phụ xuống mức -50. Tại đây đào hệ thống đường lò sân ga mức -50 và các hầm trạm,
lò chứa nước...
Để chuẩn bị cho tầng thứ nhất, từ mức +0 tiến hành đào lò xuyên vỉa thông gió
5 đến gặp các vỉa than; từ sân giếng mức -50 ta đào lò xuyên vỉa vận tải 4 tới gặp
các vỉa than . Sau đó tiến hành đào các đường lò dọc vỉa vận tải về hai cánh của khu
khai thác. Từ xuyên vỉa thông gió 5 tiến hành đào các dọc vỉa thông gió về biên giới
của mỏ. Sau đó ta đào lò thượng nối thông lò dọc vỉa vận tải với dọc vỉa thông gió
tạo lò cắt ban đầu.
÷
Trong quá trình khai thác tầng thứ nhất (+0 -50), ta tiến hành đào sâu thêm
giếng tới mức -100 Tại đây ta đào hệ thống đường lò sân ga mức -100 và các hầm
trạm, lò chứa nước
÷
Việc chuẩn bị cho tầng thứ 2 (-50 -100) tiến hành tương tự tầng 1.Các lò
xuyên vỉa vận tải và dọc vỉa vận tải của tầng 1 được giữ lại phục vụ cho tầng thứ 2.
Việc chuẩn bị cho các tầng tiếp theo tiến hành tương tự.
Mỗi giếng có chiều dài 280m. Giếng chính và giếng phụ có toạ độ: giếng
chính (21.870, 407698, +25); giếng phụ (21827, 407647, +25).
c. Công tác vận tải:
-Than khai thác từ gương lò chợ của theo máng cào được đưa xuống lò dọc vỉa
vận tải của tầng rồi chuyển về xuyên vỉa vận tải 4. Sau đó theo lò xuyên vỉa này
chuyển tới bun ke chứa than ở sân ga và trục lên mặt bằng qua giếng chính.
- Vật liệu được đưa qua giếng đứng phụ vào lò xuyên vỉa thông gió qua dọc
vỉa thông gió và được đưa xuống lò chợ.
Công tác vận tải ở các tầng dưới tiến hành tương tự tầng trên.
d. Công tác thông gió:
Chọn phương pháp thông gió cho mỏ là phương pháp thông gió hút. Quạt gió
Giếng đứng chính
Giếng đứng phụ
Lò xv mức +0
Lò xv mức -50
Lò xv mức -100
Lò xv mức -150
Lò xv mức -200
Lò xv mức -250
Sân giếng
Bê tông cốt thép
Bê tông cốt thép
Thép
Thép
Thép
Thép
Thép
Thép
Thép
Khối lượng
(m)
285
285
972
1020
985
1018
986
Phức tạp
Nhỏ
Lớn
Khả năng thi công hiện
nay
Công trình trên bề mặt
Đơn giản
Lớn
Nhỏ
Thời gian đưa vào thi Nhanh
19
Chậm
công
Mỗi phương án nêu trên đều có ưu nhược điểm nhất định, trong điều kiện kỹ
thuật mỏ hiện tại của nước ta, việc thi công giếng đứng chưa có nhiều kinh nghiệm.
Mặt khác với độ sâu khai thác chưa lớn, việc mở vỉa bằng giếng nghiêng có nhiều
ưu điểm hơn, nhất là về việc giải quyết vận tải liên tục bằng băng tải. Do vậy để
chọn phương án tối ưu về mặt kĩ thuật ta chọn phương án I. Tuy nhiên để có thể
chọn được một phương án mở vỉa hợp lý, ta còn phải xem xét ưu thế về phương
diện kinh tế.
II.6.5. So sánh kinh tế các phương án mở vỉa.
So sánh các phương án về mặt kinh tế mục đích là xem phương án nào tối ưu
nhất về mặt kinh tế dựa vào việc hạch toán các chi phí xây dựng cơ bản và chi phí
sản xuất kinh doanh. Các phương án được coi là tương đương nhau về mặt kinh tế
200 triệu đ/m 178000
2
Giếng nghiêng phụ
650 m
200 triệu đ/m 130000
20
3
Lò xuyên vỉa
4280 m
20 triệu đ/m
85600
4
Sân giếng
70 m
10 triệu đ/m
700
6
Tổng
394300
Phương án II: Mở vỉa bằng giếng đứng kết hợp với lò xuyên vỉa tầng
1
Giếng đứng chính
285 m
600 triệu đ/m 171000
2
Giếng đứng phụ
285 m
600triệu đ/m
chính
mức 0 đến-50
mức -50 đến-100
mức -100 đến -150
mức -150 đến -200
mức -200 đến -250
Giếng nghiêng phụ
mức 0 đến-50
mức-50 đến-100
mức -100 đến -150
mức -150 đến -200
mức -200 đến -250
Sân giếng
mức 0
mức -50
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
21
118.548
79.032
39.516
130
130
130
130
130
37
29.6
22.2
14.8
7.4
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
144.3
115.44
86.58
57.72
28.86
70
70
mức -150
mức -200
mức -250
Tổng cộng
17
18
19
20
21
22
23
70
70
70
70
14.8
14.8
14.8
7.4
0.04
0.04
0.04
0.04
41.44
41.44
20.72
Bảng 2.07. Chi phí bảo vệ tính cho phương án II
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
22
(m)
Thời gian
(năm)
Đơn giá
(trđ/m/năm
)
Thành tiền
(tr đồng)
77
52
52
52
52
37
29.6
22.2
14.8
7.4
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
70
70
70
70
70
70
7.4
14.8
14.8
14.8
14.8
7.4
0.04
0.04
0.04
0.04
0.04
0.04
20.72
41.44
41.44
972
1020
985
1018
986
Tổng cộng
3551.556
II.6.5.3.Chi phí vận tải:
Chi phí vận tải được xác định theo công thức: Cvt = Tv . Lv . Qv . Kv.
Trong đó:
Tv – Thời gian hoạt động của tuyến vận tải, năm.
Lv - Chiều dài tuyến đường vận tải, km.
Qv = 1.500.000 tấn/năm - Khối lượng vận tải.
Kv - Đơn giá vận tải, nghìn đ/tấn-km.
Chi phí vận tải tính toán cho các phương án mở vỉa được thể hiện trong bảng
2.08.
Bảng 2.08: Bảng chi phí vận tải theo phương án I
Thành
Khối Thời
Khối
Đơn giá
tiền
STT
Tên đường lò lượn gian
lượng VT
(đồng/tấn(tr
g
(năm
(tr.T/năm
km)
đồng)
(km)
)
32794
5
Bảng 2.09: Bảng chi phí vận tải theo phương án II
Tên
lò
STT
đường Khối
lượng
(km)
Thời
Đơn giá
gian
(đồng/tấn(nă
km)
m)
1
Giếng đứng
chính
0.285
37
2
23
Thành
tiền
(tr
đồng)
94905
249102
344007
Thành
tiền106
1
Tàu điện cần vẹt 14KP
Cái
4
180
720
2
Băng tải giếng chính AY-120
1030
5
Máng cào ma sát-80
bộ
10
120
1200
6
Goòng
Cái
8
12
96
7
Băng tải lò xuyên vỉa
Cái
3
1.098
Thành
tiền
(106 đ)
3.294
2
Thùng Skíp 4 m3
Cái
6
150
900
3
Máy trục giếng phụ
Cái
6
Goòng
Cái
8
12
96
7
Ròng rọc tháp giếng
Cái
6
26
156
8
Quạt gió chính VOKD2.4
Cái
11
Tổng
TT
Tên thiết bị
Đơn vị
Số lượng
Đơn giá
(106 đ)
3260.754
II.6.6. Kết luận.
Việc so sánh kinh tế giữa 2 phương án mở vỉa được thể hiện trong bảng 2.09.
Bảng 2.12. Phân tích và so sánh kinh tế giữa các phương án mở vỉa:
STT
24
Chỉ tiêu so sánh
Phương án I
Phương án II
3260,754.106
729248,7. 106
812159,3.106
5
Qua phân tích ưu, nhược điểm của 2 phương án mở vỉa nêu trên về mặt kỹ
thuật cũng như so sánh về phương diện kinh tế, đồ án quyết định chọn phương án
mở vỉa khu Đông Bình Minh - XN than Thành Công là: “Mở vỉa bằng giếng
nghiêng kết hợp lò xuyên vỉa tầng”.
II.7 Thiết kế thi công đào lò mở vỉa
Do giới hạn của đồ án tốt nghiệp nên trong bản đồ án này chỉ thiết kế thi công
cho một đường lò mở vỉa đặc trưng đó là lò xuyên vỉa mức -50.
II.7.1. Chọn hình dạng tiết diện lò và vật liệu chống lò
Căn cứ vào các yêu cầu: Sản lượng than qua lò xuyên vỉa là 1.500.000 tấn/năm.
Mỏ xếp loại I về khí bụi nổ (theo quyết định số 1338/QĐ - BCT, ban hành ngày 17
tháng 3 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Công Thương).
Phương tiện vận tải sử dụng trong lò xuyên vỉa là băng tải và goòng. Thời gian
tồn tại của lò xuyên vỉa lớn nhất là 8 năm. Ta lựa chọn hình dạng của lò xuyên vỉa
có dạng hình vòm tường thẳng một tâm điểm. Vật liệu chống lò là thép số hiệu SVP
-27, sử dụng tấm chèn bằng bê tông cốt thép hoặc bằng gỗ với chiều dày tấm chèn
là 50 mm
II.7.2. Xác định kích thước tiết diện lò
Do giới hạn của đồ án tốt nghiệp nên trong bản đồ án này chỉ thiết kế thi công
cho 1 đường lò mở vỉa đặc trưng đó là đường lò xuyên vỉa vận tải mức +50.
*. Chọn hình dạng tiết diện lò và vật liệu chống lò
Căn cứ vào đặc điểm địa chất và hình thức vận tải cũng như phương án mở vỉa đã
nêu trên. Đồ án chọn hình dạng đường lò là hình vòm tường đứng 1 tâm điểm. Vật